Một số giải pháp để nâng cao chất lượng bộ môn Toán ở trường THCS

doc9 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 12/02/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung Một số giải pháp để nâng cao chất lượng bộ môn Toán ở trường THCS, để tải tài liệu về máy bạn hãy click vào nút TẢI VỀ
 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỘ MÔN TOÁN 
 Ở TRƯỜNG THCS
Phần A – LÝ LUẬN CHUNG :
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Lý do lý luận:
 THCS là bậc học đang phổ cập giáo dục nhằm nâng cao mặt bằng dân trí, 
 chuẩn bị đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng CNH, HĐH của 
 đất nước. Cả nước hiện nay đang phấn đấu đến năm 2010 hoàn thành phổ 
 cập THCS.
 Mục tiêu của giáo dục THCS theo điều 23 luật giáo dục là giúp học sinh 
 củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học 
 vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp 
 để tiếp tục học THPT, THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
 Do sự đổi mới trong mục tiêu nội dung giáo dục THCS đòi hỏi phải có 
 những đổi mới về chương trình và phương pháp dạy học bậc THCS.
 Việc nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và chất lượng bộ môn toán 
 nói riêng trong các nhà trường hiện nay đang là một bài toán nan giải cho các 
 nhà quản lý giáo dục, nhát là các hiệu trưởng có chuyên môn đào tạo lại 
 không phải là môn toán. Bởi lẽ môn toán là một môn học đòi hỏi một quá 
 trình tư duy lô gíc, chặt chẽ, có tính khái quát hoá cao.Môn toán các em học 
 được tốt nó sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc học các môn còn lại của các em thuận 
 lợi hơn rất nhiều.
 - Môn toán là một môn học cơ bản chiếm nhiều thời gian trong việc học 
 của học sinh.
 - Toán học là môi trường để con người tìm tòi, sáng tạo và vận dụng là cơ 
 sở của nhiều ngành khoa học. Nhờ có học toán mà tư duy con người được 
 hình thành và phát triển tốt hơn, nhờ có học toán mà người học sinh được 
 rèn luyện những đức tính: chăm chỉ, cần cù, cẩn thận, chính xác, lô gíc 
 khả năng khái quát, hoá tổng hợp hoá cao.
- Môn toán có rất nhiều ứng dụng trong đời sống hàng ngày. Một học sinh 
học giỏi toán khi bước vào đời bao giờ cũng vững vàng hơn, tự tin hơn và hiệu 
quả hơn.
- Môn toán trong các nhà trường phổ thông là nền móng cho việc tiếp thu, 
lĩnh hội tri thức của các môn học còn lại cũng như tri thức của loài người.
- Tóm lại việc dạy học toán và việc học toán là một quá trình để hình thành 
và phát triển nhân cách học sinh.
2- Lý luận thực tiễn:
 - Môn toán trong các nhà trường phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 không chỉ 
 là sự quan tâm của các nhà quản lý, các thầy giáo, cô giáo mà còn là sự 
 quan tâm đặc biệt nhiều hơn so với các môn học khác của các bậc phụ 
 huynh học sinh.
 - Thực trạng việc giảng dạy môn toán của các thầy giáo, cô giáo, đó là sự 
 lĩnh hội, tiếp thu kiến thức bộ môn này của học sinh còn đang là một bài 
 toán rất nan giải. Mỗi trường có không ít hơn 20% thầy giáo cô giáo có 
 trình độ chuyên môn nghiệp vụ về môn này ở mức độ trung bình và nếu 
 1 đánh giá một cách khách quan thì tỷ lệ học sinh đạt trung bình không quá 
 35% - Một câu hỏi được đặt ra “ Tại sao lại khó vậy?”
- Hàng năm ngành giáo dục tổ chức thi học sinh giỏi các cấp môn toán, 
mấy năm gần đây còn thi HSG giải toán bằng máy tính Casio – một sự đầu tư 
thật thích đáng cho bộ môn này.
- Thực tiễn cho thấy học sinh nào mà học khá giỏi môn toán thì các môn 
còn lại kể cả môn văn( trừ các môn năng khiếu: vẽ, nhạc, thể dục) các em đều 
thể hiện được sự chủ động, tự tin trong việc lĩnh hội tri thức.
