Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc-hiểu văn bản Ngữ Văn 7
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc-hiểu văn bản Ngữ Văn 7, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
1 Tên sáng kiến: “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản Ngữ Văn 7” A. MỞ ĐẦU 1. Lí do hay sự cần thiết của sáng kiến: Trong thời đại ngày nay - Thời đại của tri thức và trí tuệ, khoa học và công nghệ, Biết đọc nhất là đọc diễn cảm lại càng quan trọng vì nó sẽ giúp chúng ta sử dụng các nguồn thông tin để đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội. Vì vậy việc rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh là vấn đề hết sức cần thiết, nó có ý nghĩa rất lớn để kích thích sáng tạo của các em trong quá trình học văn, mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng nhân cách cho học sinh. Qua đó còn cung cấp cho các em vốn từ ngữ, năng lực diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học. Từ đó nâng cao trình độ văn hóa nói chung và trình độ môn Ngữ Văn nói riêng. Đọc diễn cảm là một công việc quan trọng trong quá trình dạy và học Văn. Tác phẩm văn học có thể được nghiên cứu bằng nhiều con đường khác nhau nhưng dù bằng con đường nào thì công việc đầu tiên vẫn là làm quen trực tiếp với tác phẩm. Đọc diễn cảm có thể được xem là một phương tiện để tiếp cận tác phẩm văn học.Tuy nhiên để phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh phụ thuộc không chỉ vào hoạt động của các em mà phần lớn là dựa vào sự chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn, tổ chức học sinh hoạt động. Vì vậy để góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy và học bộ môn tôi mạnh dạn đưa ra biện pháp “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản Ngữ Văn 7”. Hi vọng đó sẽ là tiền đề để học sinh tiếp cận được tác phẩm văn học một cách sâu sắc hơn, giúp các em có hứng thú và niềm đam mê môn học. 2. Mục tiêu của sáng kiến 2.1. Mục tiêu chung - Sáng kiến nêu ra một số ý tưởng, một vài kinh nghiệm nhỏ góp phần làm giàu thêm kinh nghiệm trong việc góp phần giảng dạy bộ môn Ngữ văn. 2 - Sáng kiến còn góp phần làm cho tiết dạy sôi nổi bài giảng có nhiều cảm xúc, đúng với đặc trưng bộ môn, giúp cho học sinh hứng thú học tập, mang lại hiệu quả cao. Cũng từ đó học sinh yêu thích môn học, yêu cuộc sống, có cái nhìn đúng đắn về cuộc sống, con người và xã hội. - Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Văn học nói riêng và bộ môn Ngữ Văn trong trường THCS Đồng Hưu nói chung . - Làm tư liệu tham khảo cho đồng nghiệp trong tổ bộ môn . 2.2. Mục tiêu cụ thể Trong thời đại ngày nay - Thời đại của tri thức và trí tuệ, khoa học và công nghệ, Biết đọc nhất là đọc diễn cảm lại càng quan trọng vì nó sẽ giúp chúng ta sử dụng các nguồn thông tin để đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội. Vì vậy việc rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh là vấn đề hết sức cần thiết, nó có ý nghĩa rất lớn để kích thích sáng tạo của các em trong quá trình học văn, mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng nhân cách cho học sinh. Qua đó còn cung cấp cho các em vốn từ ngữ, năng lực diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học. Từ đó nâng cao trình độ văn hóa nói chung và trình độ môn Ngữ Văn nói riêng. Đọc diễn cảm là một công việc quan trọng trong quá trình dạy và học Văn. Tác phẩm văn học có thể được nghiên cứu bằng nhiều con đường khác nhau nhưng dù bằng con đường nào thì công việc đầu tiên vẫn là làm quen trực tiếp với tác phẩm. Đọc diễn cảm có thể được xem là một phương tiện để tiếp cận tác phẩm văn học.Tuy nhiên để phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh phụ thuộc không chỉ vào hoạt động của các em mà phần lớn là dựa vào sự chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn, tổ chức học sinh hoạt động. Vì vậy để góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy và học bộ môn tôi mạnh dạn đưa ra biện pháp “ Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản”. Hi vọng đó sẽ là tiền đề để học sinh tiếp cận được tác phẩm văn học một cách sâu sắc hơn, giúp các em có hứng thú và niềm đam mê môn học. 3. Giới hạn của sáng kiến 3 3.1. Về đối tượng nghiên cứu Tầm quan trọng của phương pháp đọc diễn cảm trong giảng dạy Ngữ Văn 7 ở trường THCS . 