Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc-hiểu văn bản Ngữ Văn 7

pdf25 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 11/02/2026 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc-hiểu văn bản Ngữ Văn 7, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
 1 
 Tên sáng kiến: 
 “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản Ngữ Văn 7” 
 A. MỞ ĐẦU 
1. Lí do hay sự cần thiết của sáng kiến: 
 Trong thời đại ngày nay - Thời đại của tri thức và trí tuệ, khoa học và công 
nghệ, Biết đọc nhất là đọc diễn cảm lại càng quan trọng vì nó sẽ giúp chúng ta 
sử dụng các nguồn thông tin để đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội. Vì 
vậy việc rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh là vấn đề hết sức cần thiết, 
nó có ý nghĩa rất lớn để kích thích sáng tạo của các em trong quá trình học văn, 
mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng nhân cách cho học sinh. Qua đó còn 
cung cấp cho các em vốn từ ngữ, năng lực diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm 
văn học. Từ đó nâng cao trình độ văn hóa nói chung và trình độ môn Ngữ Văn 
nói riêng. 
 Đọc diễn cảm là một công việc quan trọng trong quá trình dạy và học Văn. 
Tác phẩm văn học có thể được nghiên cứu bằng nhiều con đường khác nhau 
nhưng dù bằng con đường nào thì công việc đầu tiên vẫn là làm quen trực tiếp 
với tác phẩm. Đọc diễn cảm có thể được xem là một phương tiện để tiếp cận tác 
phẩm văn học.Tuy nhiên để phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh phụ 
thuộc không chỉ vào hoạt động của các em mà phần lớn là dựa vào sự chỉ đạo 
của giáo viên hướng dẫn, tổ chức học sinh hoạt động. Vì vậy để góp phần nâng 
cao hiệu quả, chất lượng dạy và học bộ môn tôi mạnh dạn đưa ra biện pháp “Rèn 
kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản Ngữ Văn 7”. Hi 
vọng đó sẽ là tiền đề để học sinh tiếp cận được tác phẩm văn học một cách sâu 
sắc hơn, giúp các em có hứng thú và niềm đam mê môn học. 
2. Mục tiêu của sáng kiến 
2.1. Mục tiêu chung 
- Sáng kiến nêu ra một số ý tưởng, một vài kinh nghiệm nhỏ góp phần làm giàu 
thêm kinh nghiệm trong việc góp phần giảng dạy bộ môn Ngữ văn. 2 
- Sáng kiến còn góp phần làm cho tiết dạy sôi nổi bài giảng có nhiều cảm xúc, 
đúng với đặc trưng bộ môn, giúp cho học sinh hứng thú học tập, mang lại hiệu 
quả cao. Cũng từ đó học sinh yêu thích môn học, yêu cuộc sống, có cái nhìn 
đúng đắn về cuộc sống, con người và xã hội. 
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Văn học nói riêng và bộ 
môn Ngữ Văn trong trường THCS Đồng Hưu nói chung . 
- Làm tư liệu tham khảo cho đồng nghiệp trong tổ bộ môn . 
2.2. Mục tiêu cụ thể 
 Trong thời đại ngày nay - Thời đại của tri thức và trí tuệ, khoa học và công 
nghệ, Biết đọc nhất là đọc diễn cảm lại càng quan trọng vì nó sẽ giúp chúng ta 
sử dụng các nguồn thông tin để đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội. Vì 
vậy việc rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh là vấn đề hết sức cần thiết, 
nó có ý nghĩa rất lớn để kích thích sáng tạo của các em trong quá trình học văn, 
mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng nhân cách cho học sinh. Qua đó còn 
cung cấp cho các em vốn từ ngữ, năng lực diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm 
văn học. Từ đó nâng cao trình độ văn hóa nói chung và trình độ môn Ngữ Văn 
nói riêng. 
 Đọc diễn cảm là một công việc quan trọng trong quá trình dạy và học Văn. 
Tác phẩm văn học có thể được nghiên cứu bằng nhiều con đường khác nhau 
nhưng dù bằng con đường nào thì công việc đầu tiên vẫn là làm quen trực tiếp 
với tác phẩm. Đọc diễn cảm có thể được xem là một phương tiện để tiếp cận tác 
phẩm văn học.Tuy nhiên để phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh phụ 
thuộc không chỉ vào hoạt động của các em mà phần lớn là dựa vào sự chỉ đạo 
của giáo viên hướng dẫn, tổ chức học sinh hoạt động. Vì vậy để góp phần nâng 
cao hiệu quả, chất lượng dạy và học bộ môn tôi mạnh dạn đưa ra biện pháp “ 
Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản”. Hi vọng đó 
sẽ là tiền đề để học sinh tiếp cận được tác phẩm văn học một cách sâu sắc hơn, 
giúp các em có hứng thú và niềm đam mê môn học. 
3. Giới hạn của sáng kiến 3 
 3.1. Về đối tượng nghiên cứu 
 Tầm quan trọng của phương pháp đọc diễn cảm trong giảng dạy Ngữ Văn 7 ở 
trường THCS . 
3.2. Về không gian 
 Nghiên cứu thực trạng học tập môn Ngữ văn 7 phần đọc diễn cảm của 
HS trường THCS Đồng Hưu, nắm được điểm mạnh, các tồn tại, từ đó tìm 
nguyên nhân giúp HS học tập tốt hơn đối với môn học. 
3.3. Về thời gian 
 Thời gian thực hiện: Từ năm học 2020 – 2021 và các năm học tiếp theo. 
