Biện pháp Khai thác, sử dụng kênh hình hiệu quả để mang lại giờ học thú vị cho môn Ngữ văn

doc18 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 11/02/2026 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung Biện pháp Khai thác, sử dụng kênh hình hiệu quả để mang lại giờ học thú vị cho môn Ngữ văn, để tải tài liệu về máy bạn hãy click vào nút TẢI VỀ
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ
 TRƯỜNG THCS ĐỒNG LẠC
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI 
GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2022 - 2024
 BIỆN PHÁP
 KHAI THÁC, SỬ DỤNG KÊNH HÌNH HIỆU QUẢ 
 ĐỂ MANG LẠI GIỜ HỌC THÚ VỊ CHO MÔN NGỮ VĂN
 Giáo viên thực hiện: Mai Hương Huế
 Môn giảng dạy: Ngữ văn
 Trình độ chuyên môn:Đại học Ngữ văn
 Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
 Đơn vị công tác: Trường THCS Đồng Lạc
 Đồng Lạc, ngày 21 tháng 04 năm 2023
 MỤC LỤC NỘI DUNG Trang
 A. PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ
 I. Lí do chọn giải pháp 3
 II. Mục tiêu, nhiệm vụ của giải pháp 4
 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5
 I. Thực trạng dạy học môn Ngữ văn ở đơn vị trường THCS Đồng 
 5
Lạc
 II. Các biện pháp khai thác kênh hình hiệu quả trong dạy học môn 
 6
Ngữ văn
 1. Biện pháp 1: Các biện pháp khai thác kênh hình hiệu quả 6
2. Các biện pháp sử dụng kênh hình hiệu quả 12
3. Biện pháp 3: vận dụng vào bài dạy 15
C. MINH CHỨNG KẾT QUẢ CỦA BIỆN PHÁP 21
D. CAM KẾT 24
 BIỆN PHÁP
 “KHAI THÁC, SỬ DỤNG KÊNH HÌNH HIỆU QUẢ 
 2 ĐỂ MANG LẠI GIỜ HỌC NGỮ VĂN THÚ VỊ”
 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ 
I. LÍ DO CHỌN BIỆN PHÁP
1. Cơ sở lí luận
 Tôi rất tâm đắc với một câu nói về giáo dục của Albert Eilstein: “ Nghệ 
thuật tối thượng của người thầy là đánh thức niềm vui trong sự diễn đạt và tri 
thức sáng tạo”.
Trong thời đại 4.0, công nghệ thông tin (CNTT) đã trở thành một phần thiết 
yếu của cuộc sống. Nó có thể được ứng dụng vào hầu hết các lĩnh vực, mang 
đến nhiều lợi ích quan trọng. CNTT giúp con người làm việc dễ dàng hơn và 
nhanh chóng đạt được mục đích như mong muốn. Thấu hiểu vai trò quan trọng 
và tính thiết thực của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, Bộ Giáo Dục và 
Đào Tạo luôn khuyến khích và đưa ra nhiều đề án để đẩy mạnh công tác này. 
Khi bàn về vấn đề này, PGS.TS. Đỗ Ngọc Thống khẳng định: “ Đã đến lúc nếu 
không nói là đã quá muộn, cần nghiên cứu và triển khai việc ứng dụng công 
nghệ thông tin vào dạy học ở bộ môn Ngữ văn một cách rộng rãi, đúng hướng 
và có hiệu quả ”. Thật vậy, Ngữ văn là một môn học có vai trò quan trọng trong 
việc trau dồi tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Thông qua bộ môn cùng với sự 
truyền thụ của người thầy, các em sẽ lĩnh hội được nhiều cái hay, cái đẹp ở mỗi 
bài học. Để học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp ấy thì người Giáo viên phải 
lựa chọn cho mình một cách truyền thụ sao cho có hiệu quả nhất. Một trong 
những lựa chọn đó chính là ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy bằng 
biện pháp khai thác, sử dụng kênh hình. 
 Bên cạnh đó, với mục tiêu, yêu cầu của phương pháp giáo dục phổ thông là 
hình thành và phát triển phẩm chất năng lực, phát huy được tính tích cực, chủ 
động của người học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng 
vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho 
học sinh. Đây là định hướng cơ bản, thiết thực đối với mỗi Giáo viên, cũng là 
yếu tố quyết định hiệu quả của một giờ dạy.
2. Cơ sở thực tiễn
 - Với xu thế hiện nay, sử dụng đồ dùng trực quan cũng như ứng dụng 
công nghệ vào dạy học Ngữ văn đã tạo nhiều hứng thú, những chuyển biến tích 
cực. Trong nhiều tiết học, kênh hình đã được thầy cô chú ý sử dụng. Giờ học trở 
nên sinh động hơn bởi ngoài hiệu ứng của các con chữ, còn xuất hiện các hình 
ảnh, trình chiếu các đoạn phim thật hay, thật đẹp. Quả thật, cũng trong dung 
lượng thời gian như thế, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh nhiều 
kiến thức hơn so với cách học truyền thống, với bảng và phấn hay chỉ hình ảnh 
minh họa trong Sách giáo khoa sẵn có.
 - Bên cạnh kênh chữ, kênh hình cũng có nhiều thay đổi với sự đa dạng 
của các tranh ảnh minh họa phù hợp với nội dung bài học, có giá trị nghệ thuật, 
 3 góp phần tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với học sinh. Thông qua kênh hình, học 
sinh có thể nhận biết thấu đáo hơn về nội dung, kiến thức của bài học. Và cũng 
thông qua những hiểu biết về nội dung, kiến thức bài học, các em có thể sáng tạo 
ra các kênh hình đẹp, hay, ý nghĩa. Do đó, việc sử dụng tranh ảnh, video, âm 
thanh, tư liệu là việc làm cần thiết trong dạy học nhất là với bối cảnh hiện nay 
khi tất cả chúng ta đang đứng trước sự bùng nổ về CNTT, mạng internet và diễn 
biến phức tạp của dịch bệnh làm cho hình thức học tập cũng phải linh hoạt 
chuyển đổi từ trực tiếp sang trực tuyến là thách thức lớn đối với cả thầy và trò. 
