Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn bằng phương pháp thảo luận nhóm

doc28 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 11/02/2026 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn bằng phương pháp thảo luận nhóm, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
 PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm 
 Dạy học nói chung, dạy Ngữ văn nói riêng, điều quan trong nhất là làm thức 
dậy được tình yêu, niềm say mê đối với môn học. Vậy nên với giáo viên rất cần có sự 
đổi mới, vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học nhằm mục đích tạo hứng thú giúp 
học sinh tích cực chủ động trong học tập. Nhưng việc đổi mới phương pháp dạy học 
như thế nào để dạy và học Ngữ văn tích cực hơn, hiệu quả hơn và gợi được hứng thú 
học tập của học sinh lại không phải vấn đề đơn giản, không thể thực hiện một cách 
máy móc, rập khuôn đòi hỏi chúng ta phải có quá trình chuẩn bị, lựa chọn phương 
pháp, sao cho phù hợp với đặc điểm tình hình học tập của học sinh ở từng địa phương, 
từng trường, từng lớp. Phương pháp dạy học là một trong những yêu cầu quan trọng 
đối với sự thành công trong giờ giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh. Làm 
việc theo nhóm là một trong những phương pháp dạy học được áp dụng trong đổi mới 
phương pháp dạy học hiện nay nhằm phát huy được tính tích cực của người học, dạy 
học hướng về người học. Phương pháp dạy học theo nhóm không chỉ giúp đơn giản 
hóa kiến thức của môn học mà nó còn giúp khơi dậy lòng ham mê học tập của học 
sinh, tránh lối học thụ động, giúp học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề theo 
nhóm, có tinh thần đoàn kết cao. Học sinh hợp tác hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học 
tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân bằng phương pháp tự học và 
khám phá thêm những kiến thức liên quan từ thực tiễn và nhớ kiến thức lâu hơn, tránh 
sự nhàm chán đối với môn học, đặc biệt là bộ môn Ngữ văn.
 Vậy ®Ó tạo được hứng thú cho học sinh đối với môn Ngữ văn¸ tôi đã quyết định 
chọn và nghiên cứu đề tài: Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn bằng phương pháp 
thảo luận nhóm .
2. Mục ®Ých nghiên cứu
 1 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám - Thu thập kịp thời, chính xác thông tin về mức độ đạt yêu cầu theo mục tiêu môn 
học thông qua hoạt động nhóm.
 - Vận dụng dạy học bằng phương pháp làm việc theo nhóm trong dạy học môn 
Ngữ văn nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng 
dạy học bộ môn khắc phục tình trạng học sinh không thích học văn hiện nay.
 - Xác định kết quả chính xác trình độ, năng lực học tập của học sinh trên mặt bằng 
chất lượng chung vào những thời điểm nhất định có tính chiến lược.
 - Khơi gợi hứng thú học tập và rèn kĩ năng giao tiếp, trình bày, ý thức tự học 
nhằm phát huy tối đa năng lực của người học.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
 a. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 8CD Trường THCS Hoàng Hoa Thám
 b. Phạm vi nghiên cứu:
 - Phạm vi thời gian: Từ tháng 8/ 2016 đến tháng 2/ 2017. 
 - Phạm vi nội dung: Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn bằng phương pháp thảo 
luận nhóm .
4. Phương pháp nghiên cứu. 
 a. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
 - Nghiên cứu các Văn kiện Đại hội Đảng, Điều lệ trường trung học, Hướng dẫn 
thực hiện chương trình giáo dục của Bộ Giáo dục, Sở GD - ĐT Bắc Giang, Phòng 
GD& ĐT Yên Thế.
 - Giáo trình, sách của các nhà khoa học.
 - Tài liệu, Tạp chí...
 b. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
 - Quan sát, đàm thoại, trao đổi, khảo sát...
 2 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám c. Nhóm phương pháp hỗ trợ khác:
 - Thống kê, toán học, biểu bảng, sơ đồ...
5. Những đóng góp của đề tài
 - Qua việc nghiên cứu, áp dụng đề tài “Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn bằng 
phương pháp thảo luận nhóm” vào thực tế dạy học góp phần chốt lại vấn đề sẽ giúp 
học sinh nắm bắt, ghi nhớ được những nội dung cơ bản, cần thiết của bài học.Việc 
đánh giá chủ yếu là nội dung đạt được, nhưng bên cạnh đó cũng đánh giá ý thức, thái 
độ, năng lực làm việc của học sinh đới với môn Ngữ văn.
 - Kết quả học tập của các em sẽ là căn cứ quan trọng để điều chỉnh hoạt động dạy- 
học cho phù hợp với tình hình thực tế của người học.
 - Việc thực hiện đề tài sẽ góp phần tạo hứng thú niềm yêu thích, thay đổi thái độ 
với môn học.
 - Việc thực hiện dạy học theo nhóm không chỉ giúp học sinh tiếp thu bài, hứng thú 
với môn học mà còn giúp các em rèn kĩ năng làm việc tập thể, nâng cao được tính 
trách nhiệm của học sinh trong công việc cũng như trong cuộc sống.
 PHẦN II
 3 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ
I. Cơ sở lí luận và thực tiễn của sáng kiến kinh nghiệm.
1. Cơ sở lý luận .
 Nghị quyết số 29/2013/QH11, ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội khoá 
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định: “Tiếp tục đổi 
mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, 
chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối 
truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, 
khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, 
phát triển năng lực”.
 Điều lệ trường trung học ban hành theo quyết định số 12/2011/TT-BGDĐT 
ngày 28/3/2011của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi rõ: kế hoạch dạy học do 
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ( Điều 27).
