Một số kinh nghiệm của bản thân trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9 phần phân tử (ADN và gen)

docx13 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 11/02/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung Một số kinh nghiệm của bản thân trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9 phần phân tử (ADN và gen), để tải tài liệu về máy bạn hãy click vào nút TẢI VỀ
 PHÒNG GD&ĐT YÊN THẾ
 TRƯỜNG THCS ĐÔNG SƠN
 ----------
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI 
 GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH 
 CHU KỲ 2020-2024
Tên biện pháp: Một số kinh nghiệm của bản thân trong 
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9
phần phân tử (ADN và gen)
 Họ và tên: Bùi Tố Anh
 Môn: Sinh học
 Trình độ chuyên môn: Đại học
 Chức vụ: Giáo viên
 Đơn vị công tác: Trường THCS Đông Sơn
 Đông Sơn, tháng 10 năm 2022 2
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
 Trong chương trình sinh học 9 các em học sinh sẽ được tìm hiểu về di 
truyền và biến dị, sinh vật và môi trường. 
 Trong số các kiến thức đó thì di truyền cấp độ phân tử (ADN và gen) là 
phần rất quan trọng. Nó mang lại cho các em hệ thống kiến thức để có thể giải 
thích nhiều câu hỏi trong thực tế như: 
 Tại sao con cái lại giống với bố mẹ? 
 Bằng cách nào biết đựơc chính xác mình là con của ai?
 Tính trạng là gì? Cái gì quy định tính trạng?
 Xét nghiệm ADN có vai trò gì trong đời sống?...
 Đồng thời giáo dục cho các em ý thức và thói quen bảo vệ cơ thể, môi 
trường để hạn chế tối đa những dị tật bẩm sinh di truyền xảy ra. 
 Để vận dụng được các kiến thức lý thuyết di truyền vào giải các bài tập 
phần phân tử (ADN và gen) là điều rất khó khăn cho các em học sinh. Bởi lẽ 
phân phối chương trình quy định thời gian dành cho việc vận dụng và giải bài 
tập rất ít thậm chí không có cho nên giáo viên không có thời gian để hướng dẫn, 
giải các dạng bài tập này trên lớp. Hơn nữa trong chương trình trên lớp không 
đưa ra các công thức, hướng giải để học sinh áp dụng nhưng trong các đề thi học 
sinh giỏi các cấp.
 Vì vậy giáo viên bộ môn sinh học cần hình thành cho các em, nhất là các 
em thi học sinh giỏi môn sinh học những kỹ năng cơ bản để giải các dạng bài tập 
phần phân tử (ADN và gen) để các em tự tin vững bước bước vào các vòng thi 
học sinh giỏi.
 Trong quá trình giảng dạy môn sinh học lớp 9, tôi đã nghiên cứu, tìm 
hiểu, tổng hợp kiến thức về các dạng bài tập phần phân tử (về ADN và gen) và 
mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm về "Một số kinh nghiệm của bản thân 
trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9 phần phân tử (ADN 
và gen)" để giúp các em có được một phần kiến thức nhỏ trong tổng số các dạng 
bài tập ôn luyện học sinh giỏi cấp trường, huyện, tỉnh; từ đó kích thích hứng thú 
học tập, sự say mê nghiên cứu tìm tòi ở các em đồng thời chia sẻ cùng các đồng 
chí đồng nghiệp cùng chuyên môn về lĩnh vực này.
 Kính mong nhận được sự quan tâm chia sẻ để sáng kiến được hoàn thiện 
hơn từ đó đẩy mạnh công tác dạy và học, đặc biệt là công tác bồi dưỡng học sinh 
giỏi môn sinh học trong nhà trường. 3
PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 I. Thực trạng về việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9 ở trường 
THCS Đông Sơn
 1. Mô tả ngắn gọn giải pháp đã biết
 Bồi dưỡng học sinh giỏi hàng năm là một công việc hết sức được chú trọng 
của toàn ngành nói chung và của trường THCS Đông Sơn nói riêng. Trong các 
năm qua, khi bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9, tôi và nhiều giáo viên 
khác thường tiến hành theo các bước sau:
 - Bước 1: Lập danh sách đội tuyển.
 - Bước 2: Tiến hành bồi dưỡng.