Bởi vậy, làm thế nào để mang lại cho học sinh những giờ học thú vị, để các em 
chủ động, tích cực đồng hành cùng thầy cô trong bối cảnh học online như vậy là 
một câu hỏi trăn trở trong suy nghĩ của tôi.
 Chính vì thế, tôi lựa chon đề tài nghiên cứu “ Khai thác, sử dụng kênh hình 
hiệu quả để mang lại giờ học thú vị”.
II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA GIẢI PHÁP
1. Mục tiêu
 Trong thời gian và phạm vi giới hạn, tôi mong muốn giải pháp sẽ phần 
nào làm rõ được phương pháp, cách thức khai thác, sử dụng kênh hình (tranh, 
ảnh, video...) trong quá trình giảng dạy chương trình bộ môn Ngữ văn THCS, 
nhằm góp phần tổ chức giờ dạy văn thật sự là thú vị, có kết quả tích cực, tạo 
hứng thú học tập cho học sinh, phá vỡ sự nhàm chán của cả người dạy và người 
học. Đặc biệt, tạo hứng thú và nâng cao hiệu quả bài dạy trong những tiết học 
trực tuyến (do ảnh hưởng của dịch Covid 19). Qua đó góp phần nâng cao chất 
lượng bộ môn cũng như hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất học 
sinh theo hướng dạy học tích cực.
2. Nhiệm vụ
 - Nghiên cứu về thực tế, thực trạng sử dụng kênh hình trong các bài dạy 
môn Ngữ văn THCS. 
 - Lắng nghe thấu đáo tâm tư tình cảm, thái độ và kết quả học tập của học 
sinh trong quá trình sử dụng kênh hình.
 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 
I. Thực trạng công tác dạy và học môn Ngữ văn ở đơn vị trường THCS 
Đồng Lạc.
1. Ưu điểm:
 - Với xu thế hiện nay, sử dụng đồ dùng trực quan cũng như ứng dụng 
công nghệ vào dạy học Ngữ văn đã tạo nhiều hứng thú, những chuyển biến tích 
cực. Trong nhiều tiết học, kênh hình đã được thầy cô chú ý sử dụng. Giờ học trở 
nên sinh động hơn bởi ngoài hiệu ứng của các con chữ, còn xuất hiện các hình 
ảnh, trình chiếu các đoạn phim thật hay, thật đẹp. Quả thật, cũng trong dung 
lượng thời gian như thế, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh nhiều 
 4 kiến thức hơn so với cách học truyền thống, với bảng và phấn hay chỉ hình ảnh 
minh họa trong Sách giáo khoa sẵn có.
 - Bên cạnh kênh chữ, kênh hình cũng có nhiều thay đổi với sự đa dạng 
của các tranh ảnh minh họa phù hợp với nội dung bài học, có giá trị nghệ thuật, 
góp phần tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với học sinh. Thông qua kênh hình, học 
sinh có thể nhận biết thấu đáo hơn về nội dung, kiến thức của bài học. Và cũng 
thông qua những hiểu biết về nội dung, kiến thức bài học, các em có thể sáng tạo 
ra các kênh hình đẹp, hay, ý nghĩa. Do đó, việc sử dụng tranh ảnh, video, âm 
thanh, tư liệu là việc làm cần thiết trong dạy học nhất là với bối cảnh hiện nay 
khi tất cả chúng ta đang đứng trước sự bùng nổ về CNTT, mạng internet và diễn 
biến phức tạp của dịch bệnh làm cho hình thức học tập cũng phải linh hoạt 
chuyển đổi từ trực tiếp sang trực tuyến là thách thức lớn đối với cả thầy và trò.
2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế:
2.1. Giáo viên:
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên đã ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, việc ứng 
dụng còn mang tính chất lối mòn, xáo rỗng. Giáo viên chủ yếu sử dụng các kênh 
chữ và chưa khai thác các kênh hình. Có ra cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ sử 
dụng các kênh hình quen thuộc, sơ sài, nhàm chán của chính mình lựa chọn và 
chỉ quan tâm đến việc trình chiếu. Còn học sinh thì quan tâm đến việc ghi chép 
bài nên thiếu đi sự tương tác lẫn nhau. Học sinh không có hứng thú, niềm đam 
mê với tiết học ngữ văn, dẫn đến việc học tập không hiệu quả 
2.2. Học sinh:
- Hiện nay một số học sinh tiếp thu kiến thức một cách rất thụ động, thiếu hứng 
thú, chỉ học theo hình thức đọc thuộc để đối phó nên không phát huy được tính 
sáng tạo cũng như chủ động trong việc tìm tòi, khám phá kiến thức. Học sinh 
không hình thành thói quen tự học: không chủ động tìm kiếm kiến thức, không 
nắm được đâu là kiến thức trọng tâm, không phân biệt được đâu là vấn đề chính 
và phụ, không phát triển từ cái đã biết để tìm ra câu trả lời cho cái chưa biết,...
- Một bộ phận không nhỏ học sinh ngày càng có xu hướng không thích học văn 
vì cho rằng đây là môn học thuộc, dài, chẳng có gì để tư duy. 
- Một bộ phận còn lại thì các em học theo kiểu hàn lâm, không tích cực, không 
chủ động trong học tập. 
=> Từ đó dẫn đến kết quả học tập không cao và giờ học của cả cô và trò đều trở 
thành gánh nặng.
II. Các biện pháp khai thác kênh hình hiệu quả trong dạy học môn Ngữ 
văn.
 1. Biện pháp 1: Các biện pháp khai thác kênh hình hiệu quả:
 1.1. Giáo viên thay đổi tư duy trong cách khai thác kênh hình
 Có thể nói rằng: một giờ dạy Ngữ văn hiện nay, ngoài năng lực chuyên 
môn của Giáo viên, muốn giờ lên lớp đạt hiệu quả cao, không thể không nói tới 
 5 một yếu tố quan trọng nữa là việc sử dụng kênh hình trong hệ thống đồ dùng dạy 
học. Ngay cả trong quá trình biên soạn Sách giáo khoa lần này, các tác giả đã rất 
chú trọng đưa kênh hình vào các văn bản nhằm minh họa, hỗ trợ cho bài học. 
