Nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Bạn đang xem nội dung Nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, để tải tài liệu về máy bạn hãy click vào nút TẢI VỀ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ TRƯỜNG THCS XUÂN LƯƠNG ****** BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2022-2024 Biện pháp: NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Họ và tên: Thạch Thị Duyên Đơn vị công tác: Trường THCS Xuân Lương Xuân Lương, ngày 30 tháng 03 năm 2024 MỤC LỤC PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ ..................................................................................... 1 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ..................................................................... 2 I. Thực trạng công tác chủ nhiệm tại lớp ở trường THCS Xuân Lương. .. 2 1. Ưu điểm ...................................................................................................... 2 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế ............................................................ 2 II. Biện pháp ..................................................................................................... 2 Biện pháp 1: Kỹ năng điều chỉnh và quản lí cảm xúc ............................ 3-4 Biện pháp 2: Kỹ năng đối diện và ứng phó với khó khăn trong cuộc sống 5 Biện pháp 3: Kỹ năng hợp tác và chia sẻ ................................................. 6-7 Biệp pháp 4: Kỹ năng giao tiếp ................................................................. 7-8 PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP ...................... 8 PHẦN D. CAM KẾT ........................................................................................... 9 PHẦN E: ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG ........................... 9 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Đất nước ta đang trong thời kì phát triển và hội nhập với các nước trên thế giới, nhất là phát triển kinh tế trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, thì ngành giáo dục là ngành đầu tiên khai trương mở lối. Vì vậy, ngành giáo dục chúng ta luôn chú trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, mục đích đào tạo ra con người có đủ đức, đủ tài góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói : “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Để thực hiện được mục đích đó, đòi hỏi nhà trường, gia đình và xã hội phải tạo điều kiện tốt nhất cho các em học sinh được học tập và hoạt động sáng tạo nhằm chiếm lĩnh tri thức. Trong đó việc phối hợp giảng dạy rèn kỹ năng sống không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức, mà còn góp phần đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người lao động có trí tuệ, vừa có kỹ năng, năng lực hành động thực tế, vừa có phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng mục tiêu cho chương trình giáo dục phổ thông mới 2018. Cho nên, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là điều hết sức cần thiết. Tại trường THCS Xuân Lương, nơi tôi đang công tác. Ngay từ đầu năm học, nhà trường luôn chú trọng và đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Nhà trường chú trọng đến các hoạt động: giáo dục ngoài giờ lên lớp, dạy học hướng nghiệp, tổ chức các buổi ngoại khóa an toàn giao thông, giáo dục giới tính . tham gia hoạt động trải nghiệm, tham quan, Thông qua các hoạt động thực tế thì nội dung giáo dục kỹ năng sống học sinh sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Năm học 2022 – 2023, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 6B gồm 35 học sinh, trong đó có 25 nữ, 10 nam. Các em thuộc diện hộ nghèo 01 em, hộ cận nghèo 02 em. Ngoài ra còn một số em có bố mẹ li hôn, chỉ ở với bố hoặc mẹ, hoặc ở với ông bà. Với lứa tuổi này tâm sinh lý có nhiều thay đổi, ý thức muốn làm người lớn, nhiều em ương bướng và có cá tính. Vì vậy, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về cách giáo dục kỹ năng sống cho các em thông qua công tác chủ nhiệm, với mong muốn giúp cho các em có thêm những hiểu biết, kỹ năng trong cuộc sống để trở thành con ngoan, trò giỏi; thích ứng với môi trường học tập mới. Vì vậy tôi lựa chọn nghiên cứu và thực hiện biện pháp : “Nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh” trong công tác chủ nhiệm. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Xuân Lương 1. Ưu điểm. - Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường, sự hỗ trợ của đồng nghiệp trong công tác giảng dạy và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. - Cơ sở vật chất của trường đầy đủ thuận lợi trong việc thực hiện nội dung xây dựng môi trường giáo dục sạch đẹp, an toàn cho các em. - Phần lớn phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học tập của con em mình. - Học sinh lớp 6B đa số có ý thức trong học tập và rèn luyện, luôn phối kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm trong các công tác lớp. Nhiều em mạnh dạn, tự tin và quản lý lớp tốt. 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế - Về phía học sinh: Do đặc điểm tâm sinh lí học sinh có nhiều thay đổi, 1 số em còn nhút nhát, ít va chạm với môi trường xung quanh, nên khó khăn cho việc tiếp thu kiến thức và các kỹ năng sống. Việc rèn kỹ năng sống cho học sinh chưa thường xuyên, liên tục nên các hành vi đạo đức chưa trở thành thói quen, các em chóng quên hành vi đó. - Về phía giáo viên: trong thực tế hiện nay, việc nhận thức tầm quan trọng, cần thiết rèn kỹ năng sống cho học sinh ở một số giáo viên còn hạn chế. Nhận thức của nhiều giáo viên còn mơ hồ, chưa rõ ràng, chưa đầy đủ là rèn kỹ năng sống cho học sinh là rèn những kỹ năng gì? nên không thể tìm ra được biện pháp, hình thức tổ chức hữu hiệu để rèn kĩ năng sống cho học sinh. - Về phía phụ huynh học sinh: Phụ huynh thường chiều chuộng và làm thay khiến các em thiếu kỹ năng sống. Chính vì vậy, khi học sinh được trang bị kỹ năng sống đúng đắn, lành mạnh các em sẽ có đời sống tinh thần vui tươi, thoải mái, cảm nhận được mái trường là ngôi nhà thân thiện, đáng yêu, việc học tập cũng tốt hơn. Nên việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là vô cùng cần thiết. II. Biện pháp Kỹ năng sống: là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng thích nghi cho phép mỗi cá nhân đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Đây là tập hợp các kỹ năng mà con người tiếp thu qua giáo dục hoặc trải nghiệm trực tiếp, dùng để xử lý các vấn đề và trả lời các câu hỏi thường gặp trong đời sống. Biện pháp giáo dục “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua công tác chủ nhiệm lớp” có rất nhiều kỹ năng sống dành cho đối tượng học sinh THCS nhưng ở đây tôi chỉ lựa chọn một số kỹ năng sống cơ bản, gần gũi với học sinh và thiết thực trong cuộc sống, để giáo dục các em học sinh lớp 6B hiểu và thực hiện được, qua đó từng bước nâng cao ý thức cá nhân, xây dựng nhân cách sống chuẩn mực để trở thành những công dân tốt, tự tin, tự chủ, trách nhiệm và sáng tạo trong học tập cũng như trong cuộc sống hằng ngày. Các bước thực hiện: *Biện pháp 1: Kỹ năng điều chỉnh và quản lí cảm xúc. -Vai trò của biện pháp: Đây là một trong những kỹ năng quan trọng đối với học sinh lớp 6, ở lứa tuổi mà các em bắt đầu thay đổi tâm sinh lý của mình. Các em bắt đầu tuổi dậy thì và có những cảm xúc ngoài với bạn khác giới trong mối quan hệ bạn bè. Đó là những rung động mãnh liệt của cảm tính, ít có sự tham gia của lý trí. Điều đó ảnh hưởng không tốt đến học tập và cuộc sống của các em. Để giúp các em có sự điều chỉnh tốt trong giao tiếp với bạn khác giới, ổn định tâm lý để học tập tốt. - Cách thực hiện: Hỗ trợ, chia sẻ với các em vào các tiết hoạt động trải nghiệm- sinh hoạt lớp bằng những câu chuyện hay ví dụ minh họa cụ thể. + Học sinh chia sẻ bằng những câu chuyện hay ví dụ minh họa cụ thể về một số hành động cảm tính, chưa suy nghĩ đến hậu quả mà mình biết hoặc đã gặp hoặc giáo viên đưa ra một số hành động cảm tính thường gặp trong cuộc sống. + Học sinh phân tích cảm xúc đó là tích cực hay tiêu cực. + Cách biểu lộ cảm xúc và lối ứng xử phù hợp. Chẳng hạn, tôi kể cho các em nghe câu chuyện về học sinh của trường có tình cảm với bạn khác giới sớm, dẫn đến hậu quả học sa sút và bỏ học sớm. Hay tôi cho các em xem những bài báo viết về tình trạng học sinh yêu đương sớm trong trường học dẫn đến ghen tuông, gây mâu thuẫn trong trường lớp làm mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng học tập và cuộc sống của các em. Qua những câu chuyện kể, những bài báo hay câu chuyện có thật trong lớp trong trường, tôi giáo dục các em nếu mình có rơi vào những trường hợp như vậy, nghĩa là có thích bạn khác giới nào đó thì mình cũng phải kiềm chế cảm xúc mình lại, nếu mình có thích thì mình cũng tránh các bạn đó ra không tiếp xúc gần hoặc tạo những sân chơi bổ ích khác: nữ thì có thể học múa, học bơi (nếu có điều kiện); nam có thể chơi thể thao như: đá bóng, bóng chuyền, cầu lông .hay đọc báo, xem các kênh giải trí, nghe nhạc để khuây khỏa những cảm xúc đó. Từ đó các em biết điều chỉnh, quản lý cảm xúc của mình. Giả sử có xảy ra mâu thuẫn cũng phải biết kìm nén cảm xúc, giải quyết sự việc 1 cách đơn giản nhất, tránh bạo lực xảy ra. Ví dụ 1: Trong lớp tôi, tôi nhận thấy có 2 em học sinh là em L và em C mặc dù chưa nói, chưa có động thái gì lớn nhưng qua ánh mắt, cử chỉ của các em, qua những hành động dành cho nhau trong học tập, trong giờ giải lao các em có những biểu hiện vượt quá tình bạn. Sau khi phát hiện điều này tôi đã gặp riêng 2 em, tôi chia sẻ không phải với tư cách của người giáo viên chủ nhiệm răn đe, hù dọa mách phụ huynh các em mà thái độ thật thân thiện, gần gũi như những người bạn để các em không cảm thấy xấu hổ, tự ái. Tôi cho các em thấy rằng bạn bè quý mến nhau là điều tốt nhưng phải có giới hạn của nó, còn vượt quá giới hạn sẽ ảnh hưởng đến học tập và tương lai sau này, khi bố mẹ phát hiện sẽ bị mắng chửi, sẽ xấu hổ với bạn bè và bố mẹ cũng buồn phiền, tình huống xấu hơn các em sẽ đánh mất cả tương lai. Nếu thật sự quý mến nhau, các em hãy để trong lòng và phấn đấu học tập thật tốt, khi có tương lai các em sẽ có quyền quyết định mọi thứ. Tôi tin rằng với sự ân cần của mình, giáo dục nhẹ nhàng và tôn trọng tình cảm của các em, chắc chắn các em sẽ dễ dàng tiếp thu lời tôi nói. Không những phải biết cách điều chỉnh và quản lý cảm xúc của mình trong vấn đề tình cảm mà tôi còn giáo dục các các em cũng cần biết kiềm chế cảm xúc của mình trong cách ứng xử với nhau. Ví dụ 2: Trong đầu năm học em D và em A trong lớp có xảy ra xích mích với nhau. Nguyên nhân cũng chỉ vì bạn D nghi ngờ bạn A lấy đồ dùng của mình mà bạn đó đã gọi một số bạn ở lớp bên sang dọa nạt bạn nam kia. Sau sự việc tôi có gọi 2 em xuống giáo dục, trước hết để các em tự nhận lỗi của mình, sau đó tôi mới giáo dục các em. Sự việc rất đơn giản, không to tát gì nhưng cách xử lý của các em là chưa phù hợp, mỗi em đều không biết kìm chế và quản lý cảm xúc của mình nên dẫn dến hậu quả như trên, gây mất đoàn kết. Nếu như bạn D tìm hiểu kỹ và hỏi rõ luôn bạn A thì có lẽ kết cục sự việc sẽ khác. Tất cả những phản ứng đó của các em đều xuất phát từ việc các em thiếu kỹ năng sống. Sự việc này tôi đã đưa ra trước lớp để giáo dục chung cho học sinh cả lớp. Với biện pháp này HS phải biết cách điều chỉnh và quản lý cảm xúc của mình trong vấn đề tình cảm, các em cũng cần biết kiềm chế cảm xúc của mình trong cách ứng xử với nhau để đưa ra các hướng giải quyết tốt nhất. *Biện pháp 2: Kỹ năng đối diện và ứng phó với khó khăn trong cuộc sống - Vai trò của biện pháp: Biện pháp này sẽ giúp các em có kỹ năng đối diện và biết chấp nhận những khó khăn trong cuộc sống của mình, không được tự ti, hay chán nản, mà phải biết vươn lên hoàn cảnh của mình mà sống vui vẻ, hòa đồng và học tập tốt. - Cách thực hiện: Cái khó khăn của học sinh thì có rất nhiều: khó khăn trong học tập, trong mối quan hệ bạn bè, trong lĩnh vực tình cảm Cái quan trọng khi gặp khó khăn đó các em sẽ biết giải quyết như thế nào? Ví dụ: Em gặp bài tập khó, suy nghĩ không ra hoặc giáo viên giao nhiệm vụ học tập về nhà em xử lý không được, có em có khó khăn về hoàn cảnh gia đình, gia đình không hạnh phúc bố mẹ li hôn sẽ khiến các em tự ti, không tìm được hướng giải quyết gây bất mãn và chán học. Nắm bắt được tình hình trên, ngay từ đầu năm học tôi đã cho xây dựng đôi bạn cùng tiến, giúp đỡ nhau trong học tập, các bạn có thể chia sẻ những khó khăn với nhau và giúp nhau cùng tiến bộ. Qua những giờ sinh hoạt tập thể: hoạt động trải nghiệm, ngoài giờ lên lớp tôi cho các em xử lý các tình huống để các em tháo gỡ những vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Làm như vậy các em có được sự quan tâm, sẻ chia và các em sẽ dễ bộc bạch tâm sự của mình, từ đó sẽ có động lực vượt qua sự khó khăn của chính bản thân. Học sinh chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống trong và ngoài nhà trường *Biện pháp 3: Kỹ năng hợp tác và chia sẻ -Vai trò biện pháp: Với hình thức này giúp các em học sinh vừa vui chơi, vừa có thể hình thành hợp tác, chia sẻ một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, không cứng nhắc, gò bó, khô khan, nhàm chán. - Cách thực hiện: Thông qua các hoạt động, phong trào trường, lớp, địa phương tổ chức như: văn nghệ, thể thao, lao động tập thể... Thông qua các hoạt động trong quá trình học tập. Qua đó, tạo cho các em có cơ hội sinh hoạt tập thể, tính tương tác cao nên việc hình thành kĩ năng giao tiếp, hoạt động nhóm hay ứng phó với những căng thẳng nảy sinh trong quá trình hoạt động. Đồng thời việc kết hợp các hình thức hoạt động này trong quá trình học tập sẽ giúp các em cân bằng cuộc sống học tập căng thẳng thường ngày. Rèn luyện về thể chất, thêm vào đó, điều này còn có tác dụng rất lớn trong việc hình thành và phát triển một nhân cách toàn diện. Như vậy, bằng những hoạt động thực tiễn, thiết thực, gần gũi cũng có thể giúp các em hình thành kĩ năng hợp tác chia sẻ một cách tự nhiên. Điều quan trọng là người giáo viên cần biết khơi gợi cũng như biết định hướng cho các em áp dụng những kỹ năng đó để giúp các em không những vượt qua các thử thách mà qua đó còn ý thức sâu sắc hơn các giá trị của tình bạn, tình thân, tình thầy trò... Để biện pháp được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả thì điều kiện để thực hiện rất đơn giản: + Giáo viên cần nhiệt tình, tận tụy với học sinh. + Chuyên môn về công tác chủ nhiệm phải vững vàng, có kinh nghiệm. + Bố trí thời gian phù hợp với các tiết học cũng như chương trình dạy học. Hình ảnh HS tham gia hoạt động tập thể vệ sinh trường học Hình ảnh học sinh hợp tác nhóm giải quyết bài tập *Biệp pháp 4: Kỹ năng giao tiếp Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn cần thiết. - Vai trò: Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại gây tổn thương cho người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình- nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ bạn bè mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống. Kỹ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kỹ năng khác như bày tỏ sự cảm thông, hợp tác, chia sẻ, điều chỉnh và quản lý cảm xúc ..... Người có kỹ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối với mong đợi của những người khác, có cách ứng xử khi làm việc cùng và ở cùng với những những người khác trong cùng một môi trường tập thể, quan tâm đến những điều người khác quan và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính đáng. - Cách thực hiện: + Học sinh xác định các kỹ năng cơ bản trong giao tiếp, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, xác định cách thức giao tiếp phù hợp. + Rèn kĩ năng giao tiếp cơ bản cho học sinh thông qua các hoạt động tập thể do Liên Đội và Nhà trường tổ chức. Thông qua các hoạt động tập thể do Liên Đội và Nhà trường tổ chức, học sinh được trưởng thành hơn, được giao tiếp trong các mối quan hệ đa dạng hơn. Giáo dục các em biết giao tiếp phù hợp trong các tình huống của môi trường mới mà người đội viên tham gia. Giáo dục kĩ năng giao tiếp thông qua các hoạt động tập thể là một hoạt động thiết thực. Vì thế tôi luôn chú ý rèn cho học sinh thông qua hoạt động tập thể bao gồm: Hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động trải nghiệm (sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp). Ví dụ: Thông qua hoạt động trải nghiệm như: An toàn giao thông; Uống nước nhớ nguồn; Văn hóa ứng xử trong nhà trường và xã hội, .Thông qua các hoạt động, học sinh rèn được các kĩ năng cơ bản trong giao tiếp. Giáo viên rèn luyện, sửa chữa cho học sinh cách trả lời, cách trình bày lịch sự, lễ phép, rõ ý và thuyết phục người nghe. + Rèn kĩ năng sống cơ bản cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khóa ngoài nhà trường và hoạt động trải nghiệm. Hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm là những hoạt động hết sức quan trọng đối với kĩ năng giao tiếp của học sinh. Thông qua hoạt động này, khả năng giao tiếp của từng học sinh được bộc lộ rất rõ. Vì vậy, tôi tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa nhân các ngày 22/12; 27/7 như: Lao động vệ sinh nghĩa trang liệt sĩ; thắp nến tri ân; thăm gia đình chính sách, người có công với cách mạng nhằm tạo cơ hội cho các em được giao tiếp nhiều, tiếp xúc nhiều. Phối hợp với Đoàn xã tạo điều kiện cho các em tham gia các hoạt động tập thể do Đoàn xã và địa phương tổ chức trong dịp hè như: Hoạt động tết thiếu nhi 01/6, tết trung thu. Sau mỗi hoạt động, tôi dành thời gian cho các em tự tổ chức một cuộc họp sơ kết hoàn toàn do các em điều khiển để giúp các em rèn kĩ năng giao tiếp, nói năng ngắn gọn, mạnh dạn, tự tin trước tập thể. PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP Sau khi áp dụng những biện pháp mà tôi đã trình bày ở trên tôi nhận thấy có hiệu quả rất cao so với những tuần học đầu tiên. Tôi lập danh sách học sinh và tiến hành theo dõi, đánh giá từng em vào bảng khảo sát, sau đó tổng hợp vào biện pháp nghiên cứu. Khảo sát đầu năm học: TSHS Học sinh có kỹ năng Học sinh có kỹ năng Học sinh có kỹ sống tốt sống tương đối tốt năng sống chưa tốt 35 10 15 10 Sau khi áp dụng đề tài trong suốt học kì I, tôi tiếp tục khảo sát lần 2 với cách khảo khát như đã nêu trên. Tôi đã có kết quả khả quan hơn so với đầu năm. Bảng khảo sát sau khi học hoàn thành năm học TSHS Học sinh có kỹ năng Học sinh có kỹ năng Học sinh có kỹ sống tốt,biết xử lý sống và xử lý tình năng sống chưa tình huống huống tương đối tốt tốt, chưa rõ ràng 35 20 12 3 Kết quả khảo sát cho thấy sự chuyển biến rõ rệt của học sinh lớp 6B . Đa số các em đều có ý thức tốt trong việc rèn luyện các kỹ năng, được thể hiện rõ qua sinh hoạt hằng ngày trên lớp, trong lời nói, trong hành động, các em biết kìm chế và quản lý cảm xúc của mình; các em biết giải quyết những khó khăn của chính bản thân mình, cũng như ứng phó với những căng thẳng trong học tập và trong cuộc sống. PHẦN D. CAM KẾT Tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về sự tiến bộ của học sinh là trung thực Xuân Lương, ngày 30 tháng 03 năm 2024 GIÁO VIÊN Thạch Thị Duyên PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG 1. Đánh giá, nhận xét của tổ chuyên môn Giải pháp mà giáo viên đề xuất mang tính thực tiễn cao, bám sát với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Nội dung giải pháp thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, tâm huyết và sáng tạo trong quá trình giảng dạy. Giáo viên đã vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Đồng thời, giải pháp có tính khả thi, có thể áp dụng rộng rãi trong thực tế giảng dạy, góp phần nâng cao hiệu quả học tập của học sinh cũng như chất lượng giáo dục tại đơn vị. TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN Lý Văn Hưng 2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng
File đính kèm:
nang_cao_hieu_qua_giao_duc_ky_nang_song_cho_hoc_sinh.pdf