 Từ những cơ sở lí luận trên, bắt đầu từ năm học 2014- 2015, Bộ GD&ĐT đã ra 
chủ trương đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương 
pháp, hình thức giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm 
chất của người học ở môn Ngữ văn THCS nói riêng và các môn học nói chung theo 
định hướng phát triển năng lực. với mục tiêu là giúp giáo viên có thể thấy và phân hóa 
được các mức độ tiếp nhận, lĩnh hội kiến thức của học sinh đến đâu để từ đó điều 
chỉnh cách dạy học sao cho học sinh có thể đạt được kết quả cao hơn trong học tập và 
rèn luyện. 
2. Cơ sở thực tiễn. 
 Môn Ngữ văn với mục tiêu đặc thù là rèn luyện cho học sinh biết cách tư duy 
hình tượng nghệ thuật, thành thạo các kĩ năng đọc - hiểu, cảm thụ tác phẩm văn 
chương, sử dụng nhuần nhuyễn các kĩ năng nghe - nói, đọc - viết nên cũng rất cần có 
sự đổi mới phương pháp dạy học sao cho dạy và học Ngữ văn tích cực hơn, hiệu quả 
 4 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám hơn và gợi được hứng thú học tập của học sinh lại không phải vấn đề đơn giản. Chính 
vì vậy để thực hiện một giờ học có hiệu quả thì người giáo viên cần phải sử dụng 
nhiều phương pháp như: phân tích, diễn giảng, vấn đáp, nêu vấn đề, gợi ý và đặc 
biệt để tạo một giờ học phong phú, sinh động thì việc sử dụng hình thức thảo luận 
nhóm sẽ giúp học sinh trao đổi ý với nhau, bổ sung cho nhau các kiến thức còn thiếu, 
học sinh sẽ sôi nổi hơn trong học tập. Đồng thời rèn kĩ năng làm việc tập thể và giáo 
dục ý thức trách nhiệm trong công việc cũng như sự tự tin trong giao tiếp. Tất cả 
nhằm đảm bảo yêu cầu chung là đổi mới mạnh mẽ tập trung dạy cách học, cách nghĩ, 
khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, 
phát triển năng lực.
3. Vai trò của phương pháp thảo luận nhóm. 
 - Phương pháp này kích thích lòng ham mê học tập của học sinh, tránh lối học 
thụ động.
 - Giúp học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề theo nhóm, có tinh thần đoàn 
kết cao khi làm việc tập thể.
 - Học sinh hợp tác hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều 
chỉnh vốn tri thức của bản thân bằng phương pháp tự học và khám phá thêm những 
kiến thức liên quan từ thực tiễn.
 - Khi nhóm thảo luận hoạt động dưới sự giám sát của thầy cô giáo, giúp hạn chế 
rất nhiều những thói quen xấu như nói chuyện riêng, thiếu tập trung, đùa giỡn 
 - Đa số học sinh đều dùng phương pháp suy luận và tư duy để giải quyết vấn đề. 
Nên khi tiến hành phương pháp thảo luận nhóm giúp các em khắc sâu và dễ nhớ 
những tri thức khoa học mà các em thu thập được .
II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
 5 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám 1. Thuận lợi
 Bản thân còn trẻ, giàu nhiệt huyết và hết mình trong công tác giảng dạy, có tinh 
thần học hỏi cao, được phân công giảng dạy theo đúng chuyên môn.
 Được sự quan tâm chỉ đạo về mặt tư tưởng , hướng dẫn chỉ đạo về chuyên môn 
của lãnh đạo nhà trường, sự giúp đỡ, trao đổi kinh nghiệm của các đồng nghiệp trong 
tổ chuyên môn, đặc biệt là sự tín nhiệm và tin yêu của hầu hết học sinh trong nhà 
trường. Đây là những động lực to lớn giúp tôi có điều kiện triển khai và thực hiện tốt 
nội dung: Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn bằng phương pháp thảo luận nhóm .
2. Khó khăn
 - Nhiều giáo viên chưa thực sự chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy học bằng 
hoạt động nhóm. Hoạt động nhóm chỉ được thực hiện trong các tiết hội giảng hoặc 
thanh tra nên khi thực hiện không thường xuyên dẫn đến không phát huy được hiệu 
quả thực sự của hoạt động nhóm.
 - Số lượng học sinh trên lớp cao hơn so với yêu cầu thực tế trong khi một số 
không nhỏ học sinh yếu kém còn thụ động trong hoạt động học tập.
 - Chương trình sách giáo khoa với lượng kiến thức dài khi tiến hành phương pháp 
thảo luận nhóm diễn ra mang tính hình thức chưa thực sự hiệu quả nhằm khơi gợi các 
em hứng thú học tập tạo không khí sôi nổi trong giờ học.
 - Điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế do diện tích phòng học chưa đáp ứng yêu 
cầu khi chia nhóm thảo luận.
3. Kết quả khảo sát thực trạng. 
 Thái độ và ý thức với môn học của học sinh. 
 Tổng số Thái độ
 Lớp
 học sinh Hứng thú Bình thường Không hứng thú
 8CD 68 12 =17,7% 40 = 58,8% 16= 23,5%
Kết quả khảo sát đầu năm học 2016- 2017.
 6 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám Líp TS Điểm 0-2,5 Điểm 3-4,5 Điểm 5-6,5 Điểm 7-8,5 Điểm 9-10
 HS TS % TS % TS % TS % TS %
8CD 68
 8 11,8 12 17,6 40 58,8 8 11,8 0
 Từ kết quả khảo sát trên cho thấy việc học tập bộ môn Ngữ Văn của học sinh líp 
8CD chưa thật có hứng thú, dẫn đến kết quả học tập thu được còn thấp. Có thể thấy 
thực trạng trên là do một số nguyên nhân sau:
 - Một bộ phận học sinh ý thức học tập còn thấp, còn học theo kiểu đối phó nắm 
bài không chắc, trong giờ học chưa thực sự tập trung nghe giảng. 