Song song với hệ thống kênh hình trong Sách giáo khoa là bộ tranh ảnh thuộc 
danh mục đồ dùng dạy học Ngữ văn cũng vô cùng phong phú. Tuy nhiên, chúng 
ta đều nhận thấy các kênh hình có sẵn đó mới chỉ dừng lại là những kênh hình 
tĩnh, nếu dùng đi dùng lại nhiều lần sẽ trở nên nhàm chán và thiếu tư duy, sáng 
tạo. Bởi vậy, với sự phát triển hiện đại của CNTT, Giáo viên rất thuận tiện trong 
việc sưu tầm và chuyển hóa, kiến tạo kênh hình trở nên đẹp hơn, hoàn thiện hơn 
cả về giá trị nội dung và thẩm mỹ. Đồng thời khai thác tối ưu kênh hình là các 
sản phẩm học tập của học sinh để mang lại hiệu quả cao trong bài dạy.
1.2. Giáo viên chú tâm khai thác kênh hình động, kênh hình tự tạo 
 Thực tế cho thấy, ngày nay thầy cô của chúng ta 100% đều đã áp dụng 
CNTT vào trong quá trình giảng dạy. Tuy nhiên có thể nói chúng ta mới sử dụng 
kênh chữ là chủ yếu và kênh hình cũng còn rất hạn chế ở sự kiến tạo, đổi mới. 
Hầu hết chúng ta sử dụng các kênh hình tự chọn đó là những hình ảnh có sẵn 
trong SGK, trong thư viện đồ dùng dạy học hoặc có sẵn trên các hệ thống trang 
mạng. Điều đó dẫn đến rất nhiều hạn chế trong hoạt động dạy học của thày cũng 
như trong quá trình tiếp thu kiến thức của trò. Hay nói cách khác đi, không đạt 
được mục tiêu dạy học mà mình mong muốn. Tuy nhiên, do tâm lý ngại đổi mới 
cho nên thầy cô chủ yếu sử dụng kênh hình tĩnh, kênh hình tự chọn theo ý chủ 
quan của chính bản thân mình nên hệ thống kênh hình thầy cô khai thác được rất 
đơn điệu, lối mòn và các em học sinh cảm thấy nhàm chán, thiếu tương tác cùng 
người dạy trong bài học. Bởi vậy, vấn đề đặt ra ở đây chính là người giáo viên 
cần thay đổi tư duy trong cách khai thác kênh hình. Cần khai thác để đưa vào bài 
dạy các kênh hình động, các kênh hình tự tạo của chính mình. Để có được một 
tiết dạy thành công, người thầy như một kiến trúc sư kiến tạo nên một công trình 
nghệ thuật. Và sử dụng kênh hình chính là một trong những vật liệu để người 
nghệ sĩ xây dựng lên công trình nghệ thuật của mình. Vậy, để việc khai thác 
kênh hình có hiệu quả, đòi hỏi chính bản thân người giáo viên phải năng động, 
cần mẫn khai thác, kiến tạo, đầu tư, thiết kế kênh hình để phục vụ cho bài dạy. 
Từ đó khơi dậy sự tìm tòi, sáng tạo ở chính các em học sinh. Để làm được điều 
này, Giáo viên phải đảm bảo những yêu cầu sau:
 - Giáo viên tự học tập nâng cao kĩ năng CNTT.
 - Giáo viên đầu tư thời gian thiết kế, xây dựng kênh hình.
 - Giáo viên sáng tạo, đổi mới kênh hình linh hoạt.
 Chúng ta đều biết rằng: Mỗi một phương pháp, kĩ thuật nào trong dạy học 
cũng để tiến đến mục tiêu cuối cùng của bài dạy. Khai thác kênh hình cũng vậy, 
với sự phát triển của CNTT, chúng ta hoàn toàn có thể kiến tạo ra được những 
kênh hình theo như chúng ta mong muốn như: Cắt video; lồng ghép hình ảnh; 
 6 kiến tạo phóng sự;... Và tất cả những điều người giáo viên chúng ta có thể làm 
được đó chính là nâng cao khả năng CNTT cũng như ý thức, trách nhiệm trong 
việc đầu tư thời gian thiết kế kênh hình để đạt được đúng mục tiêu bài dạy.
1.3. Khai thác kênh hình từ học sinh
 Tôi rất tâm đắc với câu nói của William: “ Người thầy trung bình chỉ biết 
nói. Người thầy giỏi biết giải thích. Người thầy xuất chúng biết minh họa. Người 
thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng ”. Quả đúng là như vậy. Dạy học mà 
không khơi gợi được hứng thú cho các em cũng chỉ như “ đập búa trên sắt nguội 
” mà thôi. Bởi vậy, người thầy trước hết phải là người thắp lửa đam mê, đặc biệt 
đối với môn học Ngữ văn. Chỉ có niềm đam mê mới đưa các em mong muốn 
được tìm hiểu, được khám phá, được đồng hành, tương tác cùng cô trong quá 
trình lĩnh hội tri thức và phát huy năng lực của bản thân mình. Vì thế, khi cô 
khai thác kênh hình hiệu quả từ phía mình, thông qua việc tiếp nhận, sẽ kích 
thích sự tìm tòi, sáng tạo của chính bản thân các em học sinh. Lúc này, người 
giáo viên như được cầm cương ngựa phi ra trận. Kênh hình trở nên như một 
món ăn ngon, bổ dưỡng và hấp dẫn trong bữa tiệc kiến thức mà cả người dạy và 
người học đều được lôi cuốn vào một cách say mê. Và mục tiêu tiếp theo của 
hoạt động giáo dục sau hoạt động chiếm lĩnh tri thức chính là phát huy năng lực 
sáng tạo và các năng lực khác ở người học. Các em sẽ biết hợp tác cùng nhau để 
làm ra những sản phẩm học tập cực kì ý nghĩa và thú vị. Bởi vậy việc khai thác 
sử dụng kênh hình của học sinh là một biện pháp vô cùng hữu ích. Để khai thác 
được điều này người giáo viên cần phải: 
 - Đồng hành cùng học sinh trong quá trình các em kiến tạo sản phẩm học 
tập.
