Rèn kĩ năng làm phần đọc hiểu trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 8
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Rèn kĩ năng làm phần đọc hiểu trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 8, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. TÊN SÁNG KIẾN: “Rèn kĩ năng làm phần đọc hiểu trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 8” 2. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG THỬ: Năm học 2024-2025. 3. CÁC THÔNG TIN BẢO MẬT : Không 4. MÔ TẢ CÁC GIẢI PHÁP CŨ THƯỜNG LÀM - Thực hiện kế hoạch năm học 2024-2025, bản thân tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy môn Ngữ văn lớp 8 chương trình GDPT 2018, đặc biệt là tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 8 tại Trường THCS Hoàng Hoa Thám, tôi tự nhận thấy trong quá trình ôn luyện cho học sinh, tôi chưa thực sự trú trọng, dành nhiều thời gian cho câu đọc hiểu, mà thường tập trung dành nhiều thời gian cho việc rèn kĩ năng tạo lập văn bản đặc biệt là phần nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Bởi vì tôi cho rằng đó là câu quan trọng chiếm nhiều điểm trong bài thi. - Khi ôn tập cho học sinh, tôi thường dạy qua, chưa kĩ, chỉ tập trung ôn lí thuyết mà chưa chú tâm đến thực hành hoặc có cho học sinh luyện đề cũng chỉ dừng lại ở việc cho các em luyện đề thông qua một số đề tự bản thân sưu tầm. Chưa tập trung nhiều vào việc rèn kĩ năng đọc, phân tích, đánh giá cho các em. - Tôi chưa dành nhiều thời gian để sưu tầm đề và sửa chữa cho các em những lỗi hay mắc phải khi làm câu đọc hiểu dẫn đến điểm thi của các em qua các đợt khảo sát chưa cao. 5. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN - Từ nghị quyết 29 của NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dục đã đưa ra những thay đổi lớn trong mục tiêu giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó có nội dung về thay đổi kiểm tra đánh giá đối với học sinh nhằm phát triển năng lực của người học. Nội dung này đã được Sở giáo dục Bắc Giang và phòng giáo dục huyện Yên Thế triển khai tới các trường học và được áp dụng thông qua cac bài kiểm tra, thi, kiểm định chất lượng. Đặc biệt là trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi văn hoá cấp huyện. Trong đó có bộ môn Ngữ Văn. 2 - Riêng đối với kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn nói chung và đề thi nói riêng, chương trình GDPT 2018, đề thi thường tập trung đánh giá vào năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản của học sinh. Vì vậy câu hỏi đọc hiểu đã trở thành câu hỏi bắt buộc không thể vắng trong các đề thi và thường chiếm 40% tổng điểm của bài thi, vì vậy nó có một quyết định không nhỏ tới số điểm cao, thấp trong một bài thi. Hơn nữa, với câu hỏi đọc-hiểu sẽ đánh giá được năng lực nhận thức về đặc trưng thể loại của từng kiểu văn bản (chẳng hạn: với thể loại truyện ngắn, các em cần nắm được tình huống truyện, nhân vật, cốt truyện, đề tài, chủ đề, thông điệp, hình thức nghệ thuật ; Với thơ, các em cần nắm được: dấu hiệu nhận biết thể thơ, cách gieo vần, cách ngắt nhịp, nhân vật trữ tình, cảm hứng chủ đạo, ngôn ngữ, hình ảnh trong thơ ). Trong phần đọc hiểu có cả những câu hỏi liên quan đến kiến thức phần Tiếng việt. Nếu các em làm tốt câu hỏi này các em sẽ có cơ hội có đạt số điểm 17-18 điểm điểm trong tổng điểm toàn bài thi. Ngược lại làm không tốt các em chắc chắn chỉ có thể đạt đến điểm 9 hoặc 10 điểm trong bài thi. - Câu đọc hiểu chiếm một vị trí quan trọng như vậy nhưng trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy cả giáo viên và học sinh còn mặc một số vấn đề cần giải quyết như sau: - Khi ôn tập cho học sinh nhiều giáo viên cũng như bản thân tôi trước đây còn hiểu một cách mơ hồ, lung túng thậm chí còn hiểu một cách chưa đầy đủ về câu đọc hiểu cũng như vai trò của nó trong bài