- Chất lượng bộ môn toán hiện nay của các trường THCS nói chung và của 
trường THCS Phúc Hoà nói riêng còn ở tỷ lệ thấp( dưới 35%).
- Hàng năm, kỳ thi vào lớp 10 của trường THPT còn không ít điểm kém ở 
môn toán.
- Đứng trước các thực trạng về chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn 
toán ở trường THCS nói chung và ở trường THCS Phúc Hoà nói riêng, với góc 
độ trách nhiệm là một cán bộ quản lý nhà trường đã thôi thúc tôi phải quan tâm 
và có trách nhiệm về chất lượng này của môn toán. Và đó cũng là lý do để tôi 
mạnh dạn viết lên “ Một số giải pháp để nâng cao chất lượng bộ môn toán ở 
trường THCS”.
II. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
1-Phản ánh thực trạng về việc dạy học môn toán của giáo viên và việc hoc tập 
môn toán của học sinh bậc THCS hiện nay.
2- Phân tích những ưu điểm , những hạn chế của thầy và trò về vấn đề nói trên, 
từ đó có những giải pháp cụ thể sát thực tế để nâng cao chát lượng dạy và học 
bộ môn toán hiện nay.
III- ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, PHẠM VI NGHIÊN CỨU : 
 1- Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
 Giáo viên giảng dạy môn toán trong huyện (thông qua các chuyên đề, thông 
 qua chấm thi GVG) và học sinh trường THCS Phúc Hoà. 
 2. Phạm vi nghiên cứu:
Công tác chi đạo của ban giám hiệu đối với tổ khoa học tự nhiên để nâng cao 
chất lượng bộ môn toán của nhà trường trong 2 năm học 2004-2005 và 2005- 
2006.
IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
 1- Dự giờ, thăm lớp ở tiết học toán.
 2- Tổ chúc chuyên đề nâng cao kiến thức cho giáo viên giảng dạy toán. 
 2- Tổ chức thi khảo sát chát lượng bộ môn toán ở từng thời gian khác nhau 
 của năm học. 
 3- Tìm hiểu thăm dò qua học sinh về nguyện vọng của các em về môn học 
 này. 
Phần II- NỘI DUNG:
A- MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN:
 1- Kiểm tra: 
 Kiểm tra được xem là phương tiện và hình thức của đánh giá. Việc kiểm tra 
 cung cấp những dữ kiện những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh 
 giá.
Trong dạy học có bốn loại kiểm tra là:
 - Kiểm tra thăm dò.
 2 - Kiểm tra kết quả.
 - Kiểm tra xếp thứ bậc.
 - Kiểm tra năng lực tổng thể có định hướng.
Mỗi loại kiểm tra có mục đích riêng. Thi cũng là kiểm tra nhưng có tầm quan 
trọng đặc biệt.
 2- Đánh giá:
Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu nhập và xử lý kịp thời, có hệ thống 
thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả 
giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học( mục tiêu đào tạo) làm cơ sở cho những 
chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo.
 3- Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học:
- Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu thập và xử lý thông 
tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương trình, 
phương pháp dạy học, về những hoạt động khác có liên quan của nhà trường và 
ngành giáo dục. Đánh giá kết quả học tập của học sinh, về tác động và nguyên 
nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và 
nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn.
 4- Đo:
 “ Đo là khái niệm chung dùng để chỉ sự so sánh một vật hay một hiện tượng 
 với một thước đo hoặc một chuẩn mực và khả năng trình bày kết quả về mặt 
 định lượng” .
 Đối với cấp tiểu học và THCS, có thể đo được trình độ học tập theo ba mức:
 - Nhận biết.
 - Thông hiểu.
 - Vận dụng.
 • Nhận biết: là một mức độ của trình độ nhận thức, thể hiện ở chỗ 
 một học sinh có thể nhớ hoặc nhận ra một khái niệm, một sự vật, 
 một hiện tượng, do đã được giảng giải hoặc thí nghiệm.
 Ví dụ: Học sinh có thể nhắc lại đúng 1 định nghĩa mà chưa cần giải 
 thích hoặc vận dụng định nghĩa ấy. Đây là mức độ nhận thức thấp 
 nhất, vì chỉ đòi hỏi vận dụng trí nhớ.
