Giải pháp dạy Chuyên đề nghị luận xã hội trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân

docx21 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 11/02/2026 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giải pháp dạy Chuyên đề nghị luận xã hội trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP
 VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
 1. Tên sáng kiến: Giải pháp dạy chuyên đề nghị luận xã hội trong công tác bồi 
dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân.
 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu:
 Năm học: 2020 - 2021; 2021 – 2022.
 3. Các thông tin bảo mật: Không
 4. Các giải pháp cũ thường làm.
 4.1 Thực trạng.
 Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân (GDCD) có nhiều chuyên đề 
trong đó phải kể đến nội dung chuyên đề về dạng bài nghị luận xã hội. Đây là chuyên 
đề không mới nhưng chất lượng bài làm của học sinh không đạt được kết quả như 
mọng đợi khi rèn kĩ năng cho học sinh làm dạng bài này đảm bảo yêu cầu. Môn 
GDCD không những trang bị cho học sinh những kiến thức nền tảng, cơ bản, phù 
hợp với lứa tuổi về các giá trị đạo đức, pháp luật; lối sống mà còn hình thành và phát 
triển ở các em những tình cảm, niền tin, những hành vi và thói quen phù hợp với 
những giá trị đạo đức đã học. Môn học này giúp cho học sinh có sự thống nhất cao, 
nhận thức đúng giữa ý thức và hành vi. Có thể nói môn GDCD nhằm giáo dục cả 
kiến thức, kĩ năng và thái độ cho học sinh và còn là môn giữ vai trò chủ chốt trong 
việc giáo dục cho học sinh ý thức và hành vi của công dân, góp phần hình thành và 
phát triển ở các em những phẩm chất và năng lực cần thiết của công dân trong một 
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Việc giáo dục ấy được xem xét, đánh giá qua 
việc bày tỏ suy nghĩ, những quan điểm cá nhân dưới dạng bài nghị luận xã hội.
 4.2 Hạn chế của phương pháp cũ.
 - Đa số giáo viên trong quá trình giảng dạy chỉ hướng dẫn các em học sinh học 
thuộc kiến thức trong sách giáo khoa, sưu tầm đề trên mạng hoặc đề thi từ những 
 1 năm học trước để làm tài liệu ôn thi cho các em học sinh mà không nghiên cứu kĩ 
bản chất, mục đích, phương pháp chung của chuyên đề nên trong qua trình học tập 
học sinh không nắm chắc yêu cầu của chuyên đề.
 - Giáo viên chưa có nhiều bộ đề ở các dạng bài nghị luận khác nhau để cho học 
sinh rèn kĩ năng làm bài .
 - Nhiều em học sinh chưa có phương pháp học, kĩ năng trình bày phần nghị luận 
xã hội còn hạn chế, kiến thức hiểu biết về các vấn đề xã hội còn hạn hẹp nên khi gặp 
các dạng câu hỏi mở rộng, nâng cao thì lúng túng, không biết cách trình bày, nội 
dung bài làm lan man so với yêu cầu của đề bài. 
 - Một số em trình bày chưa theo hệ thống các quan điểm, không trọng tâm mất 
nhiều thời gian nên không hoàn thành các câu hỏi khác trong đề thi. Có học sinh xác 
định sai vấn đề nghị luận dẫn đến phương pháp làm bài chưa đúng. Từ đó làm ảnh 
hưởng đến kết quả thi học sinh giỏi, chất lượng giải thấp.
 5. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến.
 Kế thừa các văn kiện quan trọng của Đảng trong các giai đoạn trước đây, điểm 
mới trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng về giáo dục và đào tạo đã xác định rõ: “ 
phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng 
cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế”. Vì thế trong 
những năm gần đây ngành Giáo dục và Đào tạo đã phát động phong trào thi đua dạy 
tốt, học tốt, trong đó đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực, phát triển 
kĩ năng năng phẩm chất năng lực người học, là một trong những yêu cầu trọng tâm của 
đổi mới giáo dục.Từ đây có thể nói việc nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn 
nhằm tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao sẽ là một trong những phương hướng, 
nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030.
 Như vậy, mỗi nhà trường ngoài nhiệm vụ đào tạo nâng cao chất lượng đại trà kết 
hợp giáo dục phát triển kỹ năng toàn diện, còn phải chú trọng đến công tác bồi dưỡng 
học sinh giỏi các cấp, nâng cao chất lượng mũi nhọn, coi trọng việc hình thành và 
phát triển tiềm lực trí tuệ cho học sinh. Đây là một nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi các 
trường phải tập trung cao để thực hiện. 
 Trong nhiều năm qua công tác bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) của huyện Yên 
Thế đã có nhiều kết quả tiến bộ, đáng ghi nhận biểu dương. Nhiều bộ môn duy trì và 
ổn định về chất lượng giải tuy nhiên cũng có những bộ môn chưa đáp ứng được yêu 
cầu của ngành đặt ra. Kết quả đạt được có tăng lên về số lượng nhưng chất lượng 
 2 giải chưa được cải thiện trong đó có bộ môn Giáo dục công dân. Với những thành 
tích đã đạt được của bộ môn chưa xứng đáng với sự quan tâm của các cấp chính 
quyền, ban ngành lãnh đạo, cơ quan tổ chức và đáp ứng được sự kì vọng của nhân 
dân. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên bởi nhiều yếu tố:
 - Khách quan:
 + Trong thực tế đội ngũ giáo viên có trình độ đáp ứng được với yêu cầu bồi dưỡng 
học sinh giỏi chưa nhiều. Giáo viên tham gia công tác tham gia bồi dưỡng, nâng cao 
chất lượng mũi nhọn còn mỏng, chưa nhiệt tình với nhiệm vụ này.
 + Giáo viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân là kiêm 
nhiệm, chưa được đào tạo chính ban.
 + Bộ môn GDCD là môn học bị coi là môn phụ nên trong thực tế chưa có nhiều 
tài liệu nâng cao để phục vụ cho việc ôn thi học sinh giỏi. 
 + Học sinh tham gia vào đội tuyển của môn Giáo dục công dân chưa phải là 
những học sinh có tổ chất tốt, chưa say mê với môn học. 