thi. Giáo viên có tư tưởng dạy lướt mà chưa chịu tìm tòi nghiên cứu khi ôn tập cho học sinh dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng bài thi của các em; - Đối với học sinh: Việc tiếp cận câu hỏi dạng đọc hiểu học sinh đã được tiếp cận làm quen qua các bài kiểm tra, thi nhưng thực tế các em còn lúng túng khi tiếp cận với một ngữ liệu hoàn toàn xa lạ. Các em còn có thói quen học thụ động, lối học chay, học vẹt, ngại tư duy, còn phụ thuộc nhiều vào thầy cô; - Do các em chưa có kiến thức, chưa có kĩ năng làm bài, khi làm còn sai hoặc thậm chí bỏ bài, đánh rơi mất điểm một cách đáng tiếc, chính vì thế điểm bài thi của các em không cao; - Riêng đối với dạng câu hỏi đọc hiểu trong các đề thi học sinh giỏi đòi hỏi ở học sinh rất nhiều năng lực. Các em cần nhận diện và phân loại được các mức độ của câu hỏi như: câu hỏi tái hiện, câu hỏi thông hiểu, câu hỏi vận dụng. Trong quá trình dạy và bồi dưỡng các em, tôi nhận thức được đây là một điểm cực kỳ quan trọng của học sinh trường THCS Hoàng Hoa Thám. Vì thế việc ôn tập và rèn kỹ năng làm dạng bài đọc hiểu cho các em là rất cần thiết. 3 Như vậy, xuất phát từ thực tế trên tôi nhận thấy việc rèn cho học sinh kĩ năng khi làm bài tập đọc hiểu là vô cùng quan trọng. Chính vì vậy tôi chọn giải pháp “Rèn kĩ năng làm phần đọc hiểu trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 8”. 6. MỤC ĐÍCH CỦA GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN Đưa ra giải pháp “Rèn kĩ năng làm phần đọc hiểu trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 8”, mục đích của tôi là xây dựng cho mình một phương pháp dạy học tốt, luôn luôn chú trọng lấy học sinh làm trung tâm. Từ đó, hướng dẫn cách ôn tập lí thuyết cho học sinh, chú trọng rèn kỹ năng làm bài, luyện các dạng đề đọc hiểu, nâng cao chất lượng các bài kiểm tra, bài thi của học sinh trong đội tuyển Ngữ văn lớp 8 tại Trường THCS Hoàng Hoa Thám để các em nắm chắc kiến thức, kĩ năng và hoàn toàn tự tin trong quá trình học tập cũng như tham gia các đợt khảo sát do nhà trường cũng như Phòng GD tổ chức. Mục đích hướng tới * Về kiến thức + Học sinh hiểu cấu trúc của câu đọc hiểu + Giúp học sinh hệ thống toàn bộ các đơn vị kiến thức đã học trong chương trình ngữ văn THCS ở cả ba phân môn: Văn bản, Tiếng Việt, Tập làm văn. + Định dạng cho học sinh những dạng câu hỏi liên quan đến phần đọc hiểu thường thi vào theo những đơn vị kiến thức. + Học sinh nắm được hình thức câu hỏi ở 3 mức độ: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng. * Về kĩ năng +Hiểu được phương pháp, cách làm bài - Trả lời trực tiếp câu hỏi theo kiểu “ Hỏi gì đáp nấy”. - Câu trả lời nên ngắn gọn, đầy đủ, chính xác. -Trình bày rõ ràng, sạch đẹp, không sai chính tả, diễn đạt tốt. - Cảm thụ cái hay, cái đẹp của văn chương. - Viết đoạn văn. 4 * Để đạt được mục đích trên yêu cầu: - Học sinh hiểu thế nào là đọc hiểu: hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa của văn bản. - Giáo viên lựa chọn những văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của học sinh. - Giáo viên xây dựng các loại câu hỏi và hướng dẫn chấm. - Học sinh thực hành các dạng đề khác nhau. Giáo viên chấm, sửa chữa. 7. NỘI DUNG 7.1. THUYẾT MINH SÁNG KIẾN :“ Rèn kĩ năng làm phần đọc hiểu trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn 8’’. a. Các bước thực hiện Để rèn cho học sinh dạng câu hỏi đọc hiểu tôi cần tập trung vào các bước sau: Bước 1: Cho học sinh hiểu cấu trúc phần đọc hiểu - Phần đọc hiểu thường là câu hỏi 6 điểm ( Chiếm 60% số điểm) trong bài thi. - Nội dung đa dạng, phong phú: Đề ra thường là một đoạn văn, đoạn thơ, một đoạn trong bài báo, bài phóng sự, bài phát biểu mang tính chất thời sự của thế giới, của đất nước, hoặc một tác phẩm thơ trữ tình ở ngoài sách giáo khoa phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của học sinh