 4 
B. NỘI DUNG 
1. Cơ sở viết sáng kiến 
 1.1. Cơ sở khoa học 
- Thực hiện cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung do Bộ GD & ĐT phát 
động, trong đó có nội dung “Chống bệnh thành tích trong giáo dục” là một trong 
những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước ta hiện nay, nhằm 
đánh giá thực chất chất lượng HS. 
- Bản thân mỗi GV phải thi đua dạy tốt để hoàn thành chỉ tiêu đề ra. Muốn làm 
được điều đó đòi hỏi mỗi GV phải có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy từ 
đó đưa ra những phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng HS. 
- Trong giảng dạy ngoài việc phát huy tính tích cực của HS, GV cũng cần phải 
giúp đỡ HS bằng cách hướng dẫn tích cực và tạo hứng thú trong mỗi tiết học để 
kích thích HS yêu thích bộ môn. 
- Giảng dạy văn học là giảng dạy một bộ môn văn hoá vừa có tính nghệ thuật 
vừa là một môn học. Dạy văn là một quá trình đòi hỏi nhiều tìm tòi sáng tạo của 
người thầy. Việc dạy - học văn là một quy trình hoạt động của người thầy - đóng 
vai trò hướng dẫn và học sinh - đóng vai trò tích cực, chủ động tiếp nhận. Nhưng 
sau một giờ dạy văn, không phải ta có thể đo lường, thấy ngay được kết quả. 
Hiệu quả của giờ văn là sự chuyển hoá, thẩm thấu dần từ giờ này sang giờ khác, 
từ bài này sang bài khác và trong suốt quá trình học tập của học sinh những năm 
học ở bậc phổ thông trung học. Trong phương pháp dạy học theo hướng đổi mới 
hiện nay, người thầy dạy văn là nhạc trưởng điều khiển cho mọi nhạc công sử 
dụng hài hào nhạc cụ của mình. Nhạc trưởng không biến thành nhạc công. Học 
sinh không phải là bình chứa mà là những ngọn lửa. Người thầy dạy văn là 
người thắp sáng những ngọn lửa ấy. Vì vậy đòi hỏi người thầy đứng lớp phải 
nắm vững từng đối tượng học sinh, phải có tài tổ chức, hướng dẫn quá trình tiếp 
nhận, chiếm lĩnh tác phẩm cho học sinh, không phải bằng những lời khuyên bảo 
trừu tượng mà phải biết văn chương hoá hoạt động của học sinh bằng một hệ 5 
thống thao tác cụ thể, sáng tạo để các em từng bước thâm nhập tác phẩm . Việc 
học tác phẩm văn chương như vậy mới thực sự tạo ra sự hứng thú, sáng tạo cho 
học sinh trong giờ học văn. 
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý 
- Cơ sở chính trị: 
+ Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ tám Ban 
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) . Nghị quyết nêu trên cơ sở mục tiêu đổi 
mới giáo dục và đào tạo: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, 
hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo 
vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát 
triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá 
nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu 
quả...”. Nghị quyế tnêu ra giải pháp cụ thể: “Cần xác định rõ và công khai mục 
tiêu, chuẩn đầu ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên 
ngành đào tạo. Coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ 
sở giáo dục và đào tạo; là căn cứ giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục, đào 
tạo. Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài 
hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo 
dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và 
ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo 
dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập 
trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh 
hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và 
tư tưởng Hồ Chí Minh (...). Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu 
cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt 
đời của mọi người.Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo 
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến 
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ 
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để 6 
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển 
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt 
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ 
thông tin và truyền thông trong dạy và học. 
+ Kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện 
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo 
dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện 
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Sau 5 năm 
thực hiện Nghị quyết đã đạt kết quả bước đầu quan trọng. Giáo dục mầm non 
đạt chuẩn phổ cập cho trẻ 5 tuổi. Giáo dục phổ thông có chuyển biến tốt hơn, 
được thế giới công nhận. Kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và 
xoá mù chữ được duy trì vững chắc. Quy mô giáo dục nghề nghiệp ngày càng 
tăng, chất lượng được cải thiện. Quản lý, quản trị đại học có chuyển biến tích 
cực; chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng cao; số công trình khoa 
học được công bố trong nước và quốc tế tăng mạnh. Nhiều cơ sở giáo dục ngoài 
công lập có bước phát triển khá cả về quy mô và chất lượng. Ngành Giáo dục và 
Đào tạo đã thể hiện quyết tâm đổi mới, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ 
quản lý giáo dục; đổi mới công tác quản lý; đổi mới chương trình và sách giáo 
khoa phổ thông.Tuy nhiên, chất lượng giáo dục ở các bậc học chưa cải thiện 
đáng kể. Năng lực hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục chưa cao, chưa đáp 
ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Một bộ phận nhà giáo chất 
lượng thấp, số ít nhà giáo vi phạm đạo đức nghề nghiệp; cơ cầu đội ngũ nhà giáo 
có nơi chưa hợp lý, thừa thiếu cục bộ, nhất là thiếu giáo viên mầm non. Công tác 
quản lý giáo dục còn nhiều bất cập. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa 
đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Một số tiêu cực 
trong giáo dục chưa được giải quyết tốt gây bức xúc, lo lắng trong nhân dân. Để 
tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết, phát huy kết quả đạt được, khắc phục 
cơ bản những hạn chế, yếu kém, Ban Bí thư yêu cầu cấp Uỷ, tổ chức đảng, chính 
quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải 7 
pháp sau:Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị 
khóa XI về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí 
Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục con người Việt Nam phát 
triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá 
nhân; trau dồi lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống tốt đẹp, giáo dục tình yêu 
gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tích cực, lành mạnh, trách nhiệm và 
làm việc hiệu quả trong học sinh, sinh viên. Đổi mới, nâng cao chất lượng việc 
giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá các môn lý luận chính trị, giáo dục công 
dân, giáo dục lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và văn hóa trong hệ thống giáo 
dục quốc dân theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với từng cấp học. Quản 
lý chặt chẽ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với các cơ sở giáo dục có 
yếu tố nước ngoài. Đặc biệt, chú trọng xây dựng môi trường văn hóa học đường 
ngày càng tốt đẹp, gắn với tăng cường giáo dục đạo đức, trách nhiệm nghề 
nghiệp cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thường xuyên thực 
hiện tốt công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng 
sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên Việt Nam trong việc giáo dục, rèn luyện học 
sinh, sinh viên. 