 - Chủ quan:
 + Là một giáo viên được phân công giảng dạy và gia bồi dưỡng đội tuyển học 
sinh giỏi môn Giáo dục công dân 9 cấp tỉnh của trường THCS Hoàng Hoa Thám, tôi 
tự nhận thấy bản thân còn lúng túng, chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc thực hiện 
nhiệm vụ này. 
 + Bản thân chưa tâm huyết với công tác giáo dục mũi nhọn nên cũng chưa có những 
phương pháp linh hoạt, tích cực để thu hút các em yêu thích, gắn bó với môn học.
 + Chưa có kinh nghiệm và trình độ còn hạn chế nên thường lên mạng sao chép 
các đề bài, tài liệu mà không kiểm soát được phạm vi kiến thức dẫn đến khi truyền 
đạt kiến thức đến học sinh nắm không chắc. Nhất là dạng bài nghị luận, bày tỏ quan 
điểm về các vấn đề thời sự xã hội nóng đang diễn ra.
 + Khi dạy chuyên đề nghị luận xã hội của bộ môn GDCD bị nhầm lẫn sang trình 
bày nội dung giống với môn Văn, nặng về phân tích ngôn từ trong khi bản chất bộ 
môn GDCD là phân tích nhận xét hành vi, việc làm và đánh giá giá trị đạo đức. Từ 
đó trong quá trình ôn luyện, nội dung hướng dẫn học sinh làm bài còn sơ sài, viết lan 
man, chưa trọng tâm, chưa đúng với yêu cầu của đề bài.
 3 Như vậy xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài: “Giải pháp dạy chuyên đề nghị 
luận xã hội trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân” góp 
phần nâng cao chất lượng mũi nhọn bộ môn Giáo dục công dân của nhà trường.
 6. Mục đích của sáng kiến.
 Mục đích của tôi khi đưa ra sáng kiến này là xây dựng cho mình phương pháp 
dạy tốt hơn chuyên đề nghị luận xã hội trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn 
GDCD. Đưa ra một số phương pháp, các dạng bài, cách thức trình bày, hướng dẫn 
học sinh ôn tập vận dụng làm bài nghị luận, liên hệ thực tế và rèn kĩ năng làm bài 
cho học sinh góp phần nâng cao kết quả học sinh giỏi bộ môn Giáo dục công dân.
 * Mục đích cụ thể:
 - Về kiến thức: Giúp học sinh hiểu cấu trúc của kiểu bài nghị luận xã hội trong 
đề thi học sinh giỏi môn Giáo dục công dân; học sinh phân biệt được hai kiểu bài 
nghị luận xã hội về một sự việc hiện tượng với kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lí; 
giúp học sinh xác định đúng kiểu bài và viết tốt bài nghị luận xã hội về những vấn 
đề thời sự nóng thường gặp khi thi học sinh giỏi môn GDCD.
 - Về kĩ năng: Giúp học sinh rèn kĩ năng tự học, tìm kiếm và xử lí các thông tin 
phục vụ học tập, vận dụng để viết bài nghị luận xã hội; hiểu được cách làm bài; trả 
lời chính xác nội dung câu hỏi; trình bày rõ ràng, sạch đẹp, khả năng lập luận chặt 
chẽ thuyết phục. Đồng thời biết bày tỏ quan điểm cá nhân, có cái nhìn đúng đắn, 
khách quan với những vấn đề thời sự nóng đang diễn ra ngoài thực tế xã hội. Từ đó 
tích luỹ cho bản thân những kĩ năng sống, mở rộng vốn tri thức, có cách xử lí tình 
huống phù hợp khi bản thân gặp phải ngoài cuộc sống thực tế.
 7. Nội dung.
 7.1. Thuyết minh sáng kiến kinh nghiệm cách làm mới
 a. Xác định kiến thức cơ bản.
 Văn nghị luận là văn bản được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe 
một tư tưởng, quan điểm nào đó. Những tư tưởng quan điểm trong bài văn nghị luận 
phải hướng tới giải quyết vấn đề đặt ra trong đời sống thì mới có ý nghĩa. Để có thể 
xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng quan điểm nào đó thì văn nghị luận 
phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục. Trong đó gồm: Luận điểm; 
Luận cứ; Cách lập luận. 
 4 Vậy kiểu bài nghị luận trong ôn thi HSG môn GDCD là kiểu bài nhằm xác lập 
cho người nghe người đọc những quan điểm, tư tưởng thông qua đánh giá hành vi 
việc làm và các giá trị đạo đức của các sự việc, hiện tượng, vấn đề xã hội nhằm giáo 
dục ý thức đạo đức góp phần hình thành nhân cách của mỗi cá nhân.
 Bố cục của bài văn nghị luận gồm 3 phần:
 - Mở bài (đặt vấn đề): Nêu vấn đề thời sự đang diễn ra có ý nghĩa, ảnh hưởng 
đối với đời sống xã hội (luận điểm xuất phát, tổng quát).
 - Thân bài (giải quyết vấn đề): Trình bày những quan điểm, suy nghĩ, nội dung 
chủ yếu của bài (có thể có nhiều đoạn nhỏ, mỗi đoạn là một luận điểm, trong một 
luận điểm có các lí lẽ và dẫn chứng)
 - Kết bài (kết thúc vấn đề): Nêu kết luận nhằm khẳng định tư tưởng, thái độ, quan 
điểm của bài.
 Căn cứ vào thao tác khi làm bài và nội dung của vấn đề nghị luận xã hội chia 
thành 2 dạng bài:
 - Dạng 1: Dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống.
 - Dạng 2: Dạng bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí.
 b. Giải pháp chi tiết về dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống.
 Dạng bài nghị luận xã hội về một sự việc hiện tượng yêu cầu người nghe bày tỏ 
quan điểm đánh giá, nhận xét về những sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong cuộc 
sống hàng ngày mang tính thời sự, cấp bách có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi việc 
làm của con người. VD Ô nhiễm môi trường, An toàn giao thông, hút thuốc lá điện 
tử trong học sinh, bạo lực học đường, căn bệnh trầm cảm của giới trẻ . Nghị luận 
về một sự việc, hiện tượng nội dung có thể là những tấm gương, việc làm tốt để ta 
noi theo nhưng cũng có thể là hành động việc làm đáng phê phán lên án. 
 Dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống thường có các yêu 
cầu: Suy nghĩ của em, quan điểm của em, những hiểu biết của em về tác hại .
 Đề bài của bài nghị luận về một sự việc hiện tượng có hai loại gồm:
 - Đề hiện: Là loại đề được xác định rõ mọi yêu cầu trong đề bài.
 + VD Tình huống: Theo lời khuyên của bố mẹ, nữ sinh H (đủ 15 tuổi) chủ 
 động chia tay người yêu là K (đủ 18 tuổi) để tập trung vào việc học. K không đồng 
 ý, tìm mọi cách níu kéo nhưng không được. Để trả thù, K đã bịa đặt những thông 
 5 tin xấu nhằm bôi nhọ danh dự của H và đưa lên mạng xã hội. Hàng nghìn lượt chia 
 sẻ và bình luận chỉ trích H. Xấu hổ, bế tắc, không chịu được áp lực từ cộng đồng 
 mạng, H đã khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng phải nhập viện điều trị.
 Em có suy nghĩ như thế nào về tình yêu ở lứa tuổi học trò hiện nay?
 Gợi ý: Đây là đạng đề bài đã có vấn đề nghị luận cụ thể là tình yêu của lứa tuổi 
học trò, học sinh không khó xác định.
 - Đề mở: Là loại đề yêu cầu học sinh phải suy luận mới tìm ra được các yêu cầu. 
Ở dạng đề bài này thường đưa ra một hành động, việc làm đã và đang xảy ra, yêu 
cầu học sinh phải xác định nội dung chính, bản chất của hiện tượng để xác định được 
đúng vấn đề nghị luận. 
 + VD. Hiện nay trong các nhà trường có hiện tượng học sinh do vô ý va chạm 
dẫn đến đánh nhau. Khi các bạn đánh nhau một số học sinh khác không can ngăn mà 
đứng reo hò, cổ vũ thậm chí dùng điện thoại để quay và chia sẻ lên mạng xã hội. 
Đây là sự việc đáng lên án và báo động.
 Quan điểm của em về vấn đề này?
 Gợi ý: Đây là đạng đề bài chưa có vấn đề nghị luận cụ thể học sinh khó xác định 
nếu xác định không chuẩn nội dung bài nghị luận sẽ sai. Học sinh dễ nhầm sang vấn 
đề nghị luận là bạo lực học đường. Để không bị nhầm lẫn học sinh cần gạch chân 
xác định những từ ngữ quan trọng để tránh nhầm lẫn. Trong đề bài trên vấn đề nghị 
luận là sự vô cảm, thờ ơ trong học sinh trước những vấn đề bức xúc đang diễn ra 
ngay trước mắt.
 - Về dẫn chứng: Dẫn chứng khi viết bài nghị luận trong môn GDCD khác với 
môn Văn. Dẫn chứng trong môn GDCD ở kiểu bài này sẽ phải là những hành động, việc 
làm cụ thể đang diễn ra của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày mà ta quan sát được. 
 Các bước làm bài gồm:
 Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý:
 - Xác định: Kiểu bài; Vấn đề, nội dung cần cần nghị luận; Các luận điểm chính.
 Bước 2. Lập dàn bài :
 - Các quan điểm, suy nghĩ của cá nhân được trình bày dưới dạng các luận điểm.
 Dàn ý chung của bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
 6 1. Mở bài. 
 - Giới thiệu sự việc, hiện tượng đời sống cần nghị luận: Sự việc hiện tượng đó có 
ảnh hưởng tốt hay xấu với con người - xã hội, cần phát huy hay ngăn chặn, giải quyết.
 2. Thân bài.
 Luận điểm 1: Giải thích, trình bày khái niệm.
 - Tìm và giải thích nghĩa của các từ được coi là từ khóa mà đề bài đưa ra. Tuy 
nhiên không phải sự việc nào cũng cần giải thích vì có những khái niệm phổ biến mà 
ai cũng biết như tai nạn giao thông, nói tục chửi thề...
 Luận điểm 2: Thực trạng, biểu hiện cụ thể sự việc hiện tượng đó đang diễn ra 
như thế nào?
 - Dựa vào thực tế đời sống để trả lời các câu hỏi: sự việc, hiện tượng này xuất 
hiện ở đâu? Xuất hiện vào thời gian nào? Diễn ra ở quy mô nào? Đối tượng của sự 
việc hiện tượng là ai? Mức độ ảnh hưởng ra sao...Dẫn chứng cụ thể, có thể đưa các 
con số?
 Luận điểm 3: Sự việc hiện tượng đó xảy ra để lại hậu quả, tác hại, ảnh hưởng 
cụ thể như thế nào? Lập luận theo hướng sự việc, hiện tượng đó xảy ra để lại hậu 
quả, tác hại với:
 + Với bản thân cá nhân của người đang thực hiện hành vi việc làm được nói đến.
 + Với gia đình
 + Với xã hội
 Luận điểm 4: Nguyên nhân, lí do nào dẫn đến sự việc hiện tượng đó. Lập luận 
theo hai hướng:
 - Nguyên nhân chủ quan: do nhận thức, ý thức, thói quen của bản thân con người...
 - Nguyên nhân khách quan: tác động từ bên ngoài như môi trường sống, do 
điều kiện gia đình, do bạn bè rủ rê lôi kéo, quy định của hệ thống pháp luật nhà nước, 
xã hội... 
 Luận điểm 5: Giải pháp đưa ra để khắc phục, hạn chế sự việc, hiện tượng trên.
 - Dựa vào phần đánh giá hậu quả, kết quả để đưa ra giải pháp cụ thể, phù hợp. 
Đối với hậu quả thì đưa ra giải pháp mạnh mẽ để ngăn chặn; nếu là kết quả thì phải 
khuyến khích, cổ vũ, khích lệ và phát triển.
 7 + Bản thân cần xây dựng lối sống như thế nào?
 + Gia đình cần quan tâm, phối hợp ra sao?
 + Xã hội, nhà nước có các biện pháp gì?
 Luận điểm 6: Liên hệ, rút ra bài học cho bản thân.
 - Liên hệ việc cần phải làm của mọi người nói chung với vấn đề đặt ra trong bài 
nghị luận.
 - Bản thân em rút ra bài học gì.