 • Thông hiểu: Là múc độ cao hơn nhận biết, nó liên quan đến ý 
 nghĩa của các mối quan hệ giữa những gì học sinh đã biết, đã học. 
 Khi một học sinh lặp lại đúng một định nghĩa, học sinh ấy đã tỏ ra 
 “Biết” định nghĩa đó, nhưng để chứng tỏ sự “thông hiểu” thì phải 
 giải thích được ý nghĩa của những khái niệm quan trọng trong định 
 nghĩa, hay minh hoạ bằng một ví dụ về các mối liên hệ được biểu 
 thị bởi định nghĩa đó.
 • Vận dụng: Khả năng này đòi hỏi người học phải biết vận dụng 
 kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để 
 giải quyết một vấn đề nào đó. Khả năng ứng dụng được đo lường 
 khi một tình hình mới được trình bày và người học phải quyết định 
 nguyên lý nào cần được áp dụng và áp dụng như thể nào trong tình 
 huống như vậy. Điều này đòi người học phải di chuyển kiến thức 
 từ bối cảnh quen thuộc sang một hoàn cảnh mới.
III- THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DẠY VÀ HỌC BỘ MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG 
THCS PHÚC HOÀ:
 3 1- Tình hình đội ngũ:
Toàn trường có tổng số 28 CBCNV, trong đó GV có 25 đ/c còn lại 2 đ/c BGH, 
1đ/c hành chính được biên chế ở hai tổ chuyên môn. Tổ KHXH có 14đ/c, tổ 
KHTN có 14đ/c.
 - Tổ KHXH có nhóm toán có số lượng giáo viên là 6 đ/c. 
 - Trình độ chuyên môn toán giỏi: 2 đ/c chiếm 33,3%.
 Trình độ chuyên môn toán khá: 3 đ/c chiếm 50%.
 Trình độ chuyên môn toán TB: 1 đ/c chiếm 16,7%.
 a- Về ưu điểm:
 - Các thầy giáo, cô giáo, luôn luôn chấp hành đúng mọi quy chế chuyên 
 môn, giảng dạy nhiệt tình, trách nhiệm.
 - Luôn luôn cố gắng để từng bước vận dụng được việc ĐMPPGD vào từng 
 tiết học để phù hợp với đặc trưng bộ môn và hiệu quả giờ dạy nâng lên.
 - Tích cực bồi dưỡng HSG và học sinh yếu khi nhà trường bố trí thời gian.
 - Tham gia đầy đủ mọi chuyên đề về nâng cao kiến thức phương pháp bộ 
 môn toán do PGD tổ chức.
 - Bước đầu đã có sự chuyển biến tích cực về công tác kiểm tra, đánh giá 
 kết quả học tập của học sinh.
 - Tích cực giải bài tập, các đề thi học sinh giỏi qua các kỳ thi do cấp trên tổ 
 chức.
 - Nhà trường trang bị đủ SGK, STK cho GV giảng dạy.
 - Có GV giỏi cấp huyện từ 4-5 đ/c hàng năm.
 - Phong trào học sinh giỏi ngày càng được phát triển mạnh mẽ.
 - Đảng uỷ, UBND,HĐND, MTTQ rất quan tâm tới cơ sở vật chất phục vụ 
 cho giảng dạy của GV, học tập của học sinh.
 - Môi trường nhà trường luôn luôn là một môi trường xanh, sạch, đẹp.
 b- Về tồn tại: 
 - Sự đầu tư cho việc ĐMPP cho bài dậy chưa thường xuyên, chưa thật kỹ 
 lưỡng.
 - Số tiết dạy bằng đèn chiếu rất ít, quá trình tổ chức hoạt động nhóm trong 
 giờ học hiệu quả chưa cao.
 - Việc làm mới đồ dùng rất hạn chế, thường chỉ là hình thức biểu bảng.
 - Số GV có trình độ tin A trong toàn trường là 6/28 đạt 21,4%.
 - Chưa tổ chức được GV đi giao lưu học hỏi kinh nghiệm ở các đội bạn ở 
 ngoài huyện, ngoài tỉnh.
 c- Nguyên nhân:
 - Tính trách nhiệm cho bài giảng của mình của một vài giáo viên chưa cao.