- Cơ sở pháp lý: 
+ Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội nêu ra: “ Tiếp tục đổi mới phương 
pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người 
học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, 
hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập: 
đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các phương 
tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông; giáo dục ở nhà 
trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội” . 
+ Công văn số: 5555/BGDĐT-GDTrH, ngày 08/10/2014 nêu: “Trên cơ sở các 
chuyên đề dạy học đã được xây dựng, tổ/nhóm chuyên môn phân công giáo viên 
thực hiện bài học để dự giờ, phân tích và rút kinh nghiệm về giờ dạy. Khi dự 8 
giờ, cần tập trung quan sát hoạt động học của học sinh thông qua việc tổ chức 
thực hiện các nhiệm vụ học tập với yêu cầu như sau: 
- Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với khả 
năng của học sinh, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành 
khi thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích 
được hứng thú nhận thức của học sinh; đảm bảo cho tất cả học sinh tiếp nhận và 
sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ. 
- Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích học sinh hợp tác với nhau khi thực 
hiện nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh và có 
biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có học sinh bị "bỏ quên". 
- Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung học tập 
và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho học sinh trao đổi, 
thảo luận với nhau về nội dung học tập; xử lý những tình huống sư phạm nảy 
sinh một cách hợp lý. 
- Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: nhận xét về quá trình thực hiện 
nhiệm vụ học tập của học sinh; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện 
nhiệm vụ và những ý kiến thảo luận của học sinh; chính xác hóa các kiến thức 
mà học sinh đã học được thông qua hoạt động. 
 Mỗi chuyên đề được thực hiện ở nhiều tiết học nên một nhiệm vụ học tập có 
thể được thực hiện ở trong và ngoài lớp học. Vì thế, trong một tiết học có thể chỉ 
thực hiện một số bước trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy 
học được sử dụng. Khi dự một giờ dạy, giáo viên cần phải đặt nó trong toàn bộ 
tiến trình dạy học của chuyên đề đã thiết kế. Cần tổ chức ghi hình các giờ dạy để 
sử dụng khi phân tích bài học”. 
2. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết 
 Qua quá trình giảng dạy và qua việc dự giờ, để học tập chuyên môn ở các 
đồng nghiệp. Tôi nhận thấy việc dạy đọc diễn cảm môn Ngữ văn lớp 7 còn gặp 
một số khó khăn: 
2.1.Về phía giáo viên: 9 
 Chương trình Ngữ văn THCS nhấn mạnh trọng tâm của việc rèn luyện kỹ 
năng Ngữ văn cho Học sinh là giúp cho các em có 4 kỹ năng: Nghe – Nói – Đọc 
– Viết Tiếng việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có kỹ năng sơ giản về 
phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn 
học. 
 Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy rằng trong các giờ 
dạy văn Giáo viên chúng ta ít chú tâm rèn luyện cho học sinh các kỹ năng trên, 
nhất là kỹ năng đọc văn bản, mà chỉ đặc biệt chú tâm vào quá trình chiếm lĩnh 
nội dung kiến thức tác phẩm, phần hướng dẫn đọc diễn cảm thường chỉ được 
tiến hành qua loa, hình thức, lấy lệ. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ trong quá 
trình nắm bắt nội dung kiến thức của các em. Đồng thời, theo cảm nhận riêng 
của chúng tôi, đây cũng chính là nguyên nhân gây cho các em cảm giác khó cảm 
thụ cái hay, cái đẹp của văn học mang lại, mà trở thành một rào cản, trở ngại 
lớn; hay nói cách khác, đó chính là áp lực cho các em khi học văn. Bởi vì bản 
chất của học văn trước hết phải đọc hiểu văn, mà đọc hiểu văn thì không giản 
đơn chỉ là đọc văn bản mà còn bao hàm sự ý thức cả cái cách mà mình hiểu tác 
phẩm nào đó, là tìm ra cái tác phẩm “của riêng mình”. 