 - Đối với phần Tập làm văn, học sinh thường làm theo khuôn mẫu, sao chép các 
bài văn mẫu, chưa có sự sáng tạo trong những bài viết của mình.
 Trên cơ sở thực tiễn của việc dạy học bộ môn Ngữ văn nói chung và tiếp thu 
phương pháp dạy học đổi mới trong đó có Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn bằng 
phương pháp thảo luận nhóm.
III. C¸c giải pháp thực hiện và kết quả ứng dụng sáng kiến trong thực tiễn.
 1. Một số vấn đề liên quan khi hoạt động nhóm
 1.1 Bản chất của dạy học bằng phương pháp thảo luận nhóm.
 - Dạy học theo nhóm đuợc hiểu là cách dạy học trong đó học sinh được chia 
thành các nhóm nhỏ cùng nhau nghiên cứu thảo luận tìm hiểu vấn đề mà giáo viên đặt 
ra từ đó giúp học sinh tiếp thu được một lượng kiến thức nhất định nhằm giúp các em 
phát triển năng lực nhận thức, tư duy phát triển kĩ năng giao tiếp.
 - Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu 
làm việc theo nhóm là cần thiết. Đơn giản làm việc theo nhóm có thể tập chung những 
mặt mạnh của từng người và bổ xung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu.
 - Dạy học theo nhóm đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị kĩ lưỡng kế hoạch dạy học, 
lựa chọn những nội dung thực sự phù hợp với hoạt động nhóm và thiết kế được các 
hoạt động giúp các em lĩnh hội, khám phá kiến thức mới một cách tốt nhất.
 7 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám - Tổ chức dạy học nhóm là một hình thức dạy học mới. Đó là một trong những 
hình thức hỗ trợ đắc lực giúp thực hiện tốt việc dạy học phát huy tính tích cực và 
tương tác của học sinh. Với hình thức này học sinh được hấp dẫn, lôi cuốn vào các 
hoạt động học, thu nhận kiến thức bằng chính khả năng của mình với sự giúp đỡ, 
hướng dẫn của giáo viên.
 1.2 Đánh giá ưu nhược điểm của phương pháp dạy học theo nhóm. 
 a. Ưu điểm 
 - Hoạt động hợp tác trong nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân 
công hợp tác trong lao động xã hội, hiệu quả học tập sẽ tăng lên nhất là lúc phải giải 
quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân 
để hoàn thành công việc. 
 -Trong hoạt động hợp tác, mục tiêu hoạt động là của toàn nhóm, nhưng mỗi cá 
nhân được phân công một nhiệm vụ cụ thể, phối hợp nhau để đạt mục tiêu chung.
Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường có tác dụng chuẩn bị cho 
học sinh thích ứng với đời sống xã hội trong đó mỗi người sống và làm việc theo sự 
phân công hợp tác với tập thể cộng đồng. 
 - Tất cả các thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia chia sẻ ý kiến và kinh 
nghiệm của mình với cả nhóm. Trong quá trình quan sát các nhóm làm việc giáo viên 
có thể thay đổi cấu trúc của nhóm để tạo cơ hội cho các thành viên có dịp trao đổi 
nhiều người với nhau. Xây dựng ý thức làm việc theo nhóm. 
 b. Nhược điểm 
 - Dạy học theo nhóm có thể gây ồn trong lớp khó kiểm soát, vì vậy giáo viên cần 
chú ý giáo dục và rèn luyện kỹ năng hoạt động hợp tác trong nhóm cho học sinh.
 - Nhiều học sinh không thích học theo nhóm, vì muốn chứng tỏ khả năng của 
mình với giáo viên hơn là với bạn.
 - Trong nhóm có thể có 1 số học sinh tích cực, một số khác ỷ lại vào các bạn 
trong nhóm. 
 8 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám - Việc phân nhóm khó khăn mất nhiều thời gian khó có thể đánh giá trên kết quả 
thảo luận của nhóm. Vì vậy giáo viên cần kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của 
trò.
 1.3. Yêu cầu thực hiện phương pháp dạy học theo nhóm 
 - Cần kết hợp phương pháp dạy học theo nhóm với các phương pháp đặc trưng 
bộ môn trên cơ sở nội dung bài học. Các phương pháp này phát huy tính tự giác, tích 
cực chủ động, sáng tạo của học sinh dưới sự tổ chức chỉ đạo của giáo viên.
 - Việc lựa chọn đúng và sự kết hợp hài hoà các phương pháp dạy học nhằm đạt 
hiệu quả cao phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, nghệ thuật sư phạm và lòng nhiệt tình, 
ngoài trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và vốn sống của người thầy. 
 - Lớp học được chia làm 4 - 6 nhóm mỗi nhóm có khoảng 6 - 8 học sinh. 
 - Nhóm tự bầu ra 1 nhóm trưởng để điều khiển hoạt động của nhóm , một thư ký 
để ghi chép kết quả thảo luận của nhóm. 
 - Mỗi thành viên trong nhóm đều phải làm việc tích cực không được ỷ lại 1 vài 
người có hiểu biết và năng động hơn các thành viên trong nhóm giúp đỡ lẫn nhau tìm 
hiểu vấn đề trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi 
nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. 
 - Đến khâu trình bày kết quả làm việc của nhóm trước lớp, nhóm cử 1 đại diện 
hoặc nhóm trưởng phân công thành viên trình bày. 
 a. Cách thành lập nhóm:
 Việc phân chia nhóm thường dựa trên:
 - Số lượng học sinh trong lớp.
 - Nội dung của bài học.
 - Đặc điểm của học sinh.
Cách chia nhóm như thế nào cho hợp lý : có thể theo một tiêu chuẩn nào đó của bài 
học hay của giáo viên và cũng có thể hoàn toàn ngẫu nhiên. 
 9 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám Nhóm ngẫu nhiên: giáo viên chia nhóm một cách ngẫu nhiên.