3.2. Về không gian Nghiên cứu thực trạng học tập môn Ngữ văn 7 phần đọc diễn cảm của HS trường THCS Đồng Hưu, nắm được điểm mạnh, các tồn tại, từ đó tìm nguyên nhân giúp HS học tập tốt hơn đối với môn học. 3.3. Về thời gian Thời gian thực hiện: Từ năm học 2020 – 2021 và các năm học tiếp theo. 4 B. NỘI DUNG 1. Cơ sở viết sáng kiến 1.1. Cơ sở khoa học - Thực hiện cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung do Bộ GD & ĐT phát động, trong đó có nội dung “Chống bệnh thành tích trong giáo dục” là một trong những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước ta hiện nay, nhằm đánh giá thực chất chất lượng HS. - Bản thân mỗi GV phải thi đua dạy tốt để hoàn thành chỉ tiêu đề ra. Muốn làm được điều đó đòi hỏi mỗi GV phải có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy từ đó đưa ra những phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng HS. - Trong giảng dạy ngoài việc phát huy tính tích cực của HS, GV cũng cần phải giúp đỡ HS bằng cách hướng dẫn tích cực và tạo hứng thú trong mỗi tiết học để kích thích HS yêu thích bộ môn. - Giảng dạy văn học là giảng dạy một bộ môn văn hoá vừa có tính nghệ thuật vừa là một môn học. Dạy văn là một quá trình đòi hỏi nhiều tìm tòi sáng tạo của người thầy. Việc dạy - học văn là một quy trình hoạt động của người thầy - đóng vai trò hướng dẫn và học sinh - đóng vai trò tích cực, chủ động tiếp nhận. Nhưng sau một giờ dạy văn, không phải ta có thể đo lường, thấy ngay được kết quả. Hiệu quả của giờ văn là sự chuyển hoá, thẩm thấu dần từ giờ này sang giờ khác, từ bài này sang bài khác và trong suốt quá trình học tập của học sinh những năm học ở bậc phổ thông trung học. Trong phương pháp dạy học theo hướng đổi mới hiện nay, người thầy dạy văn là nhạc trưởng điều khiển cho mọi nhạc công sử dụng hài hào nhạc cụ của mình. Nhạc trưởng không biến thành nhạc công. Học sinh không phải là bình chứa mà là những ngọn lửa. Người thầy dạy văn là người thắp sáng những ngọn lửa ấy. Vì vậy đòi hỏi người thầy đứng lớp phải nắm vững từng đối tượng học sinh, phải có tài tổ chức, hướng dẫn quá trình tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm cho học sinh, không phải bằng những lời khuyên bảo trừu tượng mà phải biết văn chương hoá hoạt động của học sinh bằng một hệ 5 thống thao tác cụ thể, sáng tạo để các em từng bước thâm nhập tác phẩm . Việc học tác phẩm văn chương như vậy mới thực sự tạo ra sự hứng thú, sáng tạo cho học sinh trong giờ học văn. 1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý - Cơ sở chính trị: + Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) . Nghị quyết nêu trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả...”. Nghị quyế tnêu ra giải pháp cụ thể: “Cần xác định rõ và công khai mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo. Coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục và đào tạo; là căn cứ giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (...). Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người.Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để 6 người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. + Kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết đã đạt kết quả bước đầu quan trọng. Giáo dục mầm non đạt chuẩn phổ cập cho trẻ 5 tuổi. Giáo dục phổ thông có chuyển biến tốt hơn, được thế giới công nhận. Kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và xoá mù chữ được duy trì vững chắc. Quy mô giáo dục nghề nghiệp ngày càng tăng, chất lượng được cải thiện. Quản lý, quản trị đại học có chuyển biến tích cực; chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng cao; số công trình khoa học được công bố trong nước và quốc tế tăng mạnh. Nhiều cơ sở giáo dục ngoài công lập có bước phát triển khá cả về quy mô và chất lượng. Ngành Giáo dục và Đào tạo đã thể hiện quyết tâm đổi mới, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới công tác quản lý; đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông.Tuy nhiên, chất lượng giáo dục ở các bậc học chưa cải thiện đáng kể. Năng lực hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Một bộ phận nhà giáo chất lượng thấp, số ít nhà giáo vi phạm đạo đức nghề nghiệp; cơ cầu đội ngũ nhà giáo có nơi chưa hợp lý, thừa thiếu cục bộ, nhất là thiếu giáo viên mầm non. Công tác quản lý giáo dục còn nhiều bất cập. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Một số tiêu cực trong giáo dục chưa được giải quyết tốt gây bức xúc, lo lắng trong nhân dân. Để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết, phát huy kết quả đạt được, khắc phục cơ bản những hạn chế, yếu kém, Ban Bí thư yêu cầu cấp Uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải 7 pháp sau:Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; trau dồi lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống tốt đẹp, giáo dục tình yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tích cực, lành mạnh, trách nhiệm và làm việc hiệu quả trong học sinh, sinh viên. Đổi mới, nâng cao chất lượng việc giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá các môn lý luận chính trị, giáo dục công dân, giáo dục lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và văn hóa trong hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với từng cấp học. Quản lý chặt chẽ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài. Đặc biệt, chú trọng xây dựng môi trường văn hóa học đường ngày càng tốt đẹp, gắn với tăng cường giáo dục đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thường xuyên thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên Việt Nam trong việc giáo dục, rèn luyện học sinh, sinh viên. - Cơ sở pháp lý: + Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội nêu ra: “ Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập: đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông; giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội” . + Công văn số: 5555/BGDĐT-GDTrH, ngày 08/10/2014 nêu: “Trên cơ sở các chuyên đề dạy học đã được xây dựng, tổ/nhóm chuyên môn phân công giáo viên thực hiện bài học để dự giờ, phân tích và rút kinh nghiệm về giờ dạy. Khi dự 8 giờ, cần tập trung quan sát hoạt động học của học sinh thông qua việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ học tập với yêu cầu như sau: - Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với khả năng của học sinh, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành khi thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích được hứng thú nhận thức của học sinh; đảm bảo cho tất cả học sinh tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ. - Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích học sinh hợp tác với nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có học sinh bị "bỏ quên". - Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung học tập và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho học sinh trao đổi, thảo luận với nhau về nội dung học tập; xử lý những tình huống sư phạm nảy sinh một cách hợp lý. - Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và những ý kiến thảo luận của học sinh; chính xác hóa các kiến thức mà học sinh đã học được thông qua hoạt động. Mỗi chuyên đề được thực hiện ở nhiều tiết học nên một nhiệm vụ học tập có thể được thực hiện ở trong và ngoài lớp học. Vì thế, trong một tiết học có thể chỉ thực hiện một số bước trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng. Khi dự một giờ dạy, giáo viên cần phải đặt nó trong toàn bộ tiến trình dạy học của chuyên đề đã thiết kế. Cần tổ chức ghi hình các giờ dạy để sử dụng khi phân tích bài học”. 2. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết Qua quá trình giảng dạy và qua việc dự giờ, để học tập chuyên môn ở các đồng nghiệp. Tôi nhận thấy việc dạy đọc diễn cảm môn Ngữ văn lớp 7 còn gặp một số khó khăn: 2.1.Về phía giáo viên: 9 Chương trình Ngữ văn THCS nhấn mạnh trọng tâm của việc rèn luyện kỹ năng Ngữ văn cho Học sinh là giúp cho các em có 4 kỹ năng: Nghe – Nói – Đọc – Viết Tiếng việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có kỹ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn học. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy rằng trong các giờ dạy văn Giáo viên chúng ta ít chú tâm rèn luyện cho học sinh các kỹ năng trên, nhất là kỹ năng đọc văn bản, mà chỉ đặc biệt chú tâm vào quá trình chiếm lĩnh nội dung kiến thức tác phẩm, phần hướng dẫn đọc diễn cảm thường chỉ được tiến hành qua loa, hình thức, lấy lệ. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình nắm bắt nội dung kiến thức của các em. Đồng thời, theo cảm nhận riêng của chúng tôi, đây cũng chính là nguyên nhân gây cho các em cảm giác khó cảm thụ cái hay, cái đẹp của văn học mang lại, mà trở thành một rào cản, trở ngại lớn; hay nói cách khác, đó chính là áp lực cho các em khi học văn. Bởi vì bản chất của học văn trước hết phải đọc hiểu văn, mà đọc hiểu văn thì không giản đơn chỉ là đọc văn bản mà còn bao hàm sự ý thức cả cái cách mà mình hiểu tác phẩm nào đó, là tìm ra cái tác phẩm “của riêng mình”. Đọc văn là nền tảng của học văn. Học văn là năng lực cảm thụ văn, bồi dưỡng thị hiếu văn, tiếp nhận kiến thức văn hoá văn, rèn luyện năng lực biểu đạt sáng tạo văn. Nhà thơ Đỗ Phủ đã nói: “Đọc rách vạn quyển sách, Hạ bút như thần”; M. Gorki đã kể chuyện ông đọc nhiều như thế nào trước khi thành nhà văn lớn. Vì vậy, theo chúng tôi, Học sinh muốn học giỏi văn phải bắt đầu bằng việc đọc văn. Đọc văn khác giảng văn; Giảng văn là công việc của người thầy; còn đọc văn là công việc của mọi người, Và, theo Giáo sư – Tiến sĩ Trần Đình Sử đã nói “đã đến lúc phải chuyển việc giảng văn trong nhà trường thành việc dạy đọc, dạy cách đọc để học trò tự đọc lấy, thì việc học văn mới thực sự có kết quả. Phải đọc văn để người đọc tự phát hiện ra mình và lớn lên”. 10 Việc áp dụng phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm vẫn chưa thực sự hiệu quả, còn nặng về thuyết trình, giảng dạy theo lối dập khuôn máy móc, thầy đọc mẫu sao trò đọc như vậy. Giáo viên khi nhận xét học sinh đọc bài còn qua loa, chưa chú ý nhiều đến lỗi phát âm, đến việc sửa sai và đọc diễn cảm đúng giọng của bài cho học sinh. 2.2. Về phía học sinh: Do khả năng tư duy của học sinh trung học còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản trực quan nên việc cảm thụ văn học của học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Chất lượng cảm thụ văn học của học sinh chưa đồng đều dẫn đến chất lượng đọc diễn cảm chưa cao. Vốn sống và vốn kiến thức văn học của học sinh nhất là học sinh vùng nông thôn của chúng tôi còn hạn chế. Đa số các em là con trong những gia đình có bố mẹ làm nghề nông thuần tuý nên số phụ huynh có điều kiện và có ý thức mua sách báo cho con em mình đọc còn rất ít. Nguồn sách cung cấp chủ yếu cho các em là thư viện trường học. Hơn nữa không ít em chưa có thói quen đọc sách, ham đọc sách vì thế các em ít có sự say mê với các tác phẩm văn học. Do các em còn có quan niệm phần đọc văn bản chỉ là phần mở đầu cho giờ học Ngữ Văn , nó giống như phần tập đọc tác phẩm nên các em không phát huy sức mạnh của nghệ thuật đọc diễn cảm . Một số em có chát giọng kém cũng dẫn đến chất lượng đọc diễn cảm bị hạn chế. Một bộ phận không nhỏ học sinh có ngữ điệu đọc chưa phù hợp và kỹ thuật đọc còn chưa tốt. Đặc biệt do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương (phát âm sai phụ âm l/ n, ch/ tr, r/ d, x/ s) nên học sinh cũng bị ảnh hưởng bởi cách phát âm, điều này rất khó khăn cho giáo viên khi tổ chức rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh. Các em chưa phân biệt được giọng điệu của các dấu câu , thanh điệu như : “ Chưa phân biệt được giọng điệu của các câu có dấu chấm , dấu chấm hỏi , dấu chấm than , hay thanh hỏi và thanh ngã” dẫn tới việc đọc các từ 11 ngữ trong tác phẩm không suông , giọng không chuẩn làm cho việc phát hiện ra tình huống , tình cảm , tư tưởng trong tác phẩm không được toàn diện . Một số em có tốc độ đọc chưa đạt yêu cầu đối vói học sinh lớp 7 nên cũng làm ảnh hưởng đến việc đọc diễn cảm cho học sinh. Một số em còn thiếu tự tin trong giao tiếp, rụt rè, nhút nhát, đây cũng là một yếu tố làm