 - Sử dụng tối đa kênh hình là sản phẩm của học sinh.
 - Động viên, khích lệ, khen thưởng kịp thời khi đón nhận kênh hình từ các 
em.
Ví dụ: Khi dạy bài 7: "Thế giới viến tưởng" (Ngữ văn 7 - tập 2) cho học sinh vẽ 
tranh "Thế giới tương lai của em" cho học sinh giới thiệu về nội dung bức tranh 
của mình.
 7 1.4. Yêu cầu khi khai thác kênh hình
 - Thứ nhất là tính hấp dẫn
 + Về hình thức: yêu cầu khi tự tạo kênh hình như bức tranh, tấm ảnh hay 
đoạn phim phải có giá trị thẩm mĩ cao, khoa học, hợp lí, đồng thời cũng phải dễ 
nhận biết, không quá trừu tượng... 
 + Về nội dung: kênh hình phải phù hợp hài hoà với nội dung của bài 
giảng, góp phần thể hiện nội dung văn bản, có tác dụng khơi gợi, mở rộng hay 
khắc sâu những kiến thức có liên quan đến bài học. Có như vậy kênh hình mới 
đáp ứng đầy đủ yêu cầu để đưa vào bài dạy. Nếu không đáp ứng được những 
yêu cầu trên thì kênh hình như con dao hai lưỡi sẽ phản lại tác dụng với mục 
đích cuối cùng của giờ lên lớp và sẽ làm cho đối tượng tiếp nhận (Học sinh) 
hoặc phân tán tư tưởng không tập trung vào văn bản, hoặc tạo sự phản cảm, gây 
khó chịu, dẫn tới hiện tượng chán ghét giờ học, không yêu thích bộ môn.
 Ví dụ: Khi dạy bài " Dấu ấn Hồ Khanh" GV trình chiếu video Hồi ức về 
tìm thấy hang Sơn Đoòng 
- GV hỏi: 
- Video đề cập tới nội dung gì?
- Nhân vật nào được nói tới trong video?
- HS xem video, quan sát và suy nghĩ, bày tỏ cảm xúc cá nhân về nội dung của 
video.
-> GV nhận xét câu trả lời của HS, dẫn dắt để kết nối vào bài mới: Kể từ khi 
được phát hiện, hang Sơn Đoòng đã khiến các chuyên gia, những người yêu 
hang động và đam mê du lịch khám phá ngỡ ngàng, choáng váng vì vẻ đẹp lộng 
lẫy của nó. Không chỉ rất lớn về quy mô, Sơn Đoòng còn sở hữu những điều kỳ 
bí, độc đáo và vẻ đẹp có một không hai. Người đã góp phần khám phá ra Sơn 
Đoòng chính là Hồ Khanh- một người dân địa phương với đam mê đi rừng, 
khám phá ra những hang động mới. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về quá trình tìm 
ra hang động lớn nhất thế giới của người đàn ông ấy qua văn bản 3 của bài 
học: “Dấu ấn Hồ Khanh”.
 - Thứ hai là tính hoàn thiện: kênh hình có thể chuyển tải đủ thông tin 
 8 hay làm rõ mục đích lựa chọn hay không? Bởi vì có rất nhiều những video clip 
có sự liên quan tới bài học, tạo được hiệu ứng cho bài học, tuy nhiên sự liên 
quan đó ở mức độ nào? Nhiều khi Giáo viên chỉ cố chọn một video cho có để có 
sự liên quan đến tiêu đề bài học và giới thiệu vào bài, làm như vậy sẽ thấy được 
sự khập khiểng và không ăn nhập trong phần khởi động và gây mất thời gian, lại 
không gây được sự chú ý của người học. Ví dụ khi dạy bài “Đoàn thuyền đánh 
cá” (Ngữ văn 9 –Tập 1) Giáo viên sẽ lựa chọn những video về chủ đề biển, như 
những bài hát về biển hay các video về hoạt động đánh bắt cá của ngư dân ở trên 
biển và có khi cũng lựa chọn cho học sinh xem video về Vịnh Hạ Long. Và khi 
với nhiều loại video như vậy Giáo viên phải đưa ra sự lựa chọn, dựa vào nội 
dung bài học ta thấy được chủ đề là hình ảnh thiên nhiên và con người lao động 
trên biển vậy nên lựa chọn hình thức nào. Đối với bài hát thì chỉ nêu được hình 
ảnh của biển chưa thấy được hình ảnh của người Ngư dân trên biển, video về 
Vịnh Hạ Long thì cũng mới xác định được hình ảnh địa danh cũng chưa giới 
thiệu được hình ảnh của thiên nhiên cũng như con người lao động. Cho nên lựa 
chọn sử dụng video về hoạt động đánh cá của Ngư dân trên biển thông qua các 
video như chương trình: “Ngư dân và biển đảo” vừa thấy được sự phong phú 
của biển đảo, cũng đồng thời nhìn thấy được hình ảnh vất vả mưu sinh kiếm 
sống của người ngư dân.
 - Thứ ba là về độ dài: Khi sử dụng kênh hình cần chú ý về thời lượng vì thời 
gian cho bài học chỉ có 45 phút cho tất cả các hoạt động nên cần chọn thời gian phù 
hợp. Vì vậy, theo tôi khai thác kênh hình nên có độ dài là trong khoảng từ 3 đến 5 
phút. 
 * Ví dụ: GV tổ chức cho HS xem video và trả lời câu hỏi trong bài " Thủy 
Tiên tháng một" ( 
 * Gv nêu câu hỏi cho HS chia sẻ: 
1) Nêu ngắn gọn nội dung mà video đề cập đến.