 3. Kết bài.
 - Khái quát lại vấn đề. Khẳng định sự cần thiết, phê phán, lên án hoặc noi gương 
sự việc hiện tượng đang diễn ra.
 Ví dụ minh họa
 NGHỊ LUẬN VỀ THÓI VÔ TRÁCH NHIỆM TRONG PHÒNG CHỐNG 
 DỊCH COVID 19
 1. Mở bài.
 Giới thiệu về vấn đề: Việc chấp hành những quy định về phòng chống dịch là 
yêu cầu bắt buộc đối với mỗi tổ chức, cá nhân. Song vẫn còn những cá nhân chủ 
quan, thờ ơ, vô trách nhiệm không chấp hành nghiêm túc các biện pháp phòng 
chống dịch. 
 2. Thân bài.
 * LĐ 1. Giải thích. 
 - Thói vô trách nhiệm được hiểu là sự hờ hững, thờ ơ, không quan tâm, không 
có trách nhiệm với việc làm của mình và việc làm của người khác .
 - Trong phòng chống dịch Covid 19 sự vô trách nhiệm chính là không tuân thủ, 
không thực hiện, không phối hợp, quan tâm đến các quy định của ban phòng chống 
dịch về biện pháp phòng dịch 
 * LĐ 2. Thực trạng vấn đề này đang diễn ra như thế nào.
 - Ưu điểm: Với nước ta thì dịch bệnh đã phần nào được khống chế và trong 
tầm kiểm soát. Có được thắng lợi bước đầu đó ngoài sự chỉ đạo kịp thời và sự vào 
cuộc đồng loạt của các cấp các ngành, ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm của 
 8 người dân trong việc chấp hành các quy định phòng dịch, đồng lòng đánh đuổi 
giặc Covid.
 - Tồn tại: Bên cạnh đó còn có một bộ phận nhân dân thiếu ý thức tự giác, vô 
trách nhiệm gây khó khăn cho công tác khoanh vùng dập dịch cũng như khống chế 
sự lây lan của dịch bệnh cụ thể:
 + Vô trách nhiệm khi đi từ vùng tâm dịch trở về không tự giác kê khai y tế, khai 
báo không trung thực, không thực hiện nghiêm việc cách ly y tế. 
 + Nghiêm trọng hơn, một số người còn tìm cách đưa người nhập cảnh trái phép 
để thu lợi bất chính.
 + Tìm mọi cách ra khỏi vùng dịch. 
 + Vi phạm các quy định phòng dịch khi thực hiện cách ly tập trung, 
 + Cố tình chống đối các biện pháp thực hiện cách li xã hội.
 + Lợi dụng dịch bệnh xảy ra có những hành động việc làm vô nhân đạo đi 
ngược lại tinh thần tương thân tương ái trong mùa dịch 
 + Tung tin giả về người mắc Covid gây hoang mang cho dư luận.
 * LĐ 3. Thói vô trách nhiệm đó để lại hậu quả như thế nào.
 - Với cá nhân: 
 + Sự thờ ơ vô trách nhiệm của các cá nhân làm cho dịch lây lan, bùng phát trên 
diện rộng. 
 + Sự vô trách nhiệm, không tuân thủ các biện pháp phòng dịch của ban chỉ đạo 
phòng chống dịch là hành vi vi phạm pháp luật. 
 - Với gia đình: Tốn kém về kinh tế, do bị cách li tập chung nên phải tạm dừng 
công việc sẽ ảnh hưởng đến kinh tế gia đình.
 - Với xã hội: 
 + Nếu các cá nhân không có trách nhiệm khó khăn, vất vả cho toàn bộ ban 
phòng chống dịch.
 + Khi dịch lây lan bùng phát trên diện rộng sẽ làm cho ngành y tế quá tải, thiệt 
hại kinh tế 
 + Khi dịch chưa được kiểm soát sẽ gây tâm lí hoang mang lo lắng, hoảng loạn 
của người dân trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp.
 9 * LĐ 4. Nguyên nhân.
 Chủ quan: 
 - Tâm lí chủ quan, thiếu hiểu biết trong phòng dịch. 
 - Do sự vô ý thức, không tự giác, không có tinh thần trách nhiệm chung. 
 Nguyên nhân khách quan:
 - Gia đình: Chưa giáo dục con cái ý tức tự giác, trách nhiệm một cách nghiêm khắc. 
 - Nhà trường: Chưa làm tốt công tác tuyên truyền, tuyên truyền chưa thường 
xuyên nên một bộ phận HS còn thờ ơ chủ quan.
 - Xã hội
 + Do đặc trưng văn hóa Á đông, do lối sống, thói quen thích tụ tập đông người 
 + Do điều kiện kinh tế còn thiếu thốn một bộ phận cá nhân phải bươn trải, mưu sinh 
 + Do công tác tuyên truyền, việc thực hiện xử phạt chưa triệt để..
 *LĐ 5 Giải pháp.
 - Với cá nhân: Cần nâng cao ý thức tự giác trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với 
các tổ chức ban ngành trong phòng dịch:
 + Thực hiện nghiêm túc quy định về phòng dịch như: 
 + Không tuyên truyền đưa thông tin sai sự thật về dịch gây hoang mang cho 
mọi người xung quanh.
 + Tuyên truyền cho người thân trong gia đình và mọi người xung quanh về 
phòng dịch.
 + Thực hiện nghiêm túc quy định về phòng dịch.
 - Với gia đình: cha mẹ cần gương mẫu thực hiện đồng thời tuyên truyền nhắc 
nhở các con. 
 - Với nhà trường: Thực hiện nghiêm túc quy định phòng dịch, chuẩn bị điều 
kiện an toàn cho HS khi đến trường tuyên truyền.
 - Với xã hội: Cần có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ chặt chẽ, quyết liệt 
 + Tuyên truyền thường xuyên về chủ trương, biện pháp.
 + Xử lí nghiêm minh, quyết liệt, dứt khoát..
 10 => Liên hệ bản thân em làm gì để thể hiện trách nhiệm trong công tác phòng dịch?
 3. Kết bài. Mỗi một công dân biết tự giác, trách nhiệm bảo vệ mình .Chúng ta 
cần nêu cao ý thức trách nhiệm trong phòng dịch bằng hành động việc làm của mỗi 
cá nhân.