 + Hệ thống hóa kiến thức lý thuyết theo các bài đã học theo kiểu đọc, chép;
 + Đưa ra hệ thống các công thức cho học sinh học thuộc, ghi nhớ; 
 + Giải một số bài tập liên quan;
 + Giao các bài tập về nhà tự giải;
 - Bước 3: Học sinh đi thi học sinh giỏi các cấp.
 2. Ưu điểm, hạn chế của giải pháp đã biết
 * Về ưu điểm: Học sinh được cung cấp sẵn kiến thức lý thuyết cơ bản, các 
các công thức liên quan và các dạng bài tập tập của chủ đề ADN và gen chỉ cần 
học thuộc và áp dụng theo.
 * Tuy nhiên còn một số hạn chế:
 Học sinh không chủ động, sáng tạo, không giải được bài tập nếu đề bài cho 
các sự kiện khác đi hoặc đề bài cho vận dụng cao;
 Chưa tạo được hứng thú cho các em trong học tập, học sinh học thuộc vẹt 
lý thuyết và nhớ máy móc các công thức;
 Các kỹ năng phân tích đề, khai thác các dữ kiện, tư duy, khái quát, vận 
dụng vào giải các bài tập vận dụng cao trong đề thi còn chậm, kém; 
 Khả năng tự học, tự giải quyết vấn đề còn nhiều hạn chế.
 Chính vì vậy tôi xin đưa ra một số giải pháp mới (theo kinh nghiệm của 
bản thân đã đúc kết) để khắc phục hạn chế của giải pháp cũ như sau:
 II. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến
 1. Mục đích của giải pháp
 Nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9 (phần 
phân tử) trong đó chú trọng đến khả năng khái quát hóa vấn đề, kỹ năng giải bài 
tập cho học sinh, tạo hứng thú học tập, say mê nghiên cứu, tìm hiểu kiến thức và 
quan trọng nhất là dạy cho các em biết cách khai thác, phân tích đề bài, tìm ra 
con đường chinh phục tất cả các bài tập, các dạng bài tập chứ không phải giải 
bài nào biết bài đấy, không phải chỉ học thuộc vẹt câu nào biết câu đấy. 4
 2. Mô tả chi tiết nội dung của giải pháp
 Giải pháp chung: 
 Đối với giáo viên tham gia bồi dưỡng: Có thể nói, để nâng trình độ kiến 
thức, kỹ năng học sinh thì trước hết giáo viên phải nâng cao trình độ, tác phong 
và phong cách sư phạm của mình. Điều đó thể hiện ở chỗ: khả năng diễn đạt, 
trình bày, tổ chức hoạt động cho học sinh, đặc biệt phải nói đến tinh thần trách 
nhiệm, lòng đam mê, tình yêu nghề nghiệp, kiến thức sâu rộng của giáo viên.
 Đối với học sinh bồi dưỡng:
 Cần nâng cao nhận thức cho các em để các em thấy được tầm quan trọng 
của việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ bản thân. Đối với học sinh có 
năng khiếu môn sinh, cần tiến hành bồi dưỡng ở trên lớp trong những giờ dạy 
chính khóa và hướng dẫn học sinh cách tự học, bồi dưỡng từ lớp 6 đến lớp 9.
 Đối với phụ huynh học sinh có con em tham gia đội tuyển bồi dưỡng:
 Cần vận động, tuyên truyền để phụ huynh hiểu được vai trò, tầm quan 
trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi cho con em mình; cần mua thêm các tài 
liệu do giáo viên yêu cầu; tạo mọi điều kiện tốt nhất về mặt tư tưởng, thời gian 
cho con em mình.
 Đối với nhà trường:
 Cần đảm bảo các điều kiện hỗ trợ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi: đồ 
dùng dạy học, trang thiết bị, tài liệu tham khảo...
 Giải pháp cụ thể:
 Bước 1. Tư vấn, lựa chọn đối tượng bồi dưỡng.
 Có thể nói "đầu xuôi thì đuôi lọt" chính vì vậy bước tư vấn, lựa chọn đối 
tượng bồi dưỡng là rất quan trọng. Bản thân tôi trong quá trình giảng dạy trên 
lớp đã lồng ghép nội dung tư vấn hướng nghiệp, lựa chọn con đường cho học 
sinh từ lớp 6 đến lớp 9, để các em thấy được điểm mạnh, tiềm năng của bản thân 
từ đó lựa chọn môn học, ngành học sau này cho phù hợp. 