 - Chưa có phòng học chức năng riêng nên chưa đáp ứng được việc giảng 
 dạy có ĐMPPGD.
 - Thời gian GV soạn bài theo chương trình mới là mất nhiều, nghiên cứu 
 SGK lâu hơn.
 - Kinh phí phục vụ cho giảng dạy còn hạn chế.
 2- Tình hình học sinh:
 a- Về ưu điểm: Toàn trường có521 họ sinh được biên chế ở 13 lớp:
 Khối lớp 9: Có 4 lớp với 169 HS.
 Khối lớp 8: Có 3 lớp với 120 HS.
 Khối lớp 7: Có 3 lớp với 121 HS.
 4 Khối lớp 6: Có 3 lớp với 111 HS.
 - Các em học sinh đều xác định môn toán là một môn học rất quan trọng 
 trong các bộ môn học của mình.
 - Nhiều em yêu thích học bộ môn này nhất là các học sinh lớp chọn.
 - SGK được tài trợ 100% của tổ chức Plan.
 - Qua các lần thi HSG huyện đều có HS đạt từ HS giỏi trở lên ở môn toán.
- Các em có nhu cầu rõ ràng đòi học thầy giáo, cô giáo giỏi hơn.
- Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho học tập là khá tốt.
- Chất lượng bộ môn toán luôn luôn được phụ huynh quan tâm tới.
 b- Về tồn tại:
 - Chất lượng bộ môn toán còn rất thấp:
Thời Khối TS Giỏi Khá TB Yếu Kém
gian lớp HS SL % SL % SL % SL % SL %
Cuối 6 120 10 8,3 20 16,6 60 49,8 25 20,8 5 4,5
năm 7 120 13 10,8 25 20,8 68 56,8 10 8,3 4 3,3
(04- 8 169 12 7,1 24 14,2 96 56,8 30 17,8 7 4,1
05) 9 159 20 17,9 31 19,5 102 58,8 6 3,8
 6 111 19 17,1 36 32,4 32 28,9 22 19,8 2 1,8
Kỳ I 
 7 120 3 2,5 27 20,3 52 42,9 35 28,9 4 3,3
(05- 
 8 121 3 2,5 18 15 67 55 23 27,5 0 0
06)
 9 169 40 23,7 27 10 77 3,6 25 20,7 0 0
K/S 6 100 1 1 2 2 23 23 59 59 15 15
đầu 7 122 6 7 14 9,4 39 32 56 46,9 7 5,7
kỳ II 8 119 0 0 2 1,7 22 18,5 74 62,2 21 17,6
(05- 
 9 169 1 0,01 20 12 27 16 63 17 58 34
06)
K/S 
giữa 
kỳ II 9 168 5 3 21 12,5 41 24,4 63 37,5 38 22,6
(05- 
06)
C, Nguyên nhân:
Chất lượng bộ môn toán thấp vì học sinh rất lười học- điều này biểu hiện rõ nét 
theo phong trào của từng thôn xóm.
Ở lớp giáo viên giảng bài thì các em chú ý nghe có vẻ nhận biết được, nhưng về 
nhà không học bài cho nên lại quên gần hết.
 - Sự quan tâm đến việc học hành đối với con cái của những gia đình có 
 hoàn cảnh khó khăn rất hạn chế nhiều phụ huynh không rõ con học lớp 
 nào, ai chủ nhiệm...
 - Ngoài giờ học ở trường về nhà các em đều phải tham gia giúp đỡ gia 
 đình, kể cả ra đồng làm nông nghiệp.
- Ngoài sách giáo khoa do plan tài trợ còn sách bài tập nhà trường khuyên 
mua nhưng số lượng chỉ được 50%- 60%.
 5 - Nhiều gia đình không cho con học bồi dưỡng để tăng cường kiến thức bộ 
môn toán cho các em ( với lí do đơn giản là ”không có tiền”). 
III- CHỈ ĐẠO CỦA BGH ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC 
MÔN TOÁN
1, Về phía giáo viên :
1. Duy trì thật nghiêm túc mọi quy chế chuyên môn nhất là quy định soạn giảng, 
chấm chữa
2. Mỗi bài soạn phải thể hiện được việc ĐMPPGD, có câu hỏi và bài tập dành 
cho học sinh khá giỏi.