 * Lưu ý: Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào khi đưa ra vấn đề nghị 
luận thì yêu cầu làm bài cũng phải đầy đủ cấu trúc các phần theo hệ thống luận 
điểm nói trên. Điều này còn phụ thuộc vào phạm vi câu hỏi, thang điểm, vấn đề đưa 
ra nghị luận thì học sinh phải vận dụng được đơn vị kiến thức cần trình bày.
 VD Tình huống: Các bạn K, G và H là học sinh lớp 9 (15 tuổi) trường 
THCS xã Q. Do mâu thuẫn cá nhân nên sau giờ tan học, H vừa đi xe đạp điện ra 
khỏi cổng trường thì bị K, G chặn lại. G dùng mũ bảo hiểm đánh liên tiếp vào 
đầu H, cùng lúc đó, K đã dùng hung khí giấu trong người tấn công làm H tử 
vong ngay tại chỗ. Vụ án xảy ra đã gây xôn xao dư luận địa phương.Tình huống 
trên phản ánh vấn đề bạo lực học đường hiện nay. Em hãy đề xuất biện pháp 
phòng tránh vấn đề này.
 => Đây là dạng câu hỏi đã xác định rõ vấn đề nghị luận nhưng học sinh cần 
đọc kĩ yêu cầu của câu hỏi. Trong phạm vi câu hỏi chỉ yêu cầu đề xuất biện pháp 
phòng tránh thì học sinh chỉ cần giải thích ngắn gọi hiện tượng đó. Sau đó chỉ ra 
thực trạng và nguyên nhân (3-5 câu) ngắn gọn, nội dung đó được xem là cơ sở có 
tính chất kết nối, liên kết để trình bày giải pháp vì đây là luận điểm tập chung 
điểm cao nhất. Với câu hỏi dạng này cần trình bày như sau:
 Giới thiệu vấn đề: Ngày nay vấn đề bạo lực học đường đang là nội dung mà 
các nhà trường và phụ huynh học sinh lo ngại. Vấn đề này xảy ra xuất phát từ 
nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Từ đó đặt ra giải pháp: 
 * Giải thích: Bạo lực học đường là những hành vi thô bạo, ngang ngược, bất 
 chấp công lý, đạo lý, xúc phạm trấn áp người khác gây nên những tổn thương và 
 tinh thần và thể xác diễn ra trong phạm vi trường học.
 Đề xuất biện pháp: 
 * Về phía về nhà nước: Ngăn chặn và xử phạt nặng những cá nhân, tổ chức có 
hành vi vi phạm pháp luật 
 *Về phía nhà trường: 
 11 - Rèn luyện kĩ năng sống, tổ chức các hoạt động ngoại khóa về bạo lực học 
đường; có hình thức kỉ luật, giáo dục phù hợp; 
 - Tuyên truyền phối hợp với các cơ quan đoàn thể trên địa bàn để phòng tránh 
bạo lực học đường.
 * Về phía gia đình: Thường xuyên quan tâm tới tâm sinh lí của con, yêu thương 
và phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, nhà trường để nắm bắt tình hình học tập của 
con em mình. 
 * Về phía giáo viên: Thường xuyên quan tâm, theo dõi tình hình lớp chủ nhiệm, 
lớp giảng dạy; có biện pháp can ngăn kịp thời các hiện tượng có nguy cơ dẫn đến 
bạo lực, tạo ra môi trường lành mạnh và phối hợp với gia đình để hỗ trợ học sinh. 
 * Về phía học sinh: 
 - Chủ động trang bị các kĩ năng sống, chấp hành tốt nội quy trường lớp.
 - Tránh xa bạo lực, nếu thấy hiện tượng bạo lực phải kịp thời báo ngay cho nhà 
trường, thầy cô giáo hoặc cơ quan có thẩm quyền để kịp thời can thiệp và xử lí.
 - Tích cực tham gia vào các hoạt động tình nguyện mà nhà trường tổ chức nhằm 
tăng tính thiện và tính hướng thiện trong con người các em.
 * Liên hệ bản thân:
 Có thái độ vui vẻ, hòa đồng, chia sẻ giúp đỡ các bạn; Lên án và ngăn chặn các 
hành vi bạo lực học đường; Khuyên bảo, giúp đỡ các bạn mắc sai lầm không mặc 
cảm tự ti mà vươn lên vượt qua chính mình 
 c. Giải pháp chi tiết về dạng bài nghị luận về tư tưởng đạo lí.
 - Nghị luận về tư tưởng đạo lí là bàn luận về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, 
đạo đức, lối sống, của con người. Nghị luận về tư tưởng đạo lí nội dung nghị luận 
là những phẩm chất tốt đẹp của con người như: tinh thần đoàn kết, truyền thống tôn 
sư trọng đạo, lòng yêu thương con người, ý chí nghị lực Đó là những giá trị đạo 
đức tốt đẹp của con người mà chúng ta cần giữ gìn, kế thừa và phát huy.
 - Dạng bài nghị luận về tư tưởng đạo lí có các yêu cầu: Suy nghĩ của em, quan 
điểm của em, những hiểu biết của em, cảm nhận của em, đánh giá ..
 Các dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí bao gồm:
 12 * Dạng 1: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí mà nội dung nghị luận trong 
một nhận định (ý kiến, câu nói, châm ngôn, tục ngữ, )
 Đây là kiểu bài mà vấn đề nghị luận chưa được đưa cụ thể mà cần phải giải thích 
ý kiến đưa ra ở đề bài sau đó dựa vào đơn vị kiến thức trong bài học để trình bày và 
lập luận và đi kèm với dẫn chứng.
 Ví dụ: Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Lao động là nghĩa vụ thiêng 
liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta ”
 (Hồ Chí Minh, toàn tập, tập IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr.67 )
 Bằng kiến thức và hiểu biết thực tế, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
 Để làm đúng yêu cầu của dạng câu hỏi này cần trình bày như sau:
 Bước 1. Giới thiệu vấn đề, giải thích, khái quát nội dung câu nói:
 - Lao động là gì?
 - Giải thích câu hỏi của Bác
 => Câu nói muốn khẳng định và nhấn mạnh lao động là nghĩa vụ thiêng liêng và 
quyền sống của của công dân. 