 Để có được đội tuyển bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9 tôi phải để 
ý, tìm hiểu, lựa chọn đối tượng học sinh sinh từ lớp dưới, mặc dù lớp 6 và lớp 7 
chưa có kỳ thi chọn học sinh giỏi các cấp cho các em tham gia. 
 Bên cạnh đó, trong quá trình bồi dưỡng tôi luôn bám sát từng đối tượng và 
loại bỏ những đối tượng không phù hợp, tránh gây ảnh hưởng đến những đối 
tượng tích cực và cũng tránh trường hợp cho học sinh tham gia nhưng kiến thức 
và kỹ năng quá thấp dẫn đến kết quả rất thấp, tạo tâm lý không tốt cho học sinh 
cũng như hình ảnh của giáo viên, nhà trường. 
 Bước 2: Lập kế hoạch, mục tiêu.
 Việc lập kế hoạch và mục tiêu bồi dưỡng của giáo viên tưởng chừng bình 
thường, không quan trọng nhưng lại là một việc vô cùng quan trọng, mang lại sự 
chủ động, kết quả cao cho công tác bồi dưỡng của giáo viên. 5
 Đây là một việc mà ngay cả giảng dạy bình thường trên lớp đầu tiên luôn 
phải xây dựng kế hoạch dạy học cho từng môn trước khi bước vào giảng dạy. 
Người giáo viên bồi dưỡng phải nắm chắc được từng chủ đề cần bồi dưỡng 
trong mỗi chủ đề xác định rõ kiến thức cơ bản, trọng tâm, cốt lõi từ đó xây dựng 
số tiết dạy cho phù hợp từng chủ đề.
 Bên cạnh đó tôi còn xây dựng kế hoạch cho từng tháng, từng tuần và luôn 
bám sát kế hoạch đó. Nếu có công việc khác ảnh hưởng hay tuần đó nhà trường 
nhiều việc không bố trí, sắp xếp được lịch ôn hay không thực hiện được kế 
hoạch đề ra của cá nhân trong tuần thì sang tuần sau tôi sẽ phải dạy bù để không 
làm giảm tiến độ dự kiến. Đặc biệt trong kế hoạch của bản thân cần phải chủ 
động, tranh thủ thời gian vào các ngày nghỉ và các buổi tối (học online qua 
zoom, nhóm zalo) chứ không phụ thuộc hoàn toàn vào kế hoạch của nhà trường.
 Bước 3: Tiến hành bồi dưỡng
 Trong quá trình bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Sinh học 9 chủ đề 
ADN và gen tôi đã tìm ra một số giải pháp để đạt được mục tiêu đề ra như sau: 
 Giải pháp thứ nhất: Hệ thống hóa kiến thức cơ bản của chủ đề bằng sơ 
đồ tư duy.
 Đây là một phương pháp giúp học sinh ghi nhớ được các ý chính và khái 
quát vấn đề, xây dựng và phát triển khả năng tư duy, những ý tưởng mới được 
nảy sinh qua việc vẽ các sơ đồ tư duy. 
 Hơn thế nữa qua việc vẽ sơ đồ tư duy, học sinh hứng thú trong công học 
tập không bị nhàm chán như khi học lý thuyết.
 Giải pháp thứ hai: Hướng dẫn học sinh làm và sử dụng các mô hình tự 
làm để khắc sâu kiến thức và rút ra được các công thức phục vụ cho làm 
bài tập liên quan.
 Trong chủ đề ADN và gen là quá trình phân bào xảy ra trong tế bào, trong 
thực tế học sinh không nhìn thấy những quá trình này. Vì vậy một số em học 
phần này thấy rất trừu tượng, khó nhớ, không hiểu bản chất, chỉ học thuộc vẹt 
cho nên các em gặp rất nhiều khó khăn về giải các bài tập liên quan đến chúng.