ảnh hưởng đến đọc diễn cảm của học sinh. Chính vì những khó khăn hạn chế nêu trên nên chất lượng đọc diễn cảm học sinh lớp 7 chưa đạt kết quả như mong muốn. Trước thực trạng trên ngay sau khi dạy vài buổi đầu tiên của năm học 2020- 2021, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đọc của 2 lớp 7A,7B. Đề bài : Đọc diễn cảm một đoạn văn mà em yêu thích trong bài “ Mẹ tôi” của A-mi-xi( sách Ngữ Văn 7 – tập 1) . Kết quả thu được : STT Lớp Sĩ số Số em đọc Số em đọc Số em đọc Số em đọc chưa đạt đạt trung đúng , rõ diễn cảm yêu cầu bình ràng tốt 1 7A 29 5(17.2%) 12(41.4%) 9(31.1%) 3(10.3%) 2 7B 28 12(42.9%) 10(35.7%) 5(17.9%) 1(3.5%) Kết quả trên cho thấy số học sinh đọc diễn cảm một văn bản là rất ít, các em mới dừng lại ở yêu cầu đọc đúng tốc độ, phát âm tương đối chính xác, hiểu được nội dung bài, còn yêu cầu về đọc diễn cảm chưa đạt được. Một trong những mục tiêu của năm học 2020 – 2021 là đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ Văn tôi luôn trăn trở làm sao thực hiện được biện pháp “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản” cho học sinh của mình, góp phần vào thực hiện mục tiêu chung của năm học. Vì thế mà ngay từ năm học 2020- 2021 tôi đã 12 đưa biện pháp vào giảng dạy cho học sinh và tôi vẫn tiếp tục thực hiện biện pháp này trong những năm học tiếp theo. 3. Các giải pháp thực hiện Các bước tiến hành sáng kiến “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản Ngữ Văn 7” . Sau khi xác định được tình hình thực trạng ở trên tôi đã tiến hành thực hiện sáng kiến với các bước như sau : Thứ nhất: Phân loại nắm chắc đối tượng học sinh. Căn cứ vào kết quả khảo sát, theo dõi quá trình học trên lớp tôi đã tiến hành phân loại học sinh theo các nhóm sau: + Học sinh đọc diễn cảm tốt. + Học sinh đọc lưu loát bước đầu có diễn cảm. + Học sinh đọc đúng nhưng chưa diễn cảm. + Học sinh đọc sai, đọc ngọng, đọc chậm. Việc nắm chắc chất lượng đọc của học sinh ngay từ đầu năm sẽ giúp tôi bám sát được đối tượng, từ đó kèm cặp, sửa lỗi, bồi dưỡng kịp thời. Với từng đối tượng học sinh mà tôi đưa ra những yêu cầu đọc khác nhau. Với những học sinh đọc sai, đọc ngọng, đọc chậm chưa đạt yêu cầu tôi yêu cầu phải rèn đọc to, rõ và đúng ngữ điệu, chuẩn từ ngữ, ngữ pháp. Với những em đọc tốt, lưu loát tôi yêu cầu đọc diễn cảm. Thứ hai : Thiết kế bài giảng có chất lượng, khoa học phù hợp với nhiều đối tượng học sinh. Khi soạn giảng tôi chú ý đến mục tiêu nội dung của bài, xác định rõ thể loại văn bản để tìm ra giọng đọc phù hợp cụ thể như : + Với thơ: Tùy theo từng thể loại thơ như thơ lục bát, thơ đường luật, thơ tự do để hướng dẫn học sinh các cách đọc khác nhau như : . Đối với thơ Đường luật lưu ý học sinh đọc với giọng khỏe khoắn, tự hào, có ý biểu cảm cao, ngắt nghỉ đúng nhịp. 13 Ví dụ : “ Sông núi nước Nam/ vua Nam ở Vằng vặc sách trời/ chia xứ sở Giặc giữ cớ sao/ phạm đến đây Chúng mày nhất định/ phải tan vỡ” (Sông núi nước Nam – Lí Thường Kiệt ) . Đối với thơ lục bát tôi lưu ý học sinh đọc với giọng nhẹ nhàng, ấm áp hơn, kéo dài giọng 3 từ ở cuối dòng. Ngắt nghỉ đúng nhịp. Ví dụ : “Chiều chiều/ ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ / ruột đau chín chiều”. (ca dao) . Đối với thể thơ khác như thơ bốn chữ, năm chữ, tôi lưu ý học sinh đọc với giọng nhanh hơn, thể hiện sắc thái mạnh mẽ, làm nổi bật chi tiết khơi gợi nguồn cảm hứng của tác giả . Ví dụ : “ Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ”. ( Tiếng gà trưa –Xuân Quỳnh) Khi đọc thơ học sinh thường mắc lỗi ngắt nhịp do không nắm chắc được nghĩa, hiểu sai nghĩa của câu thơ, dòng thơ. Tôi đã soạn ra hệ thống câu hỏi để học sinh nắm được nghĩa và có cách ngắt nhịp đúng, đồng thời cũng lưu ý học sinh cách ngắt giọng biểu cảm ở chỗ ngừng lâu hơn bình thường, chú ý học sinh vào những từ trọng âm. Ví dụ : “Tiếng suối trong// như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ// bóng lồng hoa 14 Cảnh khuya như vẽ// người chưa ngủ Chưa ngủ// vì lo nỗi nước nhà” ( Cảnh khuya –Hồ Chí Minh) Ở ví dụ bài thơ trên tôi đặc biệt chú ý học sinh cách ngắt nhịp. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, cách ngắt nhịp thông thường là 3/4 hoặc 4/3, nhưng ở đây Hồ Chí Minh đã có sự phá cách về nhịp điệu thơ, ở câu thơ thứ 4 là nhịp 2/5. Đồng thời tôi cũng chú ý học sinh vào các từ ngữ quan trọng như điệp ngữ “chưa ngủ” và cụm từ “ lo nỗi nước nhà” để học sinh bước đầu cảm nhận được vẻ đẹp của Bác, vẻ đẹp của một thi sĩ, chiến sĩ. + Với văn xuôi: Khi luyện đọc diễn cảm, tôi đưa ra hệ thống những câu hỏi yêu cầu học sinh tìm ra những dấu câu đặc biệt (câu hỏi, câu cảm) để hướng dẫn học sinh đọc phù hợp, để học sinh tự tìm ra cách nghỉ hơi ở dấu chấm, ngắt hơi ở chấm phẩy, dấu hai chấm, dấu ba chấm đặc biệt phải biết ngắt hơi ở chỗ không có dấu câu nhưng đó là chỗ tách ý để thấy rõ ý đồ của tác giả. Hướng dẫn học sinh cách ngắt giọng sao cho lôi cuốn được người nghe, vừa nêu bật được tư tưởng tình cảm, giá trị nghệ thuật của bài văn. Tôi thường xuyên hướng dẫn học sinh thay đổi ngữ điệu để phù hợp với nội dung bài đọc. Trong Văn xuôi Ngữ văn lớp 7 gồm 3 thể loại đó là: Tự sự, tùy bút, nghị luận. Mỗi thể loại văn xuôi tôi lại hướng dẫn học sinh các cách đọc khác nhau sao cho phù hợp với từng thể loại văn bản. Ví dụ: “ Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. Ba trăm năm so với năm ngàn năm tuổi của đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu, chăm bón, trân trọng giữ gìn cái đô thị ngọc ngà này”. Ở đoạn trích trên khi dạy tôi sẽ hướng dẫn học sinh cách nghỉ hơi ở dấu chấm, dấu phẩy, hướng dẫn học sinh ngắt giọng để lôi cuốn người đọc, người nghe và thay đổi ngữ điệu để phù hợp với nội dung của đoạn. 15 + Với văn kể chuyện: tôi chú ý học sinh tới ngữ điệu kể, giọng của từng nhân vật, cho học sinh chú ý ngôi kể và xác định từng lời nhân vật, từng thời điểm giọng đọc có sự thay đổi phù hợp với nội dung cốt truyện và hướng dẫn học sinh đọc phân vai phù hợp với từng kiểu nhân vật. Ví dụ khi dạy văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê” trong SGK Ngữ Văn 7 tập I tôi hướng dẫn học sinh xác định ngôi kể và lời nhân vật, hướng dẫn cách đọc phân vai từ đó làm toát lên nỗi đau của hai anh em Thành và Thủy khi phải rời xa nhau, đó cũng chính là tư tưởng chủ đề của truyện. + Đối với thể văn tùy bút( văn biểu cảm) tôi chú ý học sinh đọc với giọng chậm rãi như thủ thỉ tâm tình để tập trung thể hiện dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình. Ví dụ: “ Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. Ba trăm năm so với năm ngàn năm tuổi của đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu, chăm bón, trân trọng giữ gìn cái đô thị ngọc ngà này”. Ở đoạn trích trên khi dạy tôi sẽ hướng dẫn học sinh cách nghỉ hơi ở dấu chấm, dấu phẩy, hướng dẫn học sinh ngắt giọng để lôi cuốn người đọc, người nghe và thay đổi ngữ điệu để phù hợp với nội dung của đoạn. + Đối với dạng văn nghị luận: khi dạy học sinh thể văn này tôi chú ý học sinh đọc với giọng mạnh mẽ, dứt khoát, sôi nổi, kiên quyết. Giọng cơ bản của thể văn này là trang trọng và nghiêm túc. Song ở từng bài cụ thể, với những nội dung cụ thể mà tôi hướng dẫn học sinh thay đổi giọng điệu cho linh hoạt, phù hợp. Khi thiết kế bài giảng tôi luôn cố gắng trình bày ngắn gọn song vẫn thể hiện được từng bước, có sự phân loại kiến thức cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Với mỗi đối tượng học sinh tôi lại có những yêu cầu cụ thể trong khâu chuẩn bị bài ở nhà. Với văn bản thơ tôi yêu cầu học sinh trước khi đọc được diễn cảm thì cần phải đọc thuộc thơ, với văn xuôi thì phải nắm được nhân vật, 16 cốt truyện và tóm tắt được văn bản.Việc hướng dẫn học sinh đọc bài trước ở nhà có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp học sinh đọc bài tốt hơn, tự tin hơn khi đọc bài trước lớp. Vì vậy mà cứ cuối tiết học tôi lại đưa ra những yêu cầu cụ thể về cách đọc cho bài học sau, yêu cầu học sinh tập đọc và trả lời câu hỏi ở phần tìm hiểu bài để học sinh hiểu được nội dung, ý nghĩa từ đó học sinh sẽ đọc đúng và diễn cảm hơn. Ví dụ: Khi chuẩn bị bài dạy “ Nam Quốc Sơn Hà ” của Lý Thường Kiệt trong sách Ngữ Văn 7 Tập I, để chuẩn bị cho bài lên lớp tôi rèn đọc cho mình như sau : + Đọc nhiều lần. + Nghiên