 - Chia nhóm theo biểu tượng.
 - Ghép hình, đếm số, tháng sinh nhật.
 - Đặc điểm bên ngoài. 
 Nhóm chủ định: Giáo viên chủ động đưa ra yêu cầu theo đối tượng học sinh, 
nắm bắt được trình độ từng học sinh. ( chia nhóm khá, trung bình, nhóm yếu)
 b. Số lượng HS trong nhóm
 - Nhóm nhỏ: 2 - 4 học sinh. 
 - Nhóm vừa: 4 - 6 học sinh.
 - Nhóm lớn: 6 - 8 học sinh. 
 c.Thời gian duy trì nhóm
 -Thông thường nhóm cần được duy trì sao cho đủ thời gian để các thành viên 
hiểu nhau và có được các kỹ năng cần thiết.
 - Không nên lâu quá gây ra sự nhàm chán, tình trạng trì trệ thiếu năng động, dựa 
dẫm vào nhau.
 1.4. Các bước phân chia nhiệm vụ cho học sinh khi thảo luận nhóm.
 Để tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm có hiệu quả thì giáo viên cần phân chia 
nhiệm vụ cho học sinh trong khi thảo luận nhóm phải rõ ràng. Muốn được như vậy 
giáo viên cần tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm theo quy trình sau:
 Bước 1: Giáo viên chia nhóm (có thể chia nhóm 2, 3, 4 tùy theo điều kiện và 
nội dung cần thảo luận nhóm).
 Bước 2: Giáo viên giao nhiệm vụ thảo luận nhóm. Việc giao nhiệm vụ này có thể 
bằng nhiều hình thức: Hoặc giáo viên nêu miệng câu hỏi, hoặc giáo viên ghi câu hỏi ở 
bảng phụ hoặc giao nhiệm vụ thông qua phiếu thảo luận. Khi lựa chọn hình thức giao 
nhiệm vụ giáo viên cần lấy mục đích và nội dung thảo luận làm căn cứ cơ bản. Nếu 
câu hỏi ngắn, dễ nhớ, trả lời ngắn thì giáo viên có thể nêu miệng câu hỏi hoặc ghi ở 
 10 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám bảng phụ. Làm như vậy vừa tiết kiệm thời gian vừa tránh lộn xộn khi giáo viên phát 
phiếu (nếu giao nhiệm vụ bằng phiếu). Còn đối với các câu hỏi yêu cầu trả lời dài 
(nên hạn chế thảo luận loại câu hỏi này) hoặc các bảng biểu yêu cầu điền số, chữ thì 
nên sử dụng phiếu. Đặc biệt nếu nội dung là kiến thức chốt của bài (như: thảo luận rút 
ra nội dung, ý nghĩa ,...) thì nhất thiết phải dùng phiếu vì các kiến thức chốt là các 
kiến thức yêu cầu cần ghi nhớ nên nếu dùng phiếu thảo luận thì khi ghi kết quả thảo 
luận vào phiếu các em sẽ ghi nhớ lâu hơn.
 Bước 3: Các nhóm thảo luận.
 - Chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho các thành viên nhóm.
 - Giao nhiệm vụ cho hoạt động nhóm. 
 - Hỗ trợ và hướng dẫn khi cần. 
 - Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả làm việc nhóm (Cách tổ chức cho các 
nhóm trình bày kết quả và xử lý tình huống khi học sinh không có ý nhận xét; mỗi 
nhóm có các nhiệm vụ khác nhau).
 Bước 4: Đại diện các nhóm trình bày kết quả thảo luận.
 Bước 5: Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
 Bước 6: Giáo viên tổng hợp đi đến thống nhất.
 Tổ chức cho học sinh thảo luận theo qui trình trên sẽ mang lại hiệu quả thiết 
thực nhưng điều lưu ý là khi phân chia nhiệm vụ thảo luận nhóm cho học sinh thì giáo 
viên phải đưa ra nội dung yêu cầu thảo luận nhóm phù hợp với trình độ học sinh, sắp 
xếp những học sinh dự định chia thành nhóm ngồi gần nhau để tránh lộn xộn trong 
khi tạo nhóm. Và điều quan trọng là phân chia thời gian phù hợp với nội dung, yêu 
cầu cần được giải quyết trong khi thảo luận nhóm.
 1.5 Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm.
 11 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám Tổ chức lớp học theo nhóm là thách thức lớn người thầy. Mục tiêu để học sinh 
làm việc theo nhóm cần tạo môi trường tất cả cùng tham dự và suy nghĩ bám vào chủ 
đề để tìm giải pháp giải quyết vấn đề. Thầy cô cần làm tốt các việc sau: 
 - Chuẩn bị bài học đã chọn (bài có nội dung ngắn), dự kiến phương án câu hỏi 
phù hợp đối tượng, không quá khó và không dễ. Chọn vấn đề học sinh vừa làm vừa 
thuyết trình không quá 6 phút.
 - Dự kiến tình huống: chia mấy nhóm theo vấn đề và theo không gian, bàn ghế 
phòng học cho phép, điều kiện có hay không dạy giáo án điện tử...
 - Giao đề tài, hướng dẫn, điều hành và giám sát theo các nhóm học sinh.
 - Nhận xét, đánh giá tổng kết các ý kiến của học sinh. 
 - Kết thúc bài học.
 Phương pháp thực hiện dạy học theo nhóm thì bảng nhóm (phiếu học tập) cần 
được sử dụng thường xuyên khi sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm :
 - Trong phiếu học tập cần có mục đích rõ ràng nội dung ngắn gọn, diễn đạt chính 
xác, khối lượng công việc vừa phải đảm bảo học sinh hoàn thành trong thời gian quy 
định. 