 Đọc văn là nền tảng của học văn. Học văn là năng lực cảm thụ văn, bồi 
dưỡng thị hiếu văn, tiếp nhận kiến thức văn hoá văn, rèn luyện năng lực biểu đạt 
sáng tạo văn. Nhà thơ Đỗ Phủ đã nói: “Đọc rách vạn quyển sách, Hạ bút như 
thần”; M. Gorki đã kể chuyện ông đọc nhiều như thế nào trước khi thành nhà 
văn lớn. Vì vậy, theo chúng tôi, Học sinh muốn học giỏi văn phải bắt đầu bằng 
việc đọc văn. Đọc văn khác giảng văn; Giảng văn là công việc của người thầy; 
còn đọc văn là công việc của mọi người, Và, theo Giáo sư – Tiến sĩ Trần Đình 
Sử đã nói “đã đến lúc phải chuyển việc giảng văn trong nhà trường thành việc 
dạy đọc, dạy cách đọc để học trò tự đọc lấy, thì việc học văn mới thực sự có kết 
quả. Phải đọc văn để người đọc tự phát hiện ra mình và lớn lên”. 10 
 Việc áp dụng phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực lấy học sinh làm 
trung tâm vẫn chưa thực sự hiệu quả, còn nặng về thuyết trình, giảng dạy theo 
lối dập khuôn máy móc, thầy đọc mẫu sao trò đọc như vậy. 
 Giáo viên khi nhận xét học sinh đọc bài còn qua loa, chưa chú ý nhiều đến lỗi 
phát âm, đến việc sửa sai và đọc diễn cảm đúng giọng của bài cho học sinh. 
2.2. Về phía học sinh: 
 Do khả năng tư duy của học sinh trung học còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn 
giản trực quan nên việc cảm thụ văn học của học sinh còn gặp nhiều khó khăn. 
Chất lượng cảm thụ văn học của học sinh chưa đồng đều dẫn đến chất lượng đọc 
diễn cảm chưa cao. 
 Vốn sống và vốn kiến thức văn học của học sinh nhất là học sinh vùng nông 
thôn của chúng tôi còn hạn chế. Đa số các em là con trong những gia đình có bố 
mẹ làm nghề nông thuần tuý nên số phụ huynh có điều kiện và có ý thức mua 
sách báo cho con em mình đọc còn rất ít. Nguồn sách cung cấp chủ yếu cho các 
em là thư viện trường học. Hơn nữa không ít em chưa có thói quen đọc sách, 
ham đọc sách vì thế các em ít có sự say mê với các tác phẩm văn học. 
 Do các em còn có quan niệm phần đọc văn bản chỉ là phần mở đầu cho giờ 
học Ngữ Văn , nó giống như phần tập đọc tác phẩm nên các em không phát huy 
sức mạnh của nghệ thuật đọc diễn cảm . 
 Một số em có chát giọng kém cũng dẫn đến chất lượng đọc diễn cảm bị hạn 
chế. 
 Một bộ phận không nhỏ học sinh có ngữ điệu đọc chưa phù hợp và kỹ thuật 
đọc còn chưa tốt. Đặc biệt do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương (phát âm 
sai phụ âm l/ n, ch/ tr, r/ d, x/ s) nên học sinh cũng bị ảnh hưởng bởi cách phát 
âm, điều này rất khó khăn cho giáo viên khi tổ chức rèn kĩ năng đọc diễn cảm 
cho học sinh. Các em chưa phân biệt được giọng điệu của các dấu câu , thanh 
điệu như : “ Chưa phân biệt được giọng điệu của các câu có dấu chấm , dấu 
chấm hỏi , dấu chấm than , hay thanh hỏi và thanh ngã” dẫn tới việc đọc các từ 11 
ngữ trong tác phẩm không suông , giọng không chuẩn làm cho việc phát hiện ra 
tình huống , tình cảm , tư tưởng trong tác phẩm không được toàn diện . 
 Một số em có tốc độ đọc chưa đạt yêu cầu đối vói học sinh lớp 7 nên cũng làm 
ảnh hưởng đến việc đọc diễn cảm cho học sinh. 
 Một số em còn thiếu tự tin trong giao tiếp, rụt rè, nhút nhát, đây cũng là một 
yếu tố làm ảnh hưởng đến đọc diễn cảm của học sinh. 
 Chính vì những khó khăn hạn chế nêu trên nên chất lượng đọc diễn cảm học 
sinh lớp 7 chưa đạt kết quả như mong muốn. 
 Trước thực trạng trên ngay sau khi dạy vài buổi đầu tiên của năm học 2020- 
2021, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đọc của 2 lớp 7A,7B. 
 Đề bài : Đọc diễn cảm một đoạn văn mà em yêu thích trong bài “ Mẹ tôi” 
của A-mi-xi( sách Ngữ Văn 7 – tập 1) . 
 Kết quả thu được : 
 STT Lớp Sĩ số Số em đọc Số em đọc Số em đọc Số em đọc 
 chưa đạt đạt trung đúng , rõ diễn cảm 
 yêu cầu bình ràng tốt 
 1 7A 29 5(17.2%) 12(41.4%) 9(31.1%) 3(10.3%) 
 2 7B 28 12(42.9%) 10(35.7%) 5(17.9%) 1(3.5%) 
 Kết quả trên cho thấy số học sinh đọc diễn cảm một văn bản là rất ít, các em 
mới dừng lại ở yêu cầu đọc đúng tốc độ, phát âm tương đối chính xác, hiểu được 
nội dung bài, còn yêu cầu về đọc diễn cảm chưa đạt được. 
 Một trong những mục tiêu của năm học 2020 – 2021 là đổi mới và nâng cao 
chất lượng giáo dục. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ Văn tôi 
luôn trăn trở làm sao thực hiện được biện pháp “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng 
cao chất lượng đọc - hiểu văn bản” cho học sinh của mình, góp phần vào thực 
hiện mục tiêu chung của năm học. Vì thế mà ngay từ năm học 2020- 2021 tôi đã 12 
đưa biện pháp vào giảng dạy cho học sinh và tôi vẫn tiếp tục thực hiện biện pháp 
này trong những năm học tiếp theo. 