 Để giải quyết được những khó khăn trên tôi đã cho học sinh trực tiếp làm 
mô hình cấu tạo của ADN, mARN, Protein và diễn tả quá trình nhân đôi ADN, 
tổng hợp ARN, tổng hợp Protein bằng các nguyên vật liệu tái chế, dễ tìm kiếm, 
rẻ tiền như: ống hút, dây thép, băng dính.... Khi đó học sinh sẽ hiểu bản chất, 
ghi nhớ bền vững và vận dụng tốt vào các dạng bài tập liên quan. Đặc biệt đây là 
chìa khóa mở ra đáp án cho nhiều dạng bài tập trong chủ đề này.
 Sau khi học sinh làm mô hình về ADN, mARN, Protein đã nắm chắc kiến 
thức về cấu tạo, các quá trình tổng hợp ADN, mARN, Protein, có hứng thú, say 
mê tìm hiểu, nhớ lâu, nhớ đúng bản chất, không phải học vẹt phần lý thuyết. Đặc 
biệt hiểu rất rõ bản chất, cấu tạo, diễn biến các quá trình cũng như tự rút ra được 
các công thức liên quan là chìa khóa giải nhiều dạng bài tập liên quan trong chủ 
đề ADN và gen như: 6
 Dạng 1. Xác định trình tự nuclêôtit trên ADN khi biết trình tự sắp xếp 
các nuclêôtit trên 1 mạch đơn hay xác định trình tự nuclêôtit của gen 
(ADN) khi biết trình tự nuclêôtit của ARN. 
 * Nguyên tắc xác định: Dựa vào nguyên tắc bổ sung trong cấu tạo của phân 
tử ADN (A liên kết với T, G liên kết với X), nguyên tắc bổ sung trong quá trình 
tổng hợp mARN từ gen (A gốc liên kết với rU; T gốc liên kết với rA; X gốc liên 
kết với rG; G gốc liên kết với rX). 
 Vậy để giải các bài tập dạng này nếu không được tận tay làm mô hình phân 
tử ADN, mARN thì học sinh sẽ ghi nhớ máy móc, không hình dung ra được cấu 
tạo, liên kết giữa các đơn phân, học sinh dễ nhầm lẫn. Chính vì vậy khi tôi cho 
học sinh trực tiếp làm, quan sát lại mô hình phân tử ADN, mARN mình đã làm, 
chỉ ra nguyên tắc bổ sung của các nuclêôtit giữa 2 mạch của gen, quá trình hình 
thành mARN thì học sinh khắc ghi, vận dụng làm được dạng bài này rất tốt.
 Dạng 2. Xác định một số đại lượng liên quan: 
 + Tổng số nuclêôtit, chiều dài, số vòng xoắn, khối lượng của gen; 
 + Tổng số nuclêôtit, chiều dài, số vòng xoắn, khối lượng của mARN;
 + Số liên kết hiđro, liên kết hóa trị có trong gen, trong mARN;
 + Số axit amin, số liên kết peptit, số phân tử nước được giải phóng trong 
quá trình tổng hợp phân tử Protein .....
 * Nguyên tắc xác định: Dựa vào cấu tạo, cấu trúc không gian, quá trình 
tổng hợp của ADN, ARN, Protein rút ra các công thức tổng quát và vận dụng 
làm bài tập liên quan.
 Bài tập minh họa
 Trong phân tử ADN gồm 2 gen, trong đó gen 1 dài là 0,51(µm), gen 2 có 
2400 (Nu). Hãy xác định:
 a. Chiều dài của mỗi gen trên bằng bao nhiêu A0? 
 b. Tổng số Nu của gen 1 bằng bao nhiêu?
 c. Khối lượng của mỗi gen bằng bao nhiêu đvC? Biết 1 Nu = 300 đvC
 d. Số vòng xoắn của mỗi gen trên?
 Hướng dẫn: Căn cứ vào mô hình cấu trúc không gian của ADN: Mỗi vòng 
xoắn gồm 10 cặp nuclêôtit (20 Nu), dài 34 A0, mỗi Nu có khối lượng 300 đvC.
 Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
? Biết chiều dài của gen là 0,51(µm), 
đổi sang đơn vị A0 như thế nào?
? Gen 2 có Nu = 2400 thì gen 2 dài 
bao nhiêu A0?