 - Hình thức trình bày gây hứng thú làm việc có quy định thời gian hoàn thành có 
chỗ để tên nhóm, lớp để tiện việc đánh giá học sinh. Bảng nhóm có kết quả đúng về 
nội dung làm việc của học sinh.
 1.6. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
 Vieäc söû duïng phöông phaùp daïy hoïc hôïp taùc theo nhoùm kích thích hoïc sinh 
tham gia chuû ñoäng tích cöïc vaøo quaù trình nhaän thöùc, boäc lộ tinh thaàn phaán khôûi 
ñöôïc tham gia thaûo luaän, tranh luaän goùp yù kieán cho nhoùm, giuùp nhoùm tìm toøi phaùt 
hieän kieán thöùc. Phöông phaùp daïy hoïc hôïp taùc theo nhoùm giuùp hoïc sinh deã nhôù deã 
hieåu, khaéc saâu kieán thöùc hôn. Töø ñoù lĩnh hoäi tri thöùc môùi moät caùch nheï nhaøng, 
ñoàng thôøi bieát vaän duïng kieán thöùc khoa hoïc vaøo ñôøi soáng thöïc tieãn.
 12 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám Phöông phaùp daïy hoïc ñoåi môùi noùi chung vaø phöông phaùp daïy hoïc hôïp taùc 
theo nhoùm noùi rieâng coù yù nghĩa raát lôùn trong vieäc hình thaønh khaû naêng ñoäc laäp, 
kích thích höùng thuù hoïc taäp, oùc saùng taïo trong hoïc sinh.
2. Một số giải pháp đổi mới việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm ở Trường 
THCS Hoàng Hoa Thám . 
Để thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp dạy theo hướng hiện đại, phát huy 
tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc 
phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc bằng phương pháp thảo luận 
nhóm trường Trung học cơ sở Hoàng Hoa Thám có một số giải pháp như sau: 
 - Ngay từ tuần đầu tiên của học kì I, Ban giám hiệu đã chỉ đạo thực hiện nghiêm 
túc đợt tập huấn đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy vai trò của người học 
theo hướng tích cực chủ động theo công văn chỉ đạo của phòng GD& ĐT.
 - Trong phương hướng hoạt động của tổ chuyên môn năm học 2016 - 2017, tổ 
chuyên môn đã tổ chức sinh hoạt chuyên đề với tinh thần đổi mới phương pháp giảng 
dạy tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học trong đó chú trọng phương 
pháp thảo luận nhóm.
 - Tổ chức sinh hoạt chuyên đề với những tiết dạy thể nghiệm có vận dụng phương 
pháp đổi mới bằng thảo luận nhóm của từng phân môn trong đó có môn Ngữ văn để 
các đồng nghiệp dự giờ học hỏi rút kinh nghiệm.
 - Các giáo viên trong từng phân môn trong đó có môn Ngữ văn đã vận dụng linh 
hoạt phương pháp thảo luận nhóm trong các tiết dạy nhằm tạo tâm thế và hứng thú 
giúp các em yêu thích môn học và đạt kết quả cao trong học tập.
* Vận dụng cụ thể qua dạy thực nghiệm: BÀI GIẢNG LỚP 8.
 Khi vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong bài "Đi bộ ngao du" Tôi vận 
dụng phương pháp này ở những đơn vị kiến thức sau:
 13 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám + Luận điểm 2: Đi bộ ngao du sẽ có tác dụng trau dồi vốn tri thức.
 + Luận điểm 3: Đi bộ ngao du tốt cho sức khoẻ và tinh thần.
Tiết 113 ĐI BỘ NGAO DU
 ( Trích Ê- Min hay về giáo dục) - Ru- Xô
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:
1. Kiến thức: 
 - Hiểu được quan điểm đi bộ ngao du của tác giả; mục đích , ý nghĩa của việc đi 
bộ theo quan điểm của tác giả.
 - Thấy được nghệ thuật lập luận mang sắc thái cá nhân của nhà văn Pháp Ru- xô.
 - Lối viết nhẹ nhàng có sức thuyết phục khi bàn về lợi ích, hứng thú của việc đi 
bộ ngao du.
2. Kĩ năng:
 - Đọc- hiểu văn bản nghị luận nước ngoài.
 - Tìm hiểu, phân tích các luận điểm, các luận cứ, cách trình bày vấn đề trong một 
bài văn nghị luận cụ thể.
3. Thái độ: Giáo dục tình cảm yêu mến thiên nhiên, ý thức rèn luyện bản thân.
* Tích hợp: 
 - Tập làm văn "Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận". 
 - Tích hợp: Giáo dục bảo vệ môi trường: Liên hệ môi trường và sức khỏe 
 * Trọng tâm: Phần 2,3. 
B. GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
 1- Giao tiếp: Trao đổi, trình bày ý tưởng về văn bản mang tính chất nghị luận với 
 cách lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục; lí lẽ luôn hoà quyện với thực tế cuộc sống 
 2- Suy nghĩ sáng tạo: phân tích nghệ thuật lập luận và ý nghĩa của văn bản.
 3- Xác định giá trị bản thân: Có trách nhiệm với thiên nhiên và cuộc sống.
C.CHUẨN BỊ
 14 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám 1. Giáo viên: 
a. Các phương pháp và kĩ thuật dạy học có thể sử dụng 
* Học theo nhóm: Thảo luận, trao đổi, phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của văn 
bản.
* Động não: Suy nghĩ về mục đích, tác dụng của đi bộ ngao du.
* Trình bày một phút: Tổng kết về nội dung và nghệ thuật
b. Phương tiện:
1. Giáo viên: Bài soạn+ tranh SGK + máy chiếu.
2. Học Sinh: Soạn bài. 
 D. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG 
 1, Ổn định tổ chức:
 2. Kiểm tra bài cũ (4')
 Văn bản thuế máu giúp em hiểu gì về bản chất của chế độ thực dân và số 
phận người dân các nước thuộc địa?