3. Các giải pháp thực hiện 
 Các bước tiến hành sáng kiến “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm nâng cao chất 
lượng đọc - hiểu văn bản Ngữ Văn 7” . 
 Sau khi xác định được tình hình thực trạng ở trên tôi đã tiến hành thực hiện 
sáng kiến với các bước như sau : 
 Thứ nhất: Phân loại nắm chắc đối tượng học sinh. 
 Căn cứ vào kết quả khảo sát, theo dõi quá trình học trên lớp tôi đã tiến hành 
phân loại học sinh theo các nhóm sau: 
 + Học sinh đọc diễn cảm tốt. 
 + Học sinh đọc lưu loát bước đầu có diễn cảm. 
 + Học sinh đọc đúng nhưng chưa diễn cảm. 
 + Học sinh đọc sai, đọc ngọng, đọc chậm. 
 Việc nắm chắc chất lượng đọc của học sinh ngay từ đầu năm sẽ giúp tôi bám 
sát được đối tượng, từ đó kèm cặp, sửa lỗi, bồi dưỡng kịp thời. Với từng đối 
tượng học sinh mà tôi đưa ra những yêu cầu đọc khác nhau. Với những học sinh 
đọc sai, đọc ngọng, đọc chậm chưa đạt yêu cầu tôi yêu cầu phải rèn đọc to, rõ và 
đúng ngữ điệu, chuẩn từ ngữ, ngữ pháp. Với những em đọc tốt, lưu loát tôi yêu 
cầu đọc diễn cảm. 
 Thứ hai : Thiết kế bài giảng có chất lượng, khoa học phù hợp với nhiều 
đối tượng học sinh. 
 Khi soạn giảng tôi chú ý đến mục tiêu nội dung của bài, xác định rõ thể loại 
văn bản để tìm ra giọng đọc phù hợp cụ thể như : 
 + Với thơ: Tùy theo từng thể loại thơ như thơ lục bát, thơ đường luật, thơ 
tự do để hướng dẫn học sinh các cách đọc khác nhau như : 
 . Đối với thơ Đường luật lưu ý học sinh đọc với giọng khỏe khoắn, tự hào, 
có ý biểu cảm cao, ngắt nghỉ đúng nhịp. 13 
 Ví dụ : “ Sông núi nước Nam/ vua Nam ở 
 Vằng vặc sách trời/ chia xứ sở 
 Giặc giữ cớ sao/ phạm đến đây 
 Chúng mày nhất định/ phải tan vỡ” 
 (Sông núi nước Nam – Lí Thường Kiệt ) 
 . Đối với thơ lục bát tôi lưu ý học sinh đọc với giọng nhẹ nhàng, ấm áp hơn, 
kéo dài giọng 3 từ ở cuối dòng. Ngắt nghỉ đúng nhịp. 
 Ví dụ : “Chiều chiều/ ra đứng ngõ sau 
 Trông về quê mẹ / ruột đau chín chiều”. 
 (ca dao) 
 . Đối với thể thơ khác như thơ bốn chữ, năm chữ, tôi lưu ý học sinh đọc với 
giọng nhanh hơn, thể hiện sắc thái mạnh mẽ, làm nổi bật chi tiết khơi gợi nguồn 
cảm hứng của tác giả . 
 Ví dụ : “ Cháu chiến đấu hôm nay 
 Vì lòng yêu Tổ quốc 
 Vì xóm làng thân thuộc 
 Bà ơi, cũng vì bà 
 Vì tiếng gà cục tác 
 Ổ trứng hồng tuổi thơ”. 
 ( Tiếng gà trưa –Xuân Quỳnh) 
 Khi đọc thơ học sinh thường mắc lỗi ngắt nhịp do không nắm chắc được 
nghĩa, hiểu sai nghĩa của câu thơ, dòng thơ. Tôi đã soạn ra hệ thống câu hỏi để 
học sinh nắm được nghĩa và có cách ngắt nhịp đúng, đồng thời cũng lưu ý học 
sinh cách ngắt giọng biểu cảm ở chỗ ngừng lâu hơn bình thường, chú ý học sinh 
vào những từ trọng âm. 
 Ví dụ : 
 “Tiếng suối trong// như tiếng hát xa 
 Trăng lồng cổ thụ// bóng lồng hoa 14 
 Cảnh khuya như vẽ// người chưa ngủ 
 Chưa ngủ// vì lo nỗi nước nhà” 
 ( Cảnh khuya –Hồ Chí Minh) 
 Ở ví dụ bài thơ trên tôi đặc biệt chú ý học sinh cách ngắt nhịp. Bài thơ được 
viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, cách ngắt nhịp thông thường là 3/4 hoặc 4/3, 
nhưng ở đây Hồ Chí Minh đã có sự phá cách về nhịp điệu thơ, ở câu thơ thứ 4 là 
nhịp 2/5. Đồng thời tôi cũng chú ý học sinh vào các từ ngữ quan trọng như điệp 
ngữ “chưa ngủ” và cụm từ “ lo nỗi nước nhà” để học sinh bước đầu cảm nhận 
được vẻ đẹp của Bác, vẻ đẹp của một thi sĩ, chiến sĩ. 