? Biết gen 1 dài 5100 A0, biết khoảng 
cách giữa 2 Nu kế tiếp là 3,4A0, vậy 
tổng số Nu của gen 1? 7
? Mỗi Nu có khối lượng 300đvC
Vậy 3000 Nu có khối lượng ? đvC
Vậy 2400 Nu có khối lượng ? đvC
Mỗi vòng xoắn có 10 cặpNu = 20 Nu
Vậy 3000 Nu thì gen 1 có ? vòng xoắn
Vậy 2040 Nu thì gen 2 có ? vòng xoắn 
Hoặc hướng dẫn giải theo các bước 
trong sơ đồ sau: 
 N
 C Giải: 
 20 a. Chiều dài của gen 1 là:
 0
 L1 = 0,51(µm) = 5100 (A )
 M = N. 300 đvC Chiều dài của gen 2 là: 
 Bước 3 N
 L 3,4 4080 (A0)
 Bước 2 2 2
 2L
 N b. Tổng số Nu của gen 1 là: 
 3,4 2L 2 5100
 N N 3000(Nu)
 Bước 1 3,4 3,4
 c. Khối lượng của mỗi gen là: 
 0 5
 L = 5100 (A ) M1 = 3000 300 = 9. 10 (đvC)
 4
 M2 = 2400 300 = 72. 10 (đvC)
Hoặc theo sơ đồ: d. Số vòng vòng xoắn của mỗi gen là: 
 N 3000
 C = 150 (vòng xoắn)
 L 1 20 20
 C 
 N 2400
 34 C 120 (vòng xoắn)
 M = N. 300 đvC 2 20 20
 Bước 3 Bước 2
 2L
 N 
 3,4
 Bước 1
 Một số công thức tự rút ra:
 0
 L = 5100 (A ) 2L M
 (1): N C.20
Qua đó sẽ hướng dẫn HS rút ra được 3,4 300
hệ thống công thức. N
 (2): L 3,4(A0 ) C 34(A0 )
 2
 N L
 (3): C = 
 20 34
 (4): M = N. 300 (đvC)
 Trong đó: 
 N: Tổng số Nu của ADN/gen
 L: Chiều dài của ADN/gen
 C: Số chu kỳ xoắn của ADN/gen 8
 * Những sai lầm thường gặp của học sinh trong dạng này: Học sinh nhớ 
nhầm công thức, nhớ máy móc, cố nhớ.
 * Cách khắc phục: Cho học sinh tận tay làm mô hình ADN/gen, ARN, 
Protein để các em thấy rõ được bản chất từng đại lượng, trực tiếp rút ra các công 
thức liên quan chứ không học thuộc, học vẹt, cố nhớ công thức.
 Giải pháp thứ ba: Hướng dẫn học sinh giải bài toán bằng cách lập sơ 
đồ các bước giải qua phân tích các sự kiện đề bài bài. (tìm đường đi chứ 
không đi theo lối mòn)
 Đối với cách này cần hướng dẫn để trang bị cho học sinh “chiếc cần câu’’ 
chứ không phải mang cho học sinh “những con cá”. Vì kiến thức mênh mông 
biển cả, giáo viên không thể dạy hết, làm hết các bài tập, hay dạy đúng tủ cho 
học sinh mà cần phải dạy cách học, cách đi “câu” những con cá như thế nào.
 Tôi đã thực hiện cách này để hướng dẫn học sinh giải các bài tập tổng 
hợp, bài khó. Tôi nhận thấy cách này rất hay và không gây áp lực với học sinh 
khi bồi dưỡng. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh con đường đi, cách đi để học 
sinh tự mình giải được các bài tập trong chủ đề ADN và gen một cách chủ động, 
sáng tạo mà không khuân mẫu, khô khan hay ép buộc.
 Bài tập minh họa: 
 Ở một loài động vật lưỡng bội, 1 gen có tổng 3000 Nu đã tiến hành nhân 
đôi liên tiếp một số lần và đã sử dụng của môi trường nguyên liệu tương đương 
với 21000 Nu. Mỗigen con sau nhân đôi đã tiến hành sao mã 3 lần, trên mỗi mã 
sao có 2 riboxom trượt 1 lần không lặp lại để tổng hợp ra các chuỗi polypeptit. 
Hãy xác định:
 a. Số lần nhân đôi của gen ban đầu?
 b. Số ribonu môi trường nội bào đã cung cấp cho quá trình tổng hợp ra các 
phân tử mARN trên? 
 c. Số chuỗi polypeptit được tạo ra?
 d. Số axit amin môi trường phải cung cấp cho toàn bộ quá trình trên?
 e. Số phân tử nước được giải phóng ra trong toàn bộ quá trình tổng hợp các 
chuỗi polypeptittrên?