3. Tổ chức thi khảo sát chất lượng một số môn trong đó có toán thật nghiêm túc: 
Đề ra có hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phù hợp, phạm vi kiến thức rộng, bài tập 
có đủ ở ba đối tượng: khá giỏi, trung bình , yếu.
4. Duy trì tổ chức chuyên cho giáo viên về kiến thức hoặc phương pháp ít nhất 
một lần trên tháng. 
5. Sử dụng đồ dùng dạy học theo quy định thật hiệu quả. 
6. Làm thật nghiêm túc chế độ kiểm tra, chấm chữa bài cho học sinh.
7. Duy trì bồi dưỡng cho học sinh giỏi , học sinh yếu đều đặn.
8. Làm tốt công tác XHHGD.
2, Về phía học sinh: 
 - Nhà trường quán triệt tinh thần, ý thức học tập của học sinh.
 - Thực hiện tốt lịch bồi dưỡng văn hoá tại trường.
 - Phát động phong trào hoa điểm tốt, phát thưởng chu đáo.
 - Khuyến khích động viên thích đáng ( thưởng) cho các học sinh thi các kỳ 
 thi có điểm cao và đạt kết quả thi học sinh giỏi.
 - Tổ chức toạ đàm kinh nghiệm học tập của các khối lớp .
- Duy trì đảm bảo các buổi ngoại khoá vui chơi cho các em sau một thời 
gian học tập mệt mỏi , căng thẳng.
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
 - Qua thời gian gần hai năm học – Tôi đã trực tiếp chỉ đạo, quản lý việc 
 nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nói chung, chất lượng dạy và học 
 nói riêng trong đó có chất lượng bộ môn toán, tôi nhận thấy rằng:
 • Muốn nâng cao được chất lượng dayh và học các bộ môn văn hoá 
 nói chung, môn toán nói riêng thì đòi hỏi người cán bộ quản lý, 
 phải xây dựng cho mình một chương trình, một kế hoạch cụ thể, 
 thật rõ ràng, phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của nhà trường. Kế 
 hoạch phải được xây dựng trên cơ sở có sự bàn bạc thống nhất từ 
 chi uỷ đến chi bộ, từ chi bộ đến tập thể sư phạm nhà trường.
 • Mỗi kế hoạch phải được thực hiện rõ ràng từ khâu chuẩn bị đến 
 khâu thực hiện, từ thực hiện đến sơ kết tổng kết đánh giá.
 • Lãnh đoạ nhà trường phải luôn luôn đi đầu trong việc thi đua dạy 
 tốt: Dạy đủ đúng chuyên môn số tiết/ tuần do Bộ giáo dục quy định 
 có chất lượng, gương mẫu trong các đợt học tập chuyên đề do cấp 
 trên tổ chức.
 • Phải xây dựng được cơ chế điều kiện để giáo viên làm việc; mức 
 độ chi bồi dưỡng giáo viên thực hiện các kế hoạch phù hợp, công 
 bằng, động viên được mọi người để làm lần sau tốt hơn.
 6 • Phải xây dựng chế độ khen thưởng, trách phạt kịp thời, đúng mực 
 phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của đơn vị mình.
 • Thường xuyên tham mưu với đảng uỷ, uỷ ban nhân dân, hội đồng 
 nhân dân, mặt trận tổ quốc xã quan tâm về cơ sở vật chất về chế độ 
 khen thưởng cho giáo viên giỏi, học sinh giỏi, làm tốt hơn nữa 
 công tác khuyến học, công tác xã hội hoá giáo dục.
 • Như chúng ta ai cũng biết rất rõ: Không có thầy giỏi thì không có 
 học sinh giỏi – vì thế phải thường xuyên tổ chức các chuyên đề 
 nâng cao chất lượng của giáo viên: học tập theo nhóm toán định kỳ 
 1 lần/ tháng, hoặc thay thế đó là giải bài tập theo chuyên đề, hoặc 
 giải các đề thi do cấp trên tổ chức ở những thời gian trước đó.