 + Với văn xuôi: Khi luyện đọc diễn cảm, tôi đưa ra hệ thống những câu 
hỏi yêu cầu học sinh tìm ra những dấu câu đặc biệt (câu hỏi, câu cảm) để hướng 
dẫn học sinh đọc phù hợp, để học sinh tự tìm ra cách nghỉ hơi ở dấu chấm, ngắt 
hơi ở chấm phẩy, dấu hai chấm, dấu ba chấm đặc biệt phải biết ngắt hơi ở chỗ 
không có dấu câu nhưng đó là chỗ tách ý để thấy rõ ý đồ của tác giả. Hướng dẫn 
học sinh cách ngắt giọng sao cho lôi cuốn được người nghe, vừa nêu bật được tư 
tưởng tình cảm, giá trị nghệ thuật của bài văn. Tôi thường xuyên hướng dẫn học 
sinh thay đổi ngữ điệu để phù hợp với nội dung bài đọc. 
 Trong Văn xuôi Ngữ văn lớp 7 gồm 3 thể loại đó là: Tự sự, tùy bút, nghị 
luận. Mỗi thể loại văn xuôi tôi lại hướng dẫn học sinh các cách đọc khác nhau 
sao cho phù hợp với từng thể loại văn bản. 
 Ví dụ: “ Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. Ba trăm năm so với năm ngàn 
năm tuổi của đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài Gòn cứ trẻ hoài như 
một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay 
và cả ngày mai biết cách tưới tiêu, chăm bón, trân trọng giữ gìn cái đô thị ngọc 
ngà này”. 
 Ở đoạn trích trên khi dạy tôi sẽ hướng dẫn học sinh cách nghỉ hơi ở dấu 
chấm, dấu phẩy, hướng dẫn học sinh ngắt giọng để lôi cuốn người đọc, người 
nghe và thay đổi ngữ điệu để phù hợp với nội dung của đoạn. 15 
 + Với văn kể chuyện: tôi chú ý học sinh tới ngữ điệu kể, giọng của từng 
nhân vật, cho học sinh chú ý ngôi kể và xác định từng lời nhân vật, từng thời 
điểm giọng đọc có sự thay đổi phù hợp với nội dung cốt truyện và hướng dẫn 
học sinh đọc phân vai phù hợp với từng kiểu nhân vật. 
 Ví dụ khi dạy văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê” trong SGK 
Ngữ Văn 7 tập I tôi hướng dẫn học sinh xác định ngôi kể và lời nhân vật, hướng 
dẫn cách đọc phân vai từ đó làm toát lên nỗi đau của hai anh em Thành và Thủy 
khi phải rời xa nhau, đó cũng chính là tư tưởng chủ đề của truyện. 
 + Đối với thể văn tùy bút( văn biểu cảm) tôi chú ý học sinh đọc với giọng 
chậm rãi như thủ thỉ tâm tình để tập trung thể hiện dòng cảm xúc của nhân vật 
trữ tình. 
 Ví dụ: “ Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. Ba trăm năm so với năm ngàn 
năm tuổi của đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài Gòn cứ trẻ hoài như 
một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay 
và cả ngày mai biết cách tưới tiêu, chăm bón, trân trọng giữ gìn cái đô thị ngọc 
ngà này”. 
 Ở đoạn trích trên khi dạy tôi sẽ hướng dẫn học sinh cách nghỉ hơi ở dấu 
chấm, dấu phẩy, hướng dẫn học sinh ngắt giọng để lôi cuốn người đọc, người 
nghe và thay đổi ngữ điệu để phù hợp với nội dung của đoạn. 
 + Đối với dạng văn nghị luận: khi dạy học sinh thể văn này tôi chú ý học 
sinh đọc với giọng mạnh mẽ, dứt khoát, sôi nổi, kiên quyết. Giọng cơ bản của 
thể văn này là trang trọng và nghiêm túc. Song ở từng bài cụ thể, với những nội 
dung cụ thể mà tôi hướng dẫn học sinh thay đổi giọng điệu cho linh hoạt, phù 
hợp. 
 Khi thiết kế bài giảng tôi luôn cố gắng trình bày ngắn gọn song vẫn thể 
hiện được từng bước, có sự phân loại kiến thức cho phù hợp với từng đối tượng 
học sinh. Với mỗi đối tượng học sinh tôi lại có những yêu cầu cụ thể trong khâu 
chuẩn bị bài ở nhà. Với văn bản thơ tôi yêu cầu học sinh trước khi đọc được 
diễn cảm thì cần phải đọc thuộc thơ, với văn xuôi thì phải nắm được nhân vật, 16 
cốt truyện và tóm tắt được văn bản.Việc hướng dẫn học sinh đọc bài trước ở nhà 
có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp học sinh đọc bài tốt hơn, tự tin hơn khi đọc 
bài trước lớp. Vì vậy mà cứ cuối tiết học tôi lại đưa ra những yêu cầu cụ thể về 
cách đọc cho bài học sau, yêu cầu học sinh tập đọc và trả lời câu hỏi ở phần tìm 
hiểu bài để học sinh hiểu được nội dung, ý nghĩa từ đó học sinh sẽ đọc đúng và 
diễn cảm hơn. 
 Ví dụ: Khi chuẩn bị bài dạy “ Nam Quốc Sơn Hà ” của Lý Thường Kiệt 
trong sách Ngữ Văn 7 Tập I, để chuẩn bị cho bài lên lớp tôi rèn đọc cho mình 
như sau : 
 + Đọc nhiều lần. 
 + Nghiên cứu nắm kĩ nội dung của bài ( tình yêu nước và niềm tự hào dân 
tộc). 
 + Nghiên cứu phần hướng dẫn sư phạm trong sách giáo viên để từ đó xác 
định đúng giọng bài thơ: Giọng mạnh mẽ, dứt khoát. 