 3, Bài mới: Trong thời đại ngày nay, khi các phương tiện giao thông ngày một 
phát triển, hiện đại, đã không có ít người rất ngại đi bộ. Nhưng cũng có rất nhiều 
nguời vẫn sáng tối cần mẫn luyện tập thể thao bằng cách đi bộ đều đặn. Nhưng đi bộ 
trong bài văn ta sắp học là đi bộ ngao du. Nghĩa là đi đây đi đó bằng 2 chân để rong 
chơi. Nhưng có thật đi bộ để rong chơi hay không bài học hôm nay chúng ta cùng đi 
tìm hiểu. 
 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
 I. ĐỌC- HIỂU CHÚ - GV: sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi, , giao nhiệm 
 THÍCH( 8’) vụ, động não
 1. Đọc - GV nêu yêu cầu đọc: Giọng rõ ràng, dứt khoát 
 tình cảm, thân mật lưu ý các từ "tôi, ta" dùng xen kẽ 
 tạo sự sinh động cho lời văn.
 - GV đọc, gọi HS đọc
 2. Chú thích H. Em hãy trình bày những hiểu biết về tác giả?- 
 a, Tác giả: - HS trả lời sgk
 15 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám - Jăng-Jắc Ru-xô (1712- GV chốt lại : 
 1778) là nhà văn, nhà triết GV giới thiệu chân dung nhà văn. 
 học, nhà hoạt động xã hội GV bổ sung: -> Gi¨ng Gi¾c Ru-x« (1712-1778) 
 nổi tiếng của nước Pháp thế Cuộc đời thơ ấu gặp nhiều bất hạnh mồ côi mẹ từ 
 kỉ XVIII. nhỏ. Chỉ được đi học từ năm 12 tuổi đến năm 14 
 tuổi,sau đó chuyển sang học nghề thợ chạm, bị chủ 
 xưởng chửi mắng, đánh đập, nên bỏ đi tìm cuộc 
 sống tự do, ông phải lang thang, phiêu bạt nhiều 
 nơi, làm nhiều nghề. Nhờ thông minh, biết tự học và 
 sáng tạo ông đã nổi tiếng với khoảng 10 tác phẩm 
 b, Tác phẩm: kịch, tiểu thuyết, luận văn, triết học. Ru xô là người 
 - Văn bản "Đi bộ ngao du" khao khát tự do ông đã từng lên án xã hội phong 
 trích ở quyển 5.của tiểu kiến Pháp thế kỉ XVIII làm cho con người bÞ nô lệ 
 thuyết Êmin hay về giáo và khổ cực. Chính vì vậy ông bị truy nã khắp nơi. 
 dục - Giới thiệu ¶nh b×a mét sè t¸c phÈm næi tiÕng 
 - Phương thức biểu đạt: cña ru-x«
 nghị luận kết hợp với biểu Nêu nguồn gốc xuất xứ và phương thức biểu đạt 
 cảm. của đoạn trích
 - GV giíi thiÖu vÒ t¸c phÈm đề cập đến việc giáo 
 dục một em bé từ lúc nhỏ cho đến lúc trưởng thành, 
 được nuôi dưỡng trong cuộc sống tự nhiên, trong 
 môi trường dân chủ và tự do nên nhân cách, trí tuệ 
 -Vấn đề nghị luận: Hứng và thể lực ngày một phát triển tốt đẹp. Nhà văn 
 thú và lợi ích của việc đi bộ tưởng tượng em bé đó có tên là Ê-min, và thầy giáo 
 ngao du dạy Ê-min chính là tác giả. 
 c, Từ khó Tác phẩm là đỉnh cao triết học của Ru-xô.
 > GV giới thiệu tranh bìa của tác phẩm
 3. Bố cục .- GV giới thiệu về văn bản trích "Đi bộ ngao du": 
 Là văn bản nghị luận mẫu mực
 H? Vấn đề nghị luận của văn bản là gì?
 II. ĐỌC, HIỂU VĂN BẢN - Hứng thú và lợi ích của việc đi bộ ngao du
 (26') - Yêu cầu HS xem các chú thích SGK 
 - Chú ý các chú thích 1,4,,11,15,17
 1.Luận điểm 1 .Đi bộ ngao H. Văn bản có chia làm mấy phần? Nội dung từng 
 du hoàn toàn chủ động, phấn? 
 thoải mái, không phụ thuộc. GV khái quát trên bảng phụ:
 - Gồm 3 đoạn với 3 luận điểm chính
 - PP và KN: câu hỏi, chia nhóm, giao nhiệm vụ, 
 động não
 GV yêu cầu đọc thầm đoạn 1
 16 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám ? Mở đầu đoạn 1 tác giả đưa ra quan điểm” Tôi chỉ 
 + Lí lẽ, dẫn chứng phong quan niệm được 1 cách đi ngao du thú vị hơn đi 
 phú trong thực tế đời sống. ngựa đó là: đi bộ”Ở đây tác giả đã đưa ra quan 
 lời lẽ vừa giản dị vừa giâu điểm gì của mình?
 giá trị biểu cảm. - Tác giả quan niệm khi đi dạo chơi đây đó thú vị 
 + Cách xưng hô thay đổi nhất là: đi bộ
 Điều thú vị khi đi bộ như thế nào-> luận điểm 1
 H. Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng và lí lẽ 
 nào để nói về sự thú vị của đi bộ ngao du?
 - GV kh¸i qu¸t trªn b¶ng phô
 H. Em có nhận xét gì về lí lẽ, dẫn chứng này?
 Gv: trong đoạn 1 Ru-Xô sử dụng 1 số từ ngữ xưng 
 hô.
 ->Đi bộ ngao du thì ta hoàn H. Đó là những từ ngữ nào?
 toàn được tự do, tuỳ theo ý H. Em có nhận xét gì về cách xưng hô của tác giả 
 thích không bị lệ thuộc. trong phần 1 của văn bản?
 Thoả mãn nhu cầu hoà hợp - Xưng hô thay đổi
 với thiên nhiên; đem lại - Lúc thì ta và tôi, em, Ê-min
 cảm giác tự do thưởng H. Cách thay đổi cách xưng hô ấy có tác dụng gì?
 ngoạn cho con người Ta khi trình bày lập luận chung; Tôi: cảm nhận về 
 cuộc sống từng trải của riêng ông; Cã khi lại là lời 
 kể về Ê-min tạo nên sức hấp dẫn sinh động cho văn 
 2. Luận điểm 2: Đi bộ bản nghị luận. 
 ngao du sẽ có tác dụng H.Qua phần 1 em hiểu t/d nào của đi bộ ngao du?
 trau dồi vốn tri thức. - GV bình Đi bộ ngao du chính là cách tốt nhất để 
 con người thực hiện và hưởng thụ sự tự do của 
 -Đưa ra lí lẽ : Đi bộ ngao mình.Thoả mãn nhu cầu hoà hợp với thiên nhiên; 
 du là đi như Ta-let, Pla- đem lại cảm giác tự do thưởng ngoạn cho con người
 tông và Pi-ta-go Gv: Đi bộ ngao du không chỉ thoải tự do mà còn có 
 tác dụng trau dồi vốn tri thức. Tại sao lại như vậy 
 P2
 - HS đọc thầm đoạn 2
 H Mở đầu đoạn 2 tác giả đưa ra lí lẽ nào?
 - Đi bộ ngao du là đi như Ta-let, Pla-tông và Pi-ta-
 go.
 H? Ta-let, Pla-tông và Pi-ta-go họ là những người 
 như thế nào?
 H. Dựa vào chú thích trong SGK em hiểu "Đi bộ 
 ngao du là đi như Ta-let, Pla-tông và Pi-ta-
 go"nghĩa là đi như thế nào?
 17 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám - Họ luôn quan sát, nghiền ngẫm trong lúc dạo chơi
 - GV nêu vấn đề: Vậy có phải ai cũng có cách đi bộ 
 như Ta-let, Pla-tông và Pi-ta-go không? Để nói rõ 
 hơn về vấn đề đó tác giả đã nêu ra suy nghĩ của 
 mình "Tôi khó lòng hiểu nổi một triết gia có thể 
 quyết định ngao du cách khác mà không xem xét 
 những tài nguyên mình giẫm chân lên và trái đất 
 phô bày phong phú ra trước mắt". Ta hiểu tác giả 
 muốn nói điều gì ở đây?
 => Nghĩa là tác giả nhấn mạnh vai trò của đi bộ là 
 để thâm nhập thực tế, trực tiếp khám phá thực tế.)
 Thảo luận nhóm
 B1 Thành lập nhóm: GV chia nhóm theo bàn lựa 
 chọn nhóm lớn 8 học sinh.( Lớp chia 4 nhóm)
 -Thời gian thảo luận 6 phút.
 - Lập luận bằng những câu B2 giao nhiệm vụ cho nhóm hoạt động: giáo viên 
 hỏi giả định để khẳng định. sử dụng phiếu học tập ghi câu hỏi của nhóm.
 - Tác giả đưa ra phép so H 1. Tác giả sử dụng kiểu câu gì để lập luận
 sánh và lời bình H2. Tác giả khẳng định điều gì qua những câu hỏi đó ?
 + Kết hợp với yếu tố biểu H3 Để tiếp tục chứng minh cho lí lẽ của mình, tác 
 cảm giả đưa ra phép so sánh và lời bình nào? 
 - Cách lập luận chặt chẽ H4 Tác giả so sánh phòng sưu tập của các triết gia 
 phòng khách và phòng sưu tập của Ê-min có gì khác 
 nhau? Tai sao lại có sự khác nhau đó?
 B3 HS tiến hành thảo luận nhóm.. Nhóm trưởng 
 điều hành cử đại diện ghi lại ra bảng nhóm của 
 nhóm mình. Trong quá trình các nhóm thảo luận 
 giáo viên quan sát và có sự hỗ trợ nếu thấy cần 
 thiết.
 B 4 Đại diện nhóm nào xong trướclên bảng trình 
 bày kết quả thảo luận của cả nhóm.
 B5 Các nhóm khác theo dõi và bổ xung cho hoàn 
 chỉnh nội dung.
 B 6 Giáo viên chốt nội dung sau khi thảo luận đi 
 đến thống nhất
 GV chốt Phòng sưu tập của các triết gia phòng 
 khách là những kiến thức xa rời thực tế cho nên họ 
 chẳng có khái niệm gì 
 - còn phòng sưu tập của Ê-min thì có được là nhờ 
 thâm nhập thực tế, tìm hiểu tự nhiên nên mọi thứ 
 18 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám đều được đặt đúng chỗ của nó.
 H. Qua cách so sánh đó tác giả nhằm nhấn mạnh 
 điều gì?
 - chỉ có đi bộ chúng ta mới có điều kiện quan sát 
 trực tiếp để lĩnh hội tri thức về tự nhiên
 - GV: Vẫn trong cách lập luận bằng cách so sánh 
 => Đi bộ ngao du là để đấy, tác giả còn so sánh phòng sưu tập của các triết 
 quan sát, tìm tòi, phát hiện gia phong khách "họ có các thứ linh tinh; họ biết gọi 
 và khám phá thế giới xung tên nhưng chẳng có một ý niệm gì về tự nhiên” 
 quanh, mở rộng tầm hiểu H. Qua đó đã thể hiện quan điểm nào của tác giả 
 biết, bồi dưỡng nhận thức, về kiến thức thực tế? 
 trau dồi vốn tri thức của - Đi bộ chính là cách tốt nhất để trải nghiệm thực tế
 con người. (đây là một quan điểm tiến bộ của ông - đề cao kiến 
 thức thực tế khách quan đối với việc giáo dục nâng 
 cao nhận thức trí tuệ con người.)
 - GV nêu vấn đề: Ru-xô không chỉ đưa những dẫn 
 chứng vào câu hỏi giả định để khẳng định mà ông 
 còn đưa thêm những từ ngữ tôi khó lòng hiểu nổi, 
 3. Luận điểm 3: Đi bộ ai là người ... mà lại không ...; ai là người ... mà lại 
 ngao du tốt cho sức khoẻ có ...vào các câu văn.
 và tinh thần H. Vậy tác giả đã kết hợp yếu tố nào khi lập luận? 
 Yếu tố đó có tác dụng gì?
 - Tác giả kết hợp yếu tố biểu cảm.
 - Tác dụng làm cho lời văn thêm sức thuyết phục.
 GV nêu vấn đề: .Để chứng minh lợi ích và tác dụng 
 của đi bộ ru xô đã đưa các dẫn chứng theo một hệ 
 thống. Đầu tiên ông đưa ra những nhà triết học, 
 toán học, văn học nổi tiếng của thời Hi Lạp cổ đại 
 sống cách ông khoảng 22 thế kỉ rồi đến những 
 người bình thường họ chỉ có một chút ít hứng thú 
 với khoa học rồi dẫn chứng cụ thể đến nhân vật 
 chính là Ê-min và dẫn cả con người sống ngay 
 chính thời mình là Đô-băng-tông .
 H? Cách đưa dẫn chứng đó nhằm mục 
 đích làm gì?
 - Cách sắp đặt trình tự các dẫn chứng của tác giả thể 
 hiện một dụng ý. đây chính là cách lập luận chặt chẽ 
 của tác giả
 H. Qua cách lập luận cả đoạn 2, tác giả muốn khẳng định 
 với bạn đọcđi bộ ngao du có tác dụng gì?
 19 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám - GV bổ sung: Rõ ràng đi bộ ngao du với Ru-xô là 
 +Tác giả dùng liên tiếp một dịp mang lại nhiều hiểu biết cho mình. Lẽ dĩ 
 những từ chỉ trạng thái tinh nhiên nó phải đòi hỏi con người luôn tìm tòi, suy 
 thần, dùng một loạt câu nghĩ, tìm hiểu thế giới xung quanh mình một cách 
 cảm thán để bộc lộ cảm xúc. chủ động. Luôn luôn phải tìm hiểu và khám phá tự 
 / Cách so sánh hai trạng nhiên, nếu không tuy đi nhiều, thấy nhiều nhưng ta 
 thái tinh thần đối lập chẳng biết gì cả. Đây chính là vấn đề mà tác giả đặt 
 ra có một ý nghĩa rộng lớn trong đời sống của 
 chúng ta. 
 => Đi bộ ngao du thật thú - GV chuyển sang luận điểm 3: Ngoài tác dụng đi 
 vị, nâng cao sức khoẻ, con bộ giúp con người thoải mái tự do, trau dồi vốn tri 
 người thêm yêu cuộc sống, thức 
 yêu đời hơn, làm tâm hồn ta H .Đi bộ còn có tác dụng nào khác?
 phong phú, đẹp đẽ hơn. Đi bộ ngao du tốt cho sức khoẻ và tinh thần-> p3
 - GV: Ngay câu đầu tiên tác giả đã khẳng định: Đi 
 bộ có nhiều hứng thú khác nhau. Trong các hứng 
 thú tác giả đã kể ra như chúng ta đã tìm hiểu ở hai 
 đoạn văn trên. Thì đi bộ còn tốt cho tinh thần con 
 người
 III. TỔNG KẾT(5’) Thảo luận nhóm
 1. Nghệ thuật: B1 Thành lập nhóm: GV chia nhóm theo bàn lựa 
 - Lập luận chặt chẽ, lí lẽ và chọn nhóm nhỏ 4 học sinh ( Lớp chia thành 8 
 thực tiễn cuộc sống từng nhóm).
 trải của tác giả luôn bổ -Thời gian thảo luận 6 phút.
 sung cho nhau tạo tính sinh B2 giao nhiệm vụ cho nhóm hoạt động: giáo viên 
 động và thuyết phục cho sử dụng phiếu học tập ghi câu hỏi của nhóm.
 bài văn nghị luận. H. Tác giả đưa ra những lí lẽ gì để nói về những 
 2. Nội dung: trạng thái tinh thần của người đi bộ?
 -Bài viết chứng minh muốn H. Đề nói rõ hơn hứng thú của đi bộ tác giả đã lập 
 ngao du cần phải đi bộ, luận tiếp bằng những từ ngữ nào?
 những tác dụng của đi bộ H Cách lập luận ở luận điểm 3 có gì giống và khác 
 ngao du. với cách lập luận ở luận điểm 2?
 - Ru-xô là người giản dị, B3 HS tiến hành thảo luận nhóm.. Nhóm trưởng 
 quí trọng tự do, yêu thiên điều hành cử đại diện ghi lại ra bảng phụ nhóm. 
 nhiên. Trong quá trình các nhóm thảo luận giáo viên 
 quan sát và có sự hỗ trợ nếu thấy cần thiết.
 B 4 Đại diện nhóm nào xong trước trình bày.
 B5 Các nhóm khác theo dõi và bổ xung cho hoàn 
 chỉnh nội dung.
 B6 Giáo viên chốt nội dung sau khi thảo luận đi 
 20 
GV:Hoàng Thị Thùy Liên Trường THCS Hoàng Hoa Thám

File đính kèm:

  • docnang_cao_chat_luong_mon_ngu_van_bang_phuong_phap_thao_luan_n.doc
Bài giảng liên quan