 Bước 2. Dựa vào dung bài học và đưa ra các luận điểm theo hệ thống đi kèm 
với lí lẽ như sau:
 - Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân đối với Tổ quốc. 
 + Lao động tạo ra nhiều của cải vật chất, tạo ra nhiều máy móc, thiết bị giúp đất 
nước phát triển
 + Lao động để tạo ra các công trình công cộng như: đường xá, cầu cống, bến 
cảng, nhà ga để đất nước ngày càng văn minh, hiện đại. 
 + Lao động là yêu nước.
 - Lao động là nguồn sống của con người: 
 + Tạo ra của cải vật chất (quần áo, thức ăn, đồ dùng sinh hoạt ) để nuôi sống 
bản thân và gia đình.
 + Nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
 - Lao động là nguồn hạnh phúc:
 13 + Lao động làm cho tư duy, óc sáng tạo của con người được phát triển, giúp con 
người cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc và tự hào.
 + Lao động giúp con người gắn gó, chia sẻ, hợp tác với mọi người xung quanh.
 - Nếu không lao động:
 + Không tạo ra của cải vật chất, con người sẽ nghèo đói
 + Các tệ nạn xã hội sẽ gia tăng: trộm cắp, cướp giật, cờ bạc, rượu chè. 
 + Xã hội loài người sẽ không tồn tại và phát triển.
 + Nếu không có lao động con người 
 Bước 3. Liên hệ với các hành động việc làm của bản thân
 + Tích cực tham gia học tập và rèn luyện thân thể để có sức khỏe tốt.
 + Chủ động và tích cực tham gia các hoạt động lao động phù hợp với lứa tuổi.
 + Có thái độ tôn trọng người lao động và thành quả lao động 
 * Dạng 2: Nghị luận về một phẩm chất, tính cách, trạng thái tâm lí 
 Ví dụ: Đức hi sinh, lòng dũng cảm, tấm lòng nhân ái, bao dung, sự sẻ chia, tính 
trung thực, tinh thần hiếu học 
 Dạng bài này đã chỉ rõ vấn đề nghị luận học sinh dễ dàng xác định kiểu bài cũng 
như cách làm.
 Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý:
 - Xác định: Kiểu bài; Vấn đề, nội dung cần cần nghị luận; Các luận điểm chính.
 Bước 2. Lập dàn bài: Dàn ý chung của bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí.
 1. Mở bài:
 - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Vai trò tầm quan trọng, sự cần thiết của vấn đề 
nghị luận. 
 2. Thân bài: 
 Luận điểm 1: Giải thích, trình bày khái niệm tư tưởng đạo lí. Nêu ra biểu hiện 
của tư tưởng đạo lí đó trong cuộc sống hàng ngày.
 Ví dụ: Hiếu thảo là gì? Lí tưởng là gì? Biết ơn là gì?
 Khi giải thích cần lưu ý:
 14 - Bám sát tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu, tránh suy diễn chủ quan, tùy tiện.
 - Phải đi từ yếu tố nhỏ đến yếu tố lớn: giải thích từ ngữ, hình ảnh trước, rồi mới 
khái quát ý nghĩa của toàn bộ tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu.
 Luận điểm 2. Bàn luận đánh giá về tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu:
 - Trả lời câu hỏi vì sao, tại sao tư tưởng đạo lí đó lại quan trọng? Nó quan trọng 
như thế nào? Trong cuộc sống nó đem lại ý nghĩa gì (Để bài văn mạch lạc thì cần chia ra 
3 khía cạnh: với bản thân/ với gia đình/ với xã hội) 
 Ví dụ: tại sao, vì sao lại phải hiếu thảo? vì sao phải biết ơn? Vì sao phải yêu 
thương con người? .
 Lưu ý, trả lời càng nhiều câu hỏi thì bài văn càng sâu sắc, sức thuyết phục càng 
cao, lí lẽ càng chắc chắn
 - Lập luận nếu không có được hoặc không rèn luyện theo phẩm chất đạo đức đó 
thì xảy ra điều gì?
 => Đưa lí lẽ, dẫn chứng để thuyết phục cho quan điểm của bản thân đã nêu trong 
phần bàn luận. Dẫn chứng thì lấy trong thực tế xã hội, nghị luận xã hội trong môn 
GDCD không nên dùng dẫn chứng trong văn học vì văn học có tính hư cấu nên dẫn 
chứng sẽ không có sức thuyết phục mà dẫn chứng lấy ngay trong thực tế đời sống 
hàng ngày qua các biểu hiện cụ thể bằng việc làm, hành động.
 Luận điểm 3. Mở rộng vấn đề.
 - Lật ngược lại vấn đề: Đưa ra những hành động, biểu hiện đi ngược lại với vấn 
đề nghị luận mà đề bài yêu cầu và khẳng định hành động việc làm đó cần phê phán 
lên án 
 - Vậy có phải vấn đề nghị luận đó đúng trong mọi trường hợp hoàn cảnh không? 
Học sinh cần đưa ra một vài trường hợp ngoại lệ trong khi để hiểu đúng bản chất của 
vấn đề đó phải đặt trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể.
 Ví dụ: Trung thực là đức tính tốt của con người, chúng ta phê phán lên án hành 
vi, việc làm thiếu trung thực nhưng trong trường hợp vì lí do nhân đạo thì những lời 
nói dối của các bác sĩ với bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo lại mang ý nghĩa tốt đẹp. 
 Luận điểm 4. Hướng nhận thức và hành động, rút bài học cho bản thân.
 15 - Qua việc bàn luận vấn đề trên, chúng ta cần hiểu như thế nào cho đúng về vấn 
đề nghị luận mà đề bài yêu cầu? Chúng ta phải làm gì, làm như thế nào để rèn luyện 
được phẩm chất đó.
 Ví dụ: Hiểu vai trò, ý nghĩa của lòng hiếu thảo, lòng biết ơn, lí tưởng sống và sẽ 
rèn luyện như thế nào để trở thành con người có lòng hiếu thảo, biết ơn.. 
 - Hiểu rồi thì em sẽ hành động như thế nào cho phù hợp? Em sẽ làm thế này, 
không làm thế kia, em sẽ phấn đấu, nổ lực học tập.