 + Về cách ngắt nhịp: Đây là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nên tôi hướng dẫn 
học sinh cách ngắt nhịp 4/3( cách ngắt nhịp thông thường trong thơ Đường luật). 
 Dựa vào cấu trúc câu tôi hướng dẫn học sinh cách ngắt nhịp như sau: 
 “ Nam Quốc sơn hà // Nam đế cư 
 Tiệt nhiên định phận // tại thiên thư 
 Như hà nghịch lỗ // lai xâm phạm 
 Nhữ đẳng hành khan // thủ bại hư ” 
 ( Nam Quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt) 
 + Về nhấn giọng: Hướng dẫn học sinh nhấn mạnh giọng ở cuối mỗi nhịp 
“cư, thư, hư”. 
 Với cách xác định như vậy, đọc lại bài thơ nhiều lần, cộng với sự chuyển 
giọng linh hoạt tôi có thể tự tin thể hiện giọng đọc của mình trước học sinh. 
 Thứ ba : Luyện đọc đúng, đọc lưu loát 17 
 Khi dạy ở trên lớp phần đọc –hiểu chú thích, đọc – hiểu văn bản tôi sẽ tập 
trung hướng dẫn học sinh luyện về cách phát âm, về cường độ, cao độ, về cách 
ngắt giọng cũng như về mặt ngữ điệu. 
 + Luyện phát âm: Muốn học sinh từ đọc đúng, đọc ngắt giọng, nhấn giọng 
đến đọc diễn cảm trước hết tôi hướng dẫn học sinh phát âm chuẩn, đọc đúng loại 
câu, đúng ngữ điệu, hiểu nội dung bài, các em phải đặt mình vào vị trí của nhân 
vật, của tác giả. 
 + Luyện đọc về cường độ: Tôi tập cho học sinh của mình thói quen đọc 
đúng cường độ, đọc đủ lớn để cho các bạn trong lớp có thể nghe được, cũng 
nhắc nhở học sinh tác hại của việc đọc quá nhỏ, việc nghe không rõ sẽ không 
sửa sai được cách đọc. 
 + Luyện về cao độ: Ở mỗi kiểu loại câu lại có một ngữ điệu lên xuống khác 
nhau, xong vẫn còn tồn tại trường hợp ngoại lệ. 
 Ví dụ : “ Nước non lận đận một mình 
 Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay 
 Ai làm cho bể kia đầy 
 Cho ao kia cạn, cho gầy cò con? ” 
 ( Ca dao) 
 Ở câu ca dao thứ tư đây là kiểu câu hỏi nhưng khi đọc ta không lên giọng ở 
cuối câu mà lại hạ giọng ở cuối câu, vì đây là câu hỏi tu từ thể hiện một cảnh đời 
ngang trái, loạn lạc, bể đầy, ao cạn của cò, một cuộc đời đầy cơ cực lam lũ, gieo 
neo, khó nhọc. 
 Như vậy tùy thuộc vào từng văn bản cụ thể mà tôi hướng dẫn học sinh thể 
hiện đúng cao độ. 
 + Luyện về ngắt giọng: Hướng dẫn học sinh ngắt giọng giữa ranh giới chủ 
ngữ và vị ngữ . 
 Ví dụ : “ Chương Dương/ cướp giáo giặc 
 Hàm Tử/ bắt quân thù”. 18 
 (Phò giá về kinh – Trần Quang Khải) 
 Song cũng không nên cứng nhắc trong cách ngắt giọng, bởi trong cùng một 
câu có nhiều cách ngắt giọng nên tôi sẽ chọn cách ngắt giọng hướng dẫn cho học 
sinh sao cho phù hợp nhất. 
 + Luyện về ngữ điệu: Ngữ điệu bao gồm tất cả các dấu hiệu âm thanh phức 
tạp: Sự thay đổi của giọng nói cơ bản, độ vang to, âm sắc ,độ dài Đó chính là 
cơ sở của việc đọc diễn cảm. Việc hướng dẫn học sinh đọc đúng ngữ điệu để thể 
hiện được tư tưởng chủ đề của tác phẩm. 
 Thứ tư : Luyện đọc diễn cảm 
 Phần luyện đọc diễn cảm được thực hiện trong quá trình tìm hiểu văn bản 
và tổng kết, luyện tập. 
 Ở đây tôi hướng dẫn học sinh của mình cách đọc diễn cảm một cách tự 
nhiên, đọc đúng với giọng của mình, có cảm xúc, thái độ. Yêu cầu đọc dưới 
nhiều hình thức như đọc ở nhà, đọc một mình, đọc trước tập thể lớp. 
 Cung cấp mẫu: Giúp học sinh tri giác các chỉ số âm thanh của bài đọc một 
cách cụ thể, từ đó có ý thức luyện đọc theo mẫu. Ở đây tôi tuân thủ các yêu cầu 
về giọng đọc mẫu thể hiện chính xác các chỉ số âm thanh phù hợp với nội dung 
bài học. 
 Để tăng hứng thú học tập cho học sinh trong giờ học tôi đã thể hiện mẫu 
bằng nhiều đối tượng hoặc nhiều phương tiện khác nhau, đó là ngoài giáo viên 
đọc mẫu như trước tôi gọi học sinh khá, giỏi đọc, đưa băng tiếng, băng ghi hình 
 góp phần vào sự phát triển khả năng tư duy, đọc sáng tạo cho học sinh. 
 Thứ 5: kết hợp chặt chẽ giữa đọc diễn cảm và phát triển kĩ năng nghe 
cho học sinh 
 Tôi có thể cho học sinh nghe một kiểu ngâm bài thơ, giới thiệu hay mô 
phỏng cách hát những bài ca dao theo những làn điệu dân ca, hoặc phân vai đối 
với các tác phẩm kịch, truyện ngắn. 