 Giải:
 - Gọi x là số lần nhân đôi của gen ban đầu, x nguyên dương.
 - Theo bài ra ta có sơ đồ:
1 gen ban đầu Nhân đôi x lần? 1. 2x (gen con) mỗi gen sao mã 3 lần 1. 2x.3mARN
(N = 3000 nu) Nu MTCC = 21000 nurN MTCC =?
 2 riboxom trượt1 lần/1mARN 
 1. 2x .3.2 Chuỗi polypeptit 
 (Số aa môi trường cung cấp =? 
 Số phân tử nước được giải phóng =?) 9
 Từ sơ đồ trên ta có:
 a. Số lần nhân đôi của gen ban đầu:
 - Khi gen ban đầu (N = 3000 Nu) nhân đôi x lần, môi trường nội bào đã 
 x x 21000 x
cung cấp 2100 Nu N.(2 1) 21000 2 1 2 8 x =3
 3000
 - Vậy gen trên đã nhân đôi 3 lần liên tiếp.
 b. Số ribonu môi trường nội bào đã cung cấp cho quá trình tổng hợp ra các 
phân tử mARN trên:
 - Số gen con được tạo ra sau 3 lần nhân đôi: 1. 23= 8 (gen con)
 - Số phân tử mARN được tạo ra sau quá trình sao mã: 
 8.3 = 24 (phân tử mARN). 
 N 3000
 - Số ribonu môi trường nội bào đã cung cấp: .24 .24 36000 (rN).
 2 2
 c. Số chuỗi polypeptit được tạo ra:
 - Trên mỗi mARN có 2 riboxom trượt 1 lần không lặp lại sẽ tổng hợp được 
2 chuỗi polypeptit.
 - Vậy có 24 phân tử mARN tham gia tổng hợp chuỗi polypeptit.
 Số chuỗi polypeptit được tạo ra: 24.2 = 48 (chuỗi polypeptit).
 d. Số axit amin môi trường phải cung cấp cho toàn bộ quá trình trên:
 - Số axit amin môi trường phải cung cấp cho quá trình tổng hợp 1 chuỗi 
 N 3000
polypeptit: 1 1 499 (axit amin). Vì bộ ba kết thúc không mã hóa 
 2.3 6
axit amin. 
 - Số axit amin môi trường phải cung cấp cho toàn bộ quá trình tổng hợp các 
chuỗi polypeptit: 499. 48 = 23952 (axit amin).
 e. Số phân tử nước được giải phóng ra trong toàn bộ quá trình tổng hợp các 
chuỗi polypeptittrên:
 - Trong chuỗi polypeptit cứ 2 axit amin liên tiếp nhau sẽ liên kết với nhau 
bằng 1 liên kết peptit và giải phóng ra 1 phân tử nước.
 Vậy số phân tử nước được giải phóng ra trong toàn bộ quá trình tổng hợp 
48 chuỗi polypeptittrên là: (499 - 1). 48 = 23904 (phân tử nước)
 * Những sai lầm thường mắc của học sinh trong dạng này: 
 - Làm mò, cứ thay vào các công thức, may thì đúng.
 - Không viết được đầy đủ, chính xác sơ đồ tóm tắt toàn bài.
 - Chưa biết hoặc rất chậm khi mốc nối các sự kiện trong bài.
 * Cách khắc phục: 
 - Hiểu rõ bản chất từng quá trình nhân đôi ADN, sao mã tổng hợp mARN, 
giải mã tổng hợp protein.
 - Rèn cho học sinh tóm tắt, móc nối các dữ kiện bài toán theo sơ đồ.
 - Khi giải bài toán luôn bám sát từng bước trong sơ đồ kết hợp khai thác, 
móc nối các sự kiện đã cho trong bài, giải theo từng bước trong sơ đồ. 10
 Giải pháp thứ tư: Khảo sát sau mỗi chủ đề và chỉ ra những sai lầm 
của học sinh trong mỗi bài, mỗi dạng.