 3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề và có thể nâng tầm vấn đề để chỉ ra ý nghĩa 
thực tiễn của tư tưởng, đạo lí cần nghị luận trong cuộc sống hằng ngày.
 Ví dụ minh họa. 
 Thời gian gần đây, dư luận xã hội đặc biệt cảm phục trước hành động dũng cảm 
của anh Nguyễn Ngọc Mạnh vì đã nhanh tay cứu cháu bé thoát khỏi tử thần khi bị 
rơi từ tầng 12 tại một chung cư thuộc Thành phố Hà Nội. Hành động của anh được 
đánh giá xuất phát từ lòng yêu thương con người - một truyền thống tốt đẹp của 
dân tộc Việt Nam. Trình bày suy nghĩ của em về truyền thống đó.
 1. Mở bài.
 - Giới thiệu về ý nghĩa của truyền thống thể hiện tình yêu thương con người của 
dân tộc ta từ trước đến nay.
 2. Thân bài.
 Luận điểm 1. Giải thích và biểu hiện cụ thể của truyền thống yêu thương 
con người của dân tộc ta:
 - Truyền thống tốt đẹp của dân tộc là những giá trị tinh thần (bao gồm tư tưởng, 
đạo đức, lối sống, cách ứng xử tốt đẹp ) hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài 
của dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. 
 - Dân tộc Việt Nam có rất nhiều truyền thống tốt đẹp, đáng tự hào, trong đó yêu 
thương con người là một truyền thống nổi bật.
 - Yêu thương con người: Là sự quan tâm, chia sẻ và có việc làm cụ thể giúp đỡ 
nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn 
 Ví dụ cụ thể như anh Nguyễn Ngọc Mạnh, trong lúc làm việc đã phát hiện ra 
cháu bé chuẩn bị rơi xuống từ tầng 12 của một chung cư gần đó, anh đã nhanh 
chóng trèo lên mái tôn cách mặt đất khoảng 2m, chọn đúng hướng rơi của bé để ra 
 16 tay cứu bé. Anh Mạnh từng tâm sự, trong khoảnh khắc đó, anh đã nghĩ cháu bé như 
chính con, cháu của mình, nên không hề phân vân, đắn đo, chỉ mong cứu được 
cháu bé Hành động đó chính là xuất phát từ sự yêu thương chân thành, và có việc 
làm cụ thể để giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, hoạn nạn.
 Luận điểm 2. Bàn luận đánh giá, vì sao yêu thương con người là truyền 
thống tốt đẹp, nếu con người không có tình yêu thương thì cuộc sống sẽ ra sao:
 - Đối với cá nhân: 
 + Yêu thương con người là một phẩm chất tốt đẹp của mỗi người, thể hiện nhân 
cách cao đẹp.
 + Người có lòng yêu thương, biết chia sẻ, xuất phát từ tấm lòng, sẽ luôn sống 
thanh thản, hạnh phúc 
 + Người có lòng yêu thương sẽ được mọi người kính trọng, quý mến, cảm phục 
và đạt được thành công vững vàng trong cuộc sống.
 VD: Trước hành động dũng cảm của anh Nguyễn Ngọc Mạnh, anh đã được xã 
hội ghi nhận, anh được tặng nhiều Bằng khen, giấy khen của Thủ tướng Chính phủ, 
các tổ chức xã hội 
 + Giúp con người có thêm niềm tin, sự lạc quan và tiếp thêm sức mạnh giúp 
con người vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống (dẫn chứng)
 VD: Hành động dũng cảm của anh Mạnh, hành động hiến tặng giác mạc của bé 
Hải An, nhân dân cả nước ủng hộ, hướng về Miền Trung bão lũ, hay những tấm 
lòng tử tế trong xã hội đã giúp đỡ, tiếp sức cho rất nhiều người trong lúc họ gặp 
khó khăn, hoạn nạn, giúp họ thêm tin tưởng vào cuộc sống 
 - Đối với cộng đồng xã hội: 
 + Giúp mối quan hệ giữa người với người gần gũi, tốt đẹp hơn.
 + Tạo nên sự gắn kết cộng đồng, góp phần làm cho môi trường xã hội lành 
mạnh, nhân văn, tạo điều kiện phát triển đất nước.
 + Giúp lan toả những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, thể hiện nét đặc trưng, tiêu 
biểu, nổi bật vô cùng tự hào của dân tộc Việt Nam.
 * Nếu con người thiếu đi lòng yêu thương:
 17 - Con người sẽ trở nên ích kỷ, hẹp hòi, vụ lợi cá nhân, bị cô lập, thiếu niềm tin, 
và không tạo nên sức mạnh để vượt qua khó khăn .(dẫn chứng)
 Luận điểm 3. Mở rộng vấn đề có phải tất cả mọi người trong cuộc sống đều 
có tình yêu thương.
 - Trong xã hội hiện nay, bên cạnh những tấm gương thể hiện tình yêu thương, 
vẫn còn một số biểu hiện chưa đúng, đi ngược với truyền thống:
 + Thái độ thờ ơ, vô cảm, lạnh lùng, thiếu trách nhiệm.
 VD: Học sinh chứng kiến bạn bị bạo lực học đường mà không can ngăn, còn hò 
reo, cổ vũ, quay clip 
 + Yêu thương giả tạo, sáo rỗng, nói mà không làm, hoặc khoe khoang 
 + Lợi dụng tình yêu thương để trục lợi cá nhân 
 VD: Những kẻ giả ăn xin, giả tàn tật ở nhiều khu danh lam thắng cảnh. Kiếm 
lợi từ hàng, tiền cứu trợ của đồng bào vùng bão lũ -> Đáng phê phán, lên án.
 Luận điểm 4. Hướng nhận thức và hành động, rút bài học cho bản thân.
 - Nhận thức đúng ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống, từ đó có những 
việc làm cụ thể để thể hiện tình yêu thương 
 + Quan tâm, chia sẻ, nhường nhịn với người xung quanh, trước hết là người 
thân trong gia đình, thầy cô giáo, bạn bè, hàng xóm láng giềng 
 + Cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi gặp khó khăn, hoạn nạn.
 + Tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, hoạt động hiến máu nhân đạo, 
quyên góp ủng hộ do nhà trường, địa phương tổ chức.
 + Trân trọng, cảm phục và noi theo noi những tấm gương có lòng yêu thương 
con người trong cuộc sống.