 • Để việc chỉ đạo lãnh đạo có hiệu quả tốt người lãnh đạo phải có kế 
 hoạch kiểm tra ( thường xuyên, định kỳ, đột xuất ) thật tốt. Qua đó 
 mới đánh giá được chất lượng công việc, từ đó có những rút kinh 
 nghiệm cho việc tổ chức lần sau.
 • Một điều không thể phủ nhận được là cán bộ quản lý không phải 
 chỉ có năng lực tổ chức tốt, có khả năng bao quát, năng lực tổng 
 hợp nhanh mà còn phải là người có trình độ chuyên môn vững 
 vàng ( khi còn là giáo viên phải là giáo viên giỏi cấp huyện trở 
 lên).
 ❖ Mặc dù dưới sự lãnh đạo của ban giám hiệu đã từng bước nâng cao chất 
 lượng văn hoá trong đó có môn toán.Song vẫn còn một số tồn tại cần 
 khắc phục:
 o Tỉ lệ học sinh thi đỗ hệ A lớp 10 có tăng nhưng vẫn còn khiêm tốn 
 ( 38%)
 o Số học sinh thi học sinh giỏi môn toán điểm chưa cao, giải đạt còn 
 thấp ( chủ yếu là giải khuyến khích và học sinh giỏi)
 o Chưa có giáo viên giỏi cấp tỉnh môn toán.
 o Giáo viên có trình độ tin hoc A còn ít (33,3%).
 o Số học sinh còn bị hổng kiến thức môn toán lớn hơn 30%.
 o Nhiều học sinh không thích học toán.
 ❖ Giải pháp khắc phục:
 - Tích cực nâng cao trình độ chuyên môn môn toán cả kiến thức và phương 
 pháp cho giáo viên có chuyên ngành đào tạo là toán.
 - Thực hiện thật tốt quy trình kiểm tra đánh giá học sinh ( Tích cực chấm, 
 chữa cho các em) 
 - Duy trí tốt khảo sát chất lượng bộ môn toán theo định kỳ: Đầu kỳ, giữa 
 kỳ, thi chất lượng học kỳ.
 - Phát huy hơn nữa phong trào hoa điểm tốt của các lớp.
 - Động viên khen thưởng thích đáng các đồng chí đạt giáo viên giỏi các 
 cấp, học sinh giỏi các cấp.
 - Tích cực tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi học sinh yếu môn toán.
 - Tổ chức thi chất lượng, thi khảo sát định thật nghiêm túc, khác quan.
V.KẾT LUẬN.
Sau gần hai năm trực tiếp chỉ đạo công tác nâng cao chất lượng dạy và học của 
nhà trường tới nay trường THCS Phúc Hoà đã thu được một số thành tích đáng 
khích lệ:
 7 + Chất lượng giáo dục ngày một tăng.
+ Chất lượng môn toán nâng lên rõ rệt
+ Phong trào học sinh giỏi tăng lên cả và số lượng và chất lượng
+ Số lượng học sinh sợ học môn toán giảm xuống, số học sinh thích học toán 
tăng lên
+ Học sinh thi vào lớp 10 bị điểm kém ở môn toán không nhiều
+ Chất lượng đội ngũ được nâng lên rõ rệt: Hàng năm có giáo viên giỏi ở bộ 
môn toán; giáo viên của trường tham gia giảng dạy chuyên đề toán của cụm đạt 
kết quả tốt.
 Có được kết quả trên là cả một quá trình cố gắng, phấn đáu của thầy và trò 
trường THCS Phúc Hoà dưới sự lãnh đạo sát xao chặt chẽ của ban giám hiệu.
Tôi tin tưởng rằng với thành tích hiện tại là một nền móng vững chắc cho việc 
nâng cao dạy học môn toán của trường THCS Phúc Hoà.
 Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các ban đồng nghiệp và các nhà quản 
lý giáo dục về những giải pháp trên.
 Xin chân thành cảm ơn.
 Phúc Hoà, ngày 01 tháng 04 năm 2006
 Người viết.
 Giáp Thị Minh
 8 +
 9

File đính kèm:

  • docmot_so_giai_phap_de_nang_cao_chat_luong_bo_mon_toan_o_truong.doc