2) Từ nội dung ấy, đặt ra cho chúng ta những suy nghĩ (hiện trạng, nguyên 
nhân) và bài học gì về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên?
 - Thứ tư là tính phù hợp (hay còn gọi là tính trọng tâm của kênh hình): 
kênh hình phải chứa nội dung phù hợp với lứa tuổi học trò, rõ ràng và dễ hiểu, 
giàu trực quan, mang tính giáo dục cao. Cần khai thác lựa chọn kênh có nội dung 
phù hợp liên quan đến bài học để tạo hiệu quả giáo dục cao nhất. Không đưa những 
kênh hình có nội dung phản cảm, gây hiệu ứng ngược cho Học sinh. 
 Ví dụ: Khi dạy bài: “Đồng dao mùa xuân” (Ngữ văn 7 - Tập 1). Giáo viên lựa 
chọn cho học sinh xem video về bài hát “Mầu hoa đỏ” nhưng khi lựa chọn chú ý lựa 
chọn bài có ca sĩ hát sử dụng trang phục phù hợp, không lựa chọn những video mà ca 
sĩ sử dụng trang phục chưa phù hợp với lứa tuổi của học sinh, gây sự tò mò trong các 
em, dễ gây hiệu ứng ngược trong bài học.
 2. Biện pháp 2: Các biện pháp sử dụng kênh hình hiệu quả
 9 Để phát huy tối đa những tác dụng của kênh hình, yêu cầu người dạy phải 
có kĩ năng sử dụng linh hoạt, hợp lí. Bởi sử dụng kênh hình trong bộ môn Ngữ 
văn không như những trường hợp thông thường đưa tranh, ảnh, thước phim ra 
để xem, để ngắm hay để triển lãm, mà đưa tranh ảnh ra là để dạy học, giúp học 
sinh cảm nhận được vẻ đẹp nội dung kênh hình, từ đó khám phá những nội dung 
kiến thức đang tìm hiểu. Chúng ta cần lưu ý: Kênh hình không chỉ làm cho tiết 
học phong phú hơn, lôi cuốn hấp dẫn học sinh vào bài giảng hơn mà còn làm 
tăng khả năng phát huy tính sáng tạo của các em nếu người Giáo viên biết cách 
khai thác tích cực. Nếu như trước đây, khi sử dụng tranh ảnh trong giờ dạy văn, 
chúng ta thường chỉ dùng với ý nghĩa đơn thuần là để minh họa, thì nay tác dụng 
của kênh hình không chỉ dừng lại ở đó. Khi sử dụng kênh hình, chúng ta cần kết 
hợp chặt chẽ và tiến hành song song nhiều hoạt động, nhiều phương pháp cùng 
một lúc để khai thác nội dung bài học bằng cách đưa ra hệ thống câu hỏi gợi mở, 
những lời bình, đan xen phân tích... nhằm phát huy tối đa khả năng khám phá 
của học sinh. Có như vậy sử dụng kênh hình mới có hiệu quả và giờ học mới trở 
nên sinh động, hấp sẫn lôi cuốn học sinh.
2.1. Sử dụng kênh hình đúng mục tiêu
 * Mỗi tiết học được coi là một hoạt động tổng thể diễn ra trong thời gian 
45 phút đối với bậc trung học, bao gồm 5 hoạt động cơ bản:
 - Hoạt động mở đầu
 - Hoạt động hình thành kiến thức
 - Hoạt động luyện tập
 - Hoạt động vận dụng
 Mỗi hoạt động đều mang một mục đích, yêu cầu khác nhau. Bởi vậy, 
người giáo viên cần nắm rõ mục đích yêu cầu của từng hoạt động để lựa chọn sử 
dụng kênh hình và linh hoạt biến đổi kênh hình cho phù hợp. Có như vậy mới 
mang lại hiệu quả tối đa cho bài dạy. Đây là vấn đề vô cùng quan trọng. Để làm 
được điều này, đòi hỏi người giáo viên không chỉ vững về chuyên môn mà còn 
giỏi về kĩ thuật CNTT. Bởi họ vừa là người kĩ sư thiết kế, vừa là người kĩ sư xây 
dựng, để làm sao có thể kiến tạo cho công trình nghệ thuật của mình đẹp nhất và 
mang lại giá trị cao nhất.
 * Mục tiêu của từng hoạt động dạy học:
 - Hoạt động mở đầu: Đây là phần tạo tâm thế, khơi gợi khả năng khám 
phá, kích thích sự tò mò, tư duy tìm hiểu của học sinh.
 - Hoạt động hình thành kiến thức: Phần này giúp học sinh cảm nhận, 
thông hiểu, lĩnh hội kiến thức đặt ra trong bài học.
 - Hoạt động luyện tập: Giúp học sinh củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ 
năng vừa lĩnh hội được, áp dụng các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình 
huống, các vấn đề trong học tập.
 10 - Hoạt động vận dụng: Giúp học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ 
năng để giải quyết các tình huống, các vấn đề tương tự, các vấn đề trong cuộc 
sống.
 Xuất phát từ những mục tiêu của hoạt động dạy và học như trên, tôi đặt ra 
biện pháp đưa kênh hình vào sử dụng trong tiết dạy qua từng hoạt động sau:
 a. Sử dụng kênh hình trong hoạt động mỏe đầu
 b. Sử dụng kênh hình để minh họa, tìm hiểu một chi tiết, một nội dung 
 của bài học
 c. Sử dụng kênh hình trong hoạt động luyện tập, vận dụng
 Trong quá trình dạy học, không phải bất cứ bài nào, tiết nào chúng ta 
cũng sử dụng kênh hình ở tất cả các phần, các bước, mà tùy từng bài dạy để 
chúng ta lựa chọn kênh hình ở từng hoạt động sao cho phù hợp nhất và đạt được 
hiệu quả cao nhất.