 - Lên án, phê phán những hành vi ích kỉ, trục lợi, đi ngược với truyền thống yêu 
thương con người.
 3. Kết bài. Khẳng định lại vấn đề: Tình yêu thương giữa con người với con người 
là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta còn được giữ gìn và phát huy.
 d. Mẹo phân biêt đề bài nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghị luận về sự việc, 
hiện tượng đời sống khi làm bài nghị luận môn GDCD. 
 18 Trong quá trình giảng dạy, nhiều thầy cô gặp phải những đề không xác định chính 
xác nó là tư tưởng đạo lí hay hiện tượng đời sống. Nói cách khác là ranh giới nó 
mong manh, có khi xác định thế nào cũng thấy đúng. Mà xác định sai thì làm bài sẽ 
sai hoặc sẽ thiếu tính thuyết phục. Vì thế bản thân tôi chia sẻ một kinh nghiệm để 
phân biệt như sau:
 - Gặp đề nào mà vấn đề đó ta nhìn thấy, quan sát thấy được thì đó là hiện tượng 
đời sống. (Ví dụ vấn đề ô nhiệm môi trường, hút thuốc, game, bạo lực, hôi của đó 
là những hiện tượng ta nhìn thấy được)
 - Vấn đề nào mà ta không nhìn thấy được mà phải soi vào vào bên trong, tức là 
vô hình, nó tồn tại trong ý nghĩ, trong tư tưởng thì đó là tư tưởng đạo lí. 
 Ví dụ: Biết ơn, tự hào dân tộc, uống nước nhớ nguồn, bất hiếu, hiếu thảo tất 
nhiên những tư tưởng này nó phải biểu hiện bên ngoài song trước hết nó được tồn tại 
trong ý nghĩ, trong trái tim, khối óc của mỗi người.
 e. Kết quả đạt được từ hiệu quả của sáng kiến.
 - Kết quả đạt được cụ thể trong thời gian tôi tham gia bồi dưỡng HSG môn 
GDCD, kết quả này tuy chưa cao so với thành tích của các đồng chí giáo viên khác 
trong huyện, so với các bộ môn khác và huyện bạn nhưng phần nào giúp tôi tự tin, 
tâm huyết hơn trong công tác bồi dưỡng HSG. Kết quả cụ thể như sau:
 * Bảng 1: Kết quả dự thi học sinh giỏi cấp huyện:
 Năm học Số HS tham gia Số HS đạt giải Cơ cấu giải đạt được
 2020 - 2021 05 05 01 giải nhất; 01 giải nhì; 01 giải 
 Ba; 02 giải HSG
 2021- 2022 09 08 1 giải nhất; 1 giải nhì; 2 giải ba, 
 3 giải khuyến khích; 1 giải học 
 sinh giỏi
 * Bảng 2: Kết quả dự thi học sinh giỏi cấp tỉnh:
 Năm học Số HS tham gia Số HS đạt giải Cơ cấu giải đạt được
 2020 - 2021 08 04 03 giải Ba; 01 giải KK
 201 - 2022 08 07 1 giải nhì; 03 giải Ba; 03 giải 
 KK
 19 - Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân có thêm một chuyên 
đề chuyên sâu và có thêm phương pháp bồi dưỡng hiệu quả hơn.
 - Học sinh có thêm phương pháp học tập bộ môn. Học sinh hiểu sâu vấn đề, nắm 
chắc kiến thức, yêu thích học tập bộ môn.
 7.2. Phạm vi áp dụng của sáng kiến.
 Năm học 2021 - 2022 tôi đã áp dụng sáng kiến này và bước đầu đạt kết quả. Và 
tiếp tục được ứng dụng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn trong các năm 
học tiếp theo. Ngoài ra tôi nhận thấy giải pháp này có thể áp dụng cho tất cả các giáo 
viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân ở các trường trong 
huyện, đặc biệt là những giáo viên không có chuyên môn đào tạo chính mà kiêm 
nhiệm dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi. Tôi hi vọng giải pháp trên sẽ giúp cho giáo 
viên và học sinh tự tin, hứng thú khi tham gia bồi dưỡng và học tập môn Giáo dục 
công dân, từ đó góp phần nâng cao chất lượng mũi nhọn của bộ môn.
 7.3. Lợi ích thu được từ giải pháp
 Sau khi áp dụng giải pháp này, bản thân tôi đã thu được kết quả khả quan, đây 
là động lực giúp tôi tiếp tục cố gắng trong những năm học tiếp theo. Giải pháp đã 
giúp tôi tiết kiệm được thời gian, không tốn kinh phí và có thể áp dụng trên phạm vi rộng.
 Giải pháp giúp cho học sinh tự tin hơn, hứng thú học tập bộ môn và có kĩ năng 
cần thiết, vận dụng thành thạo viết bài nghị luận xã hội trong môn Giáo dục công dân 
để tham gia các kì thi chọn học sinh giỏi các cấp. Góp phần nâng cao số lượng và 
chất lượng học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh môn Giáo dục công dân lớp 9.
 Giải pháp đã được triển khai trong bồi dưỡng học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh 
môn Giáo dục công dân lớp 9 tại trường THCS Hoàng Hoa Thám, huyện Yên Thế 
năm học 2021 – 2022. Được tập thể giáo viên trong tổ khoa học xã hội và tổ giáo 
viên giảng dạy môn Giáo dục công dân tán thành. Qua quá trình nghiên cứu và kết 
quả đạt được, tôi thấy giải pháp này rất sát với thực tế giảng dạy bồi dưỡng học sinh 
giỏi bộ môn Giáo dục công dân. Bản thân tôi muốn chia sẻ với đồng nghiệp những 
kinh nghiệm mà mình có được trong quá trình dạy bồi dưỡng học sinh giỏi, rất mong 
nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để sáng kiến được thiết thực hơn 
nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi các cấp bộ môn Giáo dục công dân.
 * Cam kết: Tôi cam đoan những điều tôi trình bày bên trên là đúng sự thật và 
không sao chép, vi phạm bản quyền.
 20

File đính kèm:

  • docxgiai_phap_day_chuyen_de_nghi_luan_xa_hoi_trong_cong_tac_boi.docx
Bài giảng liên quan