 Việc khảo sát học sinh sau mỗi chủ đề bồi dưỡng rất quan trọng và mang 
lại nhiều lợi ích cho học sinh. Bởi lẽ giáo viên sẽ biết được học sinh của mình 
dạng bài nào đã nắm rõ bản chất, cách làm, dạng bài nào còn trình bày chưa tốt, 
kỹ năng chưa đạt hay kiến thức còn rỗng ở đâu để có biện pháp khắc phụ tồn tài 
đó. Chính vì vậy học sinh mới ngày một tiến bộ hơn.
 Bước 4. Học sinh đi thi học sinh giỏi các cấp và tìm ra ưu điểm, tồn tại 
sau thi.
 Ở bước này nhiều giáo viên bỏ qua hoặc không coi trọng nhưng bản thân 
tôi thì không thể bỏ qua và coi đó là một bài học bổ ích cho cả cô và trò. Sau khi 
học sinh được khảo sát ở cấp trường tôi cho học sinh làm lại một lần lữa bài làm 
của mình và chỉ cho các em từng ưu, khuyết điểm của mình trong từng bài. Qua 
đó học sinh có được bài học kinh nghiệm sâu sắc về vấn đề đó, đồng thời đó 
cũng là bài học để các em đi thi học sinh giỏi cấp tiếp theo không vi phạm sai 
lầm đó. Tương tự như vậy, sau khi thi cấp huyện tôi cũng làm như vậy để các 
em có kinh nghiệm cho thi cấp tỉnh.
 3. Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp so với giải pháp đã 
biết: 
 Giải pháp ban đầu Giải pháp mới
 (Trước khi áp dụng sáng kiến) (Sau khi áp dụng sáng kiến)
- Bước 1: Lập danh sách đội tuyển. - Bước 1: Tư vấn, lựa chọn đối tượng 
- Bước 2: Tiến hành bồi dưỡng. bồi dưỡng.
+ Hệ thống hóa kiến thức lý thuyết - Bước 2: Lập kế hoạch, mục tiêu.
theo các bài đã học theo kiểu đọc, - Bước 3: Tiến hành bồi dưỡng.
chép; + Giải pháp thứ nhất: Hệ thống hóa 
+ Đưa ra hệ thống các công thức cho kiến thức cơ bản của chủ đề bằng sơ đồ 
học sinh học thuộc; tư duy.
+ Giải một số bài tập liên quan; + Giải pháp thứ hai: Làm và sử dụng 
+Giao các bài tập về nhà tự giải. các mô hình tự làm để khắc sâu kiến 
 thức và tự rút ra được các công thức 
- Bước 3: Học sinh đi thi học sinh giỏi phục vụ cho làm bài tập liên quan.
các cấp.
 + Giải pháp thứ ba: Hướng dẫn học 
 sinh giải bài tập tổng hợp theo sơ đồ 
 (tìm đường đi chứ không đi theo lối 
 mòn)
 + Giải pháp thứ tư: Khảo sát, luyện đề 
 sau mỗi chủ đề và chỉ ra những sai lầm 
 của học sinh trong mỗi dạng, mỗi bài. 11
 - Bước 4. Học sinh đi thi học sinh giỏi 
 các cấp và tìm ra ưu điểm, tồn tại sau 
 thi, khắc phục tồn tại trong các lần thi 
 sau.
* Hiệu quả: * Hiệu quả:
- Học sinh thụ động lĩnh hội kiến thức, - Học sinh chủ động, sáng tạo, hứng thú 
cố đọc cho thuộc, ghi nhớ và làm theo trong việc tìm cách thức, con đường 
một cách máy móc các công thức đã giải các bài tập trong chủ đề từ lý 
được liệt kê và hướng dẫn giải mẫu thuyết cơ bản, đồ dùng, trang thiết bị 
của giáo viên. phục vụ trong phòng học tập.
- Kỹ năng phân tích đề bài, định - Học sinh được rèn luyện cách phân 
hướng cách giải, kỹ năng giải bài tập tích đề bài, khai thác dữ kiện, nâng cao 
còn rất nhiều hạn: Khi gặp đề tương tự kiến thức, kỹ năng giải các bài tập, 
hoặc khác một chút là lúng túng, đúng được chỉ ra những tồn tại sai lầm 
không tìm ra cách giải. thường mắc phải và được đánh giá 
 năng lực thông qua bài kiểm tra sau chủ 
 đề. 