2.2. Sử dụng kênh hình đúng lúc, đúng chỗ, đúng thời điểm
 Chúng ta biết rằng: Mỗi một hoạt động học tập bao gồm không chỉ một 
đơn vị kiến thức mà nó là tổng thể một chuỗi các đơn vị kiến thức nhỏ lẻ liên kết 
tạo thành. Bởi vậy để chiếm lĩnh được mục tiêu cuối cùng đòi hỏi người dạy và 
người học phải trải qua quá trình hoạt động và tiếp cận bằng các phương pháp, 
kĩ thuật dạy học khác nhau. Cho nên, người Giáo viên cần nắm rõ các bước khi 
sử dụng kênh hình đúng lúc, đúng chỗ để mang lại hiệu quả cao nhất.
 Các bước sử dụng kênh hình trong bài dạy
 Các 
 Sử dụng kênh hình trong bài dạy
 bước
 Bước 1 Lựa chọn đơn vị kiến thức phù hợp để sử dụng kênh hình phù hợp.
 Thiết kế kênh hình theo ý tưởng một cách vừa vặn, khoa học, 
 Bước 2
 thẩm mỹ, đúng mục tiêu.
 Xác định các phương pháp và kỹ thuật dạy học phù hợp với kênh 
 Bước 3 hình sử dụng.
 Bước 4 Vận dụng vào quá trình dạy học.
 Đánh giá hiệu quả và rút kinh nghiệm (kiến thức, kỹ năng, thái độ 
 Bước 5
 của học sinh) khi Giáo viên sử dụng kênh hình.
2.3. Sử dụng linh hoạt, chủ động và sáng tạo
 Mục tiêu của mỗi bài học là như nhau, nhưng chủ thể của hoạt động học 
là khác nhau. Do đó, người Giáo viên cũng không thể áp dụng nguyên vẹn kênh 
hình, phương pháp, kĩ thuật dạy học ở lớp này rập khuôn sang lớp kia. Nghĩa là 
phải linh hoạt chuyển đổi trong quá trình sử dụng kênh hình. Tôi lấy một thực tế 
đơn giản như khi tôi dạy văn bản “ Nói với con” của Y Phương. Ở lớp học bên 
này tôi cho các em những hình ảnh minh họa cho ý thơ để các em thấu cảm 
trước khi đi khai thác nội dung. Nhưng sang tới lớp bên kia tôi đã nhìn thấy 
 11 kênh hình là sản phẩm của nhóm tổ các em đã chuẩn bị trước ở nhà, và tất nhiên 
tôi linh hoạt biến đổi kế hoạch bài giảng của mình đó là sử dụng kênh hình cảu 
chính các em để tuyên dương, khen thưởng và kích thích tư duy, tinh thần học 
tập của cả lớp
3.Biện pháp 3: Vận dụng vào bài dạy
3.1. Kĩ năng sử dụng kênh hình sử dụng trong hoạt động khởi động bài dạy
 Hoạt động khởi động có nhiệm vụ khơi gợi, kích thích học trò mong 
muốn được tìm hiểu, khám phá bằng những hoạt động tiếp theo trong giờ học, 
thậm chí là sau giờ học. Muốn như vậy, hoạt động khởi động cần tạo ra mâu 
thuẫn trong nhận thức cho học trò. Đây là tiền đề để thực hiện một loạt các hoạt 
động hình thành kiến thức, tìm tòi, giải quyết vấn đề. Và tất nhiên Giáo viên 
phải là người có ý tưởng, phải thật khéo léo gợi mở vấn đề của bài học, kích 
thích trí tò mò và tạo hứng thú cho các em học sinh
 a. Thực trạng
 Hiện nay, việc thực hiện tiết dạy của Giáo viên vẫn còn theo hình thức cũ: 
nặng về lý thuyết, thiếu đi tính hấp dẫn, lôi cuốn học sinh ngay từ hoạt động vào 
bài; giáo viên còn xem nhẹ hoạt động dẫn dắt vào bài mà chủ yếu dành thời gian 
cho việc tìm hiểu kiến thức mới. Hầu hết giáo viên khi thiết kế kế hoạch bài dạy 
thường chỉ làm theo hình thức giới thiệu qua một chút để vào bài, tâm lý giáo 
viên còn nặng về truyền thụ kiến thức bài học mới, còn sợ dành nhiều thời gian 
cho hoạt động khởi động có thể bị “cháy giáo án”, không đủ thời gian dành cho 
việc khai thác kiến thức. Bên cạnh đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin của 
giáo viên trong một số tình huống chưa tốt, còn ngại trong việc đổi mới phương 
pháp dạy học và thiết kế giáo án theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh 
trong hoạt động khởi động. Thực tế đó dẫn đến tiết học khô khan, học sinh thụ 
động trong việc tiếp thu kiến thức. Trong phương pháp dạy học truyền thống, 
chúng ta thường thấy giáo viên với những lời vào bài mượt mà, trơn tru, những 
câu từ bay bổng, trau chuốt cùng giọng đọc hay, diễn cảm, thuyết phục. Tuy 
nhiên, lời vào bài có hay đến đâu cũng chỉ là hoạt động khởi động cho giáo viên 
là chủ yếu. Bởi học sinh vẫn đóng vai trò thụ động lắng nghe, được “ ru vỗ ” 
bằng những lời có cánh. Còn cảm xúc, hứng thú chỉ là sự “ lây lan ” từ giáo viên 
sang học sinh chứ không phải được khơi dậy, hình thành từ sự hoạt động của 
học sinh. Bởi lẽ đó mà tâm thế của các em đã thụ động ngay từ khâu bước vào 
bài học.
 b. Mục tiêu
 Khai thác sử dụng kênh hình minh họa để khởi động vào bài nhằm tạo 
hứng thú học tập cho học sinh, đồng thời khơi gợi vấn đề cần giải quyết trong 
các hoạt động tiếp theo của bài học. 
 c. Nhiệm vụ
 Giáo viên phải trau dồi để có sự am hiểu sâu sắc tác giả, tác phẩm, nội 
 12 dung bài học cùng những vấn đề có liên quan. Từ đó đầu tư, kiến tạo, chuyển 
hóa thành kênh hình kết hợp với các phương pháp kĩ thuật phù hợp để đưa học 
sinh có tâm thế vào bài một cách chủ động, tò mò, cuốn hút, đầy thuyết phục.
 d. Cách thực hiện
 - Xác định kênh hình sử dụng
 - Thiết kế kênh hình theo mục tiêu của bài dạy
 - Trình chiếu kênh hình theo phương án 
=> Cho học sinh xem kênh hình liên quan đến bài học. Sau đó đặt câu hỏi. Học 
sinh suy nghĩ, đưa ra câu trả lời. Kết thúc hoạt động, giáo viên nhận xét, đánh 
giá, biểu dương tinh thần trả lời của học sinh và từ đó dẫn vào bài mới. 