 Ví dụ : Khi tìm hiểu văn bản“ Ca Huế trên sông Hương” của Hà Ánh Minh 
trong sách giáo khoa Ngữ Văn 7 tập II, tôi có thể cho học sinh nghe một vài làn 19 
điệu dân ca Huế, hay cho học sinh nghe mẫu đoạn băng trong vở chèo“ Quan 
Âm Thị Kính” khi dạy học văn bản“ Quan Âm Thị Kính”. 
 Thứ 6: Nhận xét, sửa chữa, điều chỉnh, khái quát hóa về cách đọc. 
 Sự nhận xét của giáo viên có một vị trí hết sức quan trọng đối với cá nhân 
người đọc và tập thể lớp. Khi các em đã có những tri thức và kĩ năng đọc, đã 
biết tự đánh giá thì việc đánh giá của tôi càng đòi hỏi phải hết sức chính xác và 
khách quan bởi chỉ một sơ suất nhỏ sẽ ảnh hưởng tai hại đối với sự cố gắng và 
tiến bộ của học sinh. 
 Đây là một khâu quan trọng giúp học sinh điều chỉnh, sửa chữa, ý thức sâu 
sắc về cách đọc diễn cảm của mình. 
 Thứ 7: Khen, động viên, khuyến khích học sinh. 
 Khen, động viên, khuyến khích học sinh đúng lúc, đúng chỗ, đúng thời 
điểm theo thông tư 22/ 2016, thông tư 26/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ở 
đây giáo viên không chỉ là người thầy mà còn là người bạn luôn gần gũi, sẻ 
chia, đem lại cho các em hứng thú, niềm yêu thích môn học. 
 Thứ 8 . Phối kết hợp với các môi trường giáo dục 
 Bản thân luôn tích cực phối kết hợp với nhà trường, đoàn, đội thông qua 
việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm: Trung thu, 26/3 qua đó học sinh có cơ 
hội để thể hiện sự sáng tạo, khả năng diễn đạt lưu loát và ngôn ngữ diễn cảm của 
mình qua các bài thuyết trình, từ đó kích thích hứng thú môn học cho các em. 
Thông qua việc giao bài tập qua zalo, tôi đã phối hợp được cùng gia đình trong 
việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm để nâng cao chất lượng môn học. 
4. Hiệu quả của sáng kiến 
4.1. Ý nghĩa thực tiễn của sáng kiến 
 4.1.1 Về mặt kinh tế 
 Không tốn kinh phí, không cần đầu tư phương tiện nhiều, mỗi giáo viên 
Ngữ Văn đều có thể thực hiện được. Tạo điều kiện để phụ huynh và nhà trường 
cùng tham gia trong công tác giáo dục góp phần nâng cao chất lượng dạy học. 
 4.1.2.Về mặt xã hội 20 
 Đọc diễn cảm là một phương pháp trong hệ thống các phương pháp dạy 
học văn ở trường THCS, rèn cho học sinh 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. 
 Việc đọc diễn cảm mang lại hiệu quả trong việc đào tạo trí tuệ, năng lực 
cảm thụ văn học với những phẩm chất đạo đức nhằm phát triển con người toàn 
diện. 
 Trong việc đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay ở trường THCS thì 
phương pháp đọc diễn cảm cũng góp một phần không nhỏ. Việc nhận thức đầy 
đủ vai trò tác dụng của phương pháp đọc diễn cảm sẽ giúp học sinh hình thành 
thế giới quan nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, nó mang lại niềm vui trong 
sáng tạo và niềm say mê yêu thích lao động. 
 Đọc diễn cảm còn là một phương tiện giáo dục bồi dưỡng đạo đức thẩm mĩ 
cho các em. Bởi giáo dục thẩm mĩ và giáo dục đạo đức bao giờ cũng gắn liền 
với nhau, luôn hướng con người ta tới cái chân, thiện, mĩ. 
 Đọc diễn cảm còn góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước, nâng 
cánh ước mơ cho học sinh. Nhận thức về tình yêu quê hương đất nước giúp học 
sinh nhận thức rõ tình cảm và hành động của mình với quê hương đất nước. Từ 
đó các em có ý thức vươn lên trong học tập, lao động rèn luyện mình tốt hơn để 
sau này góp phần vào việc xây dựng quê hương đất nước ngày càng phồn vinh, 
giàu đẹp. 
 Như vậy có thể thấy rất rõ việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh 
trong các giờ đọc - hiểu văn bản có một ý nghĩa hết sức to lớn nhất là về mặt xã 
hội. Vì vậy để nâng cao hiệu quả dạy đọc diễn cảm đòi hỏi mỗi người giáo viên 
chúng ta phải luôn nỗ lực hết mình, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đầu 
tư suy nghĩ sáng tạo làm cho các em có niềm say mê hứng thú trong quá trình 
học tập. 
4.2. Đối tượng hưởng lợi của sáng kiến 
 Qua quá trình giảng dạy, nắm bắt tình hình thực tế học sinh lớp 7A và lớp 7B 
do mình giảng dạy tôi đã ghi nhận được một số kết quả ban đầu rất khả quan 
trong thời gian từ đầu năm học 2020- 2021 đến giữa học kì II năm học 2020 - 

File đính kèm:

  • pdfren_ki_nang_doc_dien_cam_nang_cao_chat_luong_doc_hieu_van_ba.pdf