 Qua đó điểm khác biệt, tính mới của giải pháp mới đã được bộc lộ rất rõ 
qua quy trình bồi dưỡng học sinh giỏi, cách thức tìm lời giải, cách giải các dạng 
bài tập không nhàm chán, tạo được hứng thú, chủ động, sáng tạo trong học tập 
và đặc biệt dạy các em biết cách tìm ra con đường, cách thức giải được bài tập 
chính xác, luôn hiểu rõ bản chất vấn đề mà không phải học thuộc công thức, 
không học vẹt. 
 4. Hiệu quả, lợi ích thu được khi áp dụng giải pháp mới
 + Trước khi áp dụng giải pháp: Học sinh không hệ thống hóa được kiến 
thức, chỉ là học vẹt; không có kỹ năng giải bài tập liên quan; không có hứng thú 
học tập.... Cụ thể kết quả khảo sát 04 học sinh là học sinh khá, giỏi môn sinh của 
trường THCS Đông Sơn trước khi áp dụng giải pháp như sau:
 Giỏi Khá Trung bình Yếu, Kém
 Số học sinh
 SL % SL % SL % SL %
 4 0 0 2 50 2 50 0 0
 + Hiệu quả sau khi áp dụng giải pháp: Sau khi nghiên cứu và áp dụng giải 
pháp này, qua khảo sát tôi nhận thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt, các em đều đã 
có kỹ năng giải bài tập trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9. Kết quả 
khảo sát của 04 học sinh khá, giỏi môn Sinh học 9 (phần phân tử) của trường 
năm học 2021 - 2022:
 Giỏi Khá Trung bình Yếu, Kém
 Số học sinh
 SL % SL % SL % SL %
 4 3 75 1 25 0 0 0 0 12
 So với kết quả khảo sát ban đầu chất lượng học sinh khá, giỏi đã được nâng 
lên rõ rệt.
 Trong số 04 em trên tôi đã chọn ra 3 em để bồi dưỡng ở trường tiếp và 
tham dự kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp huyện. 
 Kết quả bồi dưỡng học sinh tham dự kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp huyện 
năm học 2021-2022 (có 03 học sinh tham dự, trong đó đã đạt 01 giải ba và 1 giải 
khuyến khích).
 Kết quả khảo sát lần 2 chọn đội tuyển chính thức đi tham dự đội tuyển học 
sinh giỏi cấp tỉnh: có 2 học sinh đủ điều kiện tham gia và đã đạt 01 giải nhì.
PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP
 1. Kết quả khảo sát học sinh (bảng số liệu so sánh trước khi áp dụng giải 
pháp và sau khi áp dụng – mục 4 của báo cáo này).
 2. Kết quả bồi dưỡng học sinh tham dự các kỳ thi học sinh giỏi
 - Số liệu về học sinh giỏi các cấp
 Năm học Cấp trường Cấp huyện Cấp tỉnh
 2020-2021 2 0 0
 01 giả ba
 2021-2022 3 01 giả nhì
 01 giải khuyến khích
 - Giải học sinh giỏi huyện năm học 2021-2022 theo quyết định số 268/QĐ-
PGDĐT ngày 01 tháng 4 năm 2022: (01 giả ba, 01 giải khuyến khích)
 - Giải học sinh giỏi tỉnh năm học 2021-2022 theo quyết định số 195/QĐ-
SGDĐT ngày 14 tháng 3 năm 2022: (01 giả nhì)
 3. Kế hoạch dạy học, sơ đồ tư duy, đề khảo sát...
PHẦN D. CAM KẾT
Tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; các biện pháp đã triển 
khai thực hiện và minh chứng về sự tiến bộ của học sinh là trung thực.
 Đông Sơn, ngày 03 tháng 10 năm 2022
 GIÁO VIÊN
 Bùi Tố Anh 13
PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG
1. Đánh giá, nhận xét của tổ chuyên môn
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
 TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN
 Dương Thị Quỳnh Anh
2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
 Đông Sơn, ngày 04 tháng 10 năm 2022
 HIỆU TRƯỞNG
 Phạm Tuấn Ngọc

File đính kèm:

  • docxmot_so_kinh_nghiem_cua_ban_than_trong_cong_tac_boi_duong_hoc.docx
Bài giảng liên quan