- GV trình chiếu những bức hình về các loài chim. Yêu cầu HS nêu hiểu biết về 
những loài chim 
- GV dẫn dắt vào bài mới: Ai cũng có bầu trời tuổi thơ cho riêng mình. Ở bầu 
trời đó, ta thấy được cách nhìn, cách cảm nhận thế giới khi ta còn là một đứa 
trẻ. Mon và Mên trong câu chuyện Bầy chim chìa vôi cũng có được bầu trời 
tuổi thơ cho riêng mình. Hai cậu đã nhìn thế giới bằng con mắt của tình yêu 
thương, sự quan tâm. Cụ thể Mon và Mên đã nhìn nhận và cảm nhận thế giới 
như thế nào, chúng ta cùng đi vào bài học hôm nay.
 Ví dụ: Trong bài:" Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống"
- GV chiếu hình ảnh cho HS quan sát và trả lời gợi mở suy nghĩ:
1) Mỗi bức tranh sau đây gợi cho ra những vấn đề gì trong đời sống của chúng 
ta?
2) Cuộc sống muôn màu, khi đứng trước một vấn đề, theo em, mỗi người cần có 
thái độ như thế nào?
- HS suy nghĩ và chia sẻ.
- GV gọi 2-3 HS trả lời câu hỏi. 
- GV nhận xét, bổ sung, kết luận, sau đó kết nối vào nội dung bài học: Các vấn 
 13 đề trong đời sống thường luôn đa dạng, phức tạp và có nhiều cách nhìn nhận 
đánh giá khác nhau, tán thành hoặc phản đối. Bài học viết hôm nay chúng ta sẽ 
bàn luận về một vấn đề trong đời sống theo hướng bày tỏ ý kiến tán thành. 
Muốn vậy người viết cần thu thập và đưa ra lí lẽ bằng chứng thuyết phục, dựa 
trên nền tảng đạo đức thích hợp.
* Chú ý: Khi sử dụng kênh hình trong hoạt động khởi động bài học cần luôn 
luôn có sự đổi mới và phải đảm bảo thời gian, tính khoa học, tính thẩm mỹ, phải 
thực sự nhẹ nhàng để dẫn dắt học sinh vào bài học một cách khơi gợi cả nhu 
cầu muốn khám phá, tâm lý sẵn sàng, thích thú đúng như tên gọi của nó: KHỞI 
ĐỘNG
3.2. Kĩ năng sử dụng kênh hình trong hoạt động hình thành kiến thức
 Hoạt động hình thành kiến thức bao hàm các đơn vị kiến thức tổng thể 
của cả bài học. Mỗi đơn vị kiến thức đòi hỏi người giáo viên phải sử dung các 
phương pháp và kĩ thuật phù hợp để truyền tải được nội dung bài học tới học 
sinh một cách đúng mục tiêu. Bởi vậy, đối với phương pháp sử dụng kênh hình 
để minh họa, tìm hiểu một chi tiết, một nội dung bài học cần phải trải qua các 
bước sau:
 - Bước 1: Xác định đơn vị kiến thức cần sử dụng kênh hình.
 - Bước 2: Lựa chọn kênh hình sử dụng là hình ảnh, âm thanh, video tự 
chọn hay tự tạo, xác định mục tiêu cụ thể, rõ ràng.
 - Bước 3: Xác định phương pháp, kĩ thuật dạy học.
 - Bước 4: Vận dụng vào bài dạy.
3.3 Sử dụng kênh hình để minh họa, tìm hiểu một chi tiết, một nội dung
 Trong hoạt động hình thành kiến thức có rất nhiều nội dung cần tìm hiểu 
khai thác, song chúng ta cần nhận diện được cái cốt lõi để khai thác, nhấn mạnh, 
khắc sâu. Bởi vậy khi sử dụng kênh hình phải làm sao để giúp Học sinh hiểu rõ 
vấn đề qua trực giác, bằng tâm hồn, bằng sự cảm nhận, suy nghĩ, liên tưởng của 
bản thân về một chi tiết, một nội dung của tác phẩm đang chứa đựng, ẩn náu 
trong kênh hình. Từ đó góp kích thích tư duy sáng tạo của các em để tìm tòi, 
phát hiện và hình thành kiến thức.
- Ví dụ 1: Trong văn bản: "Hãy cầm lấy mà đọc" của Huỳnh Như Phương khi 
khai thác thông tin về tác giả tác phẩm giáo viên chiếu một số tác phẩm của ông
- Tác phẩm chính: Dẫn vào tác phẩm văn chương (1986); Trường phái hình 
thức Nga (2007); Những nguồn cảm hứng trong văn học (2008), Hãy cầm lấy và 
đọc (2016), Giấc mơ, cảnh tượng và cái nhìn (2019) 
 14 Ví dụ 2: Trong bài " Vừa nhắm mắt vừa mở của sổ" - Ngữ văn 7 tập 1
- GV tổ chức trò chơi nhanh: sắp xếp tranh 
+ Người bố đã nghĩ ra những trò chơi gì cho nhân vật Tôi? Cách chơi ra sao? 
Em có nhận xét gì về những trò chơi đó? 
 * Chú ý: Tất cả các kênh hình sử dụng đều phải linh hoạt biến đổi một cách 
phong phú, đa dạng và đáp ứng đúng mục tiêu của hoạt động. 
3.4 Kĩ năng sử dụng kênh hình trong hoạt động luyện tập và vận dụng
 Mỗi một hoạt động diễn ra đều đi đến một mục đích cuối cùng là để các 
em hiểu được và làm được.Từ việc sử dụng kênh hình trong hoạt động khởi 
động như trên thì người dạy và cả người học khi bước vào bài đã phá bỏ được sự 
thụ động, áp đặt một chiều. Từ đó,giáo viên đã truyền đam mê và hứng thú học 
tập cho các em để tiếp tục năng động, sáng tạo và đã giúp người học thư giãn 
thoải mái và tiếp thu kiến thức một cáchhiệu quả ở phần hình thành kiến thức. 
Các em hưng phấn, hứng thú và tiếp thu bài tốt hơn từ đó đã nhận được những 
phản hồi tích cực của học sinh. Từ đó trong hoạt động luyện tập và vận dụng , 
giáo viên tiếp tục sử dụng linh hoạt các kênh hình để kích thích sự sáng tạo của 
các em.
- Ví dụ 1: Trong văn bản: " Thủy Tiên tháng một" - Ngữ văn 7
- GV tổ chức cho HS làm việc cá nhân để tìm câu trả lời.
- Bài tập: Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ nhân quả dẫn đến "sự 
biến đổi cực đoan của thời tiết" được thể hiện trong văn bản.
* Yêu cầu và gợi ý:
- Em cần xác định được các đoạn văn thể hiện mối quan hệ nhân quả. (Đó là các 
đoạn 2,3,4,5);
- Sau đó chọn từ khoá và phân tích cách triển khai và làm sáng tỏ vấn đề/thông 
tin của tác giả.
- Em làm đoạn 2 trên lớp, các đoạn tương tự còn lại về nhà làm.
 15 Hạn hán, tuyết rơi dày, 
 bão lũ, mưa to, cháy 
 rừng 
 Các loài 
 sinh vật biến mất
 Trái Đất nóng 
 lên
 Thời tiết không bình 
 thường
 Hoa thuỷ tiên nở vào 
 tháng Một
3.5. Nắm rõ các yêu cầu khi sử dụng kênh hình
 - Lựa chọn những tình huống, nội dung, bài dạy... hợp lí để sử dụng kênh 
hình, tránh lạm dụng sử dụng kênh hình một cách bừa bãi, làm phân tán khả 
năng tập trung của học sinh.
 - Biết lắng nghe thông tin từ phía học sinh để điều chỉnh cách sử dụng 
kênh hình, đồng thời để uốn nắn quá trình tiếp nhận kênh hình của học sinh đi 
đúng hướng, đúng mục tiêu.
 PHẦN C. MINH CHỨNG KẾT QUẢ CỦA BIỆN PHÁP:
 - Sau khi áp dụng biện pháp trên, tôi nhận thấy học sinh đã hứng thú hơn 
với môn Ngữ văn, các em yêu thích và say mê môn học, đặc biệt trong các giờ 
học trực tuyến.
 - Tạo được sự hấp dẫn, thu hút được sự chú ý và phát huy được tính tích 
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Qua đó thực hiện được mục tiêu của giờ 
học.
 - Bắt đầu mỗi giờ học, học sinh không còn cảm giác mệt mỏi, nhàm chán, 
nặng nề, lo lắng. Các em được thoải mái tham gia vào hoạt động học tập mà 
không hề hay biết. Giờ học cũng bớt sự căng thẳng khô khan. 
 - Thông qua sử dụng kênh hình trong các giờ học sẽ giúp các em ngày 
càng mạnh dạn, tự tin, năng động, sáng tạo hơn không chỉ trong học tập mà 
trong cả cuộc sống hằng ngày. Qua đó dần hình thành cho các em những năng 
lực cần thiết như: năng lực tư duy sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực giải 
quyết tình huống, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, khả năng hợp 
tác và làm việc nhóm...
 - Sáng kiến đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong dạy học hiện nay: 
 16 nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ thông tin phục vụ trong giảng dạy. Qua 
việc sử dụng kênh hình đã giúp bài dạy được truyền tải đến học sinh phong phú, 
sâu sắc hơn. Đặc biệt, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, Giáo viên có 
điều kiện khai thác và kiến tạo được rất nhiều kênh hình phục vụ cho bài dạy.
 Kết quả cụ thể
 Việc sử Số Hs cảm thấy thú Kết quả học tập 
 dụng lượng 
 Năm học vị trong giờ học trung bình trở lên
 kênh HS khảo 
 hình sát SL % SL %
 Trước khi 
 2020-2021 áp dụng 46 25 54,3% 38 82,6%
 biện pháp
 Sau khi 
 2022-2023 áp dụng 46 36 78,2% 42 91,3%
 biện pháp
 - Có thể nói khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học có vai trò như 
một sự trải nghiệm để dẫn dắt học sinh nhận thức bài học một cách hứng thú say 
mê. Đây chỉ là một phương pháp nhỏ nhưng lại có hiệu quả vô cùng to lớn trong 
quá trình tiến đến mục tiêu bài học. 
 - Do vậy, biện pháp của tôi hoàn toàn có khả năng áp dụng và trong dạy 
học bộ môn Ngữ văn để nâng cao hiệu quả giáo dục; đặc biệt là trong bối cảnh 
một số tiết phải dạy học trực tuyến do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 bùng 
phát.
 PHẦN D. CAM KẾT
Biện pháp: " Khai thác sử dụng kênh hình hiệu quả để măng lại giờ học Ngữ 
văn thú vị" không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; các biện pháp triển khai 
thác thực hiện và minh chứng của học sinh là trung thực.
 Đồng Lạc, ngày 21 tháng 4 năm 2023
 Giáo viên
 Mai Hương Huế
 17 PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG
1. Đánh giá, nhận xét của tổ/ nhóm chuyên môn
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
 TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN
2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
 THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
 18

File đính kèm:

  • docbien_phap_khai_thac_su_dung_kenh_hinh_hieu_qua_de_mang_lai_g.doc