cứu nắm kĩ nội dung của bài ( tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc). + Nghiên cứu phần hướng dẫn sư phạm trong sách giáo viên để từ đó xác định đúng giọng bài thơ: Giọng mạnh mẽ, dứt khoát. + Về cách ngắt nhịp: Đây là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nên tôi hướng dẫn học sinh cách ngắt nhịp 4/3( cách ngắt nhịp thông thường trong thơ Đường luật). Dựa vào cấu trúc câu tôi hướng dẫn học sinh cách ngắt nhịp như sau: “ Nam Quốc sơn hà // Nam đế cư Tiệt nhiên định phận // tại thiên thư Như hà nghịch lỗ // lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan // thủ bại hư ” ( Nam Quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt) + Về nhấn giọng: Hướng dẫn học sinh nhấn mạnh giọng ở cuối mỗi nhịp “cư, thư, hư”. Với cách xác định như vậy, đọc lại bài thơ nhiều lần, cộng với sự chuyển giọng linh hoạt tôi có thể tự tin thể hiện giọng đọc của mình trước học sinh. Thứ ba : Luyện đọc đúng, đọc lưu loát 17 Khi dạy ở trên lớp phần đọc –hiểu chú thích, đọc – hiểu văn bản tôi sẽ tập trung hướng dẫn học sinh luyện về cách phát âm, về cường độ, cao độ, về cách ngắt giọng cũng như về mặt ngữ điệu. + Luyện phát âm: Muốn học sinh từ đọc đúng, đọc ngắt giọng, nhấn giọng đến đọc diễn cảm trước hết tôi hướng dẫn học sinh phát âm chuẩn, đọc đúng loại câu, đúng ngữ điệu, hiểu nội dung bài, các em phải đặt mình vào vị trí của nhân vật, của tác giả. + Luyện đọc về cường độ: Tôi tập cho học sinh của mình thói quen đọc đúng cường độ, đọc đủ lớn để cho các bạn trong lớp có thể nghe được, cũng nhắc nhở học sinh tác hại của việc đọc quá nhỏ, việc nghe không rõ sẽ không sửa sai được cách đọc. + Luyện về cao độ: Ở mỗi kiểu loại câu lại có một ngữ điệu lên xuống khác nhau, xong vẫn còn tồn tại trường hợp ngoại lệ. Ví dụ : “ Nước non lận đận một mình Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay Ai làm cho bể kia đầy Cho ao kia cạn, cho gầy cò con? ” ( Ca dao) Ở câu ca dao thứ tư đây là kiểu câu hỏi nhưng khi đọc ta không lên giọng ở cuối câu mà lại hạ giọng ở cuối câu, vì đây là câu hỏi tu từ thể hiện một cảnh đời ngang trái, loạn lạc, bể đầy, ao cạn của cò, một cuộc đời đầy cơ cực lam lũ, gieo neo, khó nhọc. Như vậy tùy thuộc vào từng văn bản cụ thể mà tôi hướng dẫn học sinh thể hiện đúng cao độ. + Luyện về ngắt giọng: Hướng dẫn học sinh ngắt giọng giữa ranh giới chủ ngữ và vị ngữ . Ví dụ : “ Chương Dương/ cướp giáo giặc Hàm Tử/ bắt quân thù”. 18 (Phò giá về kinh – Trần Quang Khải) Song cũng không nên cứng nhắc trong cách ngắt giọng, bởi trong cùng một câu có nhiều cách ngắt giọng nên tôi sẽ chọn cách ngắt giọng hướng dẫn cho học sinh sao cho phù hợp nhất. + Luyện về ngữ điệu: Ngữ điệu bao gồm tất cả các dấu hiệu âm thanh phức tạp: Sự thay đổi của giọng nói cơ bản, độ vang to, âm sắc ,độ dài Đó chính là cơ sở của việc đọc diễn cảm. Việc hướng dẫn học sinh đọc đúng ngữ điệu để thể hiện được tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Thứ tư : Luyện đọc diễn cảm Phần luyện đọc diễn cảm được thực hiện trong quá trình tìm hiểu văn bản và tổng kết, luyện tập. Ở đây tôi hướng dẫn học sinh của mình cách đọc diễn cảm một cách tự nhiên, đọc đúng với giọng của mình, có cảm xúc, thái độ. Yêu cầu đọc dưới nhiều hình thức như đọc ở nhà, đọc một mình, đọc trước tập thể lớp. Cung cấp mẫu: Giúp học sinh tri giác các chỉ số âm thanh của bài đọc một cách cụ thể, từ đó có ý thức luyện đọc theo mẫu. Ở đây tôi tuân thủ các yêu cầu về giọng đọc mẫu thể hiện chính xác các chỉ số âm thanh phù hợp với nội dung bài học. Để tăng hứng thú học tập cho học sinh trong giờ học tôi đã thể hiện mẫu bằng nhiều đối tượng hoặc nhiều phương tiện khác nhau, đó là ngoài giáo viên đọc mẫu như trước tôi gọi học sinh khá, giỏi đọc, đưa băng tiếng, băng ghi hình góp phần vào sự phát triển khả năng tư duy, đọc sáng tạo cho học sinh. Thứ 5: kết hợp chặt chẽ giữa đọc diễn cảm và phát triển kĩ năng nghe cho học sinh Tôi có thể cho học sinh nghe một kiểu ngâm bài thơ, giới thiệu hay mô phỏng cách hát những bài ca dao theo những làn điệu dân ca, hoặc phân vai đối với các tác phẩm kịch, truyện ngắn. Ví dụ : Khi tìm hiểu văn bản“ Ca Huế trên sông Hương” của Hà Ánh Minh trong sách giáo khoa Ngữ Văn 7 tập II, tôi có thể cho học sinh nghe một vài làn 19 điệu dân ca Huế, hay cho học sinh nghe mẫu đoạn băng trong vở chèo“ Quan Âm Thị Kính” khi dạy học văn bản“ Quan Âm Thị Kính”. Thứ 6: Nhận xét, sửa chữa, điều chỉnh, khái quát hóa về cách đọc. Sự nhận xét của giáo viên có một vị trí hết sức quan trọng đối với cá nhân người đọc và tập thể lớp. Khi các em đã có những tri thức và kĩ năng đọc, đã biết tự đánh giá thì việc đánh giá của tôi càng đòi hỏi phải hết sức chính xác và khách quan bởi chỉ một sơ suất nhỏ sẽ ảnh hưởng tai hại đối với sự cố gắng và tiến bộ của học sinh. Đây là một khâu quan trọng giúp học sinh điều chỉnh, sửa chữa, ý thức sâu sắc về cách đọc diễn cảm của mình. Thứ 7: Khen, động viên, khuyến khích học sinh. Khen, động viên, khuyến khích học sinh đúng lúc, đúng chỗ, đúng thời điểm theo thông tư 22/ 2016, thông tư 26/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ở đây giáo viên không chỉ là người thầy mà còn là người bạn luôn gần gũi, sẻ chia, đem lại cho các em hứng thú, niềm yêu thích môn học. Thứ 8 . Phối kết hợp với các môi trường giáo dục Bản thân luôn tích cực phối kết hợp với nhà trường, đoàn, đội thông qua việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm: Trung thu, 26/3 qua đó học sinh có cơ hội để thể hiện sự sáng tạo, khả năng diễn đạt lưu loát và ngôn ngữ diễn cảm của mình qua các bài thuyết trình, từ đó kích thích hứng thú môn học cho các em. Thông qua việc giao bài tập qua zalo, tôi đã phối hợp được cùng gia đình trong việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm để nâng cao chất lượng môn học. 4. Hiệu quả của sáng kiến 4.1. Ý nghĩa thực tiễn của sáng kiến 4.1.1 Về mặt kinh tế Không tốn kinh phí, không cần đầu tư phương tiện nhiều, mỗi giáo viên Ngữ Văn đều có thể thực hiện được. Tạo điều kiện để phụ huynh và nhà trường cùng tham gia trong công tác giáo dục góp phần nâng cao chất lượng dạy học. 4.1.2.Về mặt xã hội 20 Đọc diễn cảm là một phương pháp trong hệ thống các phương pháp dạy học văn ở trường THCS, rèn cho học sinh 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Việc đọc diễn cảm mang lại hiệu quả trong việc đào tạo trí tuệ, năng lực cảm thụ văn học với những phẩm chất đạo đức nhằm phát triển con người toàn diện. Trong việc đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay ở trường THCS thì phương pháp đọc diễn cảm cũng góp một phần không nhỏ. Việc nhận thức đầy đủ vai trò tác dụng của phương pháp đọc diễn cảm sẽ giúp học sinh hình thành thế giới quan nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, nó mang lại niềm vui trong sáng tạo và niềm say mê yêu thích lao động. Đọc diễn cảm còn là một phương tiện giáo dục bồi dưỡng đạo đức thẩm mĩ cho các em. Bởi giáo dục thẩm mĩ và giáo dục đạo đức bao giờ cũng gắn liền với nhau, luôn hướng con người ta tới cái chân, thiện, mĩ. Đọc diễn cảm còn góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước, nâng cánh ước mơ cho học sinh. Nhận thức về tình yêu quê hương đất nước giúp học sinh nhận thức rõ tình cảm và hành động của mình với quê hương đất nước. Từ đó các em có ý thức vươn lên trong học tập, lao động rèn luyện mình tốt hơn để sau này góp phần vào việc xây dựng quê hương đất nước ngày càng phồn vinh, giàu đẹp. Như vậy có thể thấy rất rõ việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh trong các giờ đọc - hiểu văn bản có một ý nghĩa hết sức to lớn nhất là về mặt xã hội. Vì vậy để nâng cao hiệu quả dạy đọc diễn cảm đòi hỏi mỗi người giáo viên chúng ta phải luôn nỗ lực hết mình, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư suy nghĩ sáng tạo làm cho các em có niềm say mê hứng thú trong quá trình học tập. 4.2. Đối tượng hưởng lợi của sáng kiến Qua quá trình giảng dạy, nắm bắt tình hình thực tế học sinh lớp 7A và lớp 7B do mình giảng dạy tôi đã ghi nhận được một số kết quả ban đầu rất khả quan trong thời gian từ đầu năm học 2020- 2021 đến giữa học kì II năm học 2020 -
File đính kèm:
ren_ki_nang_doc_dien_cam_nang_cao_chat_luong_doc_hieu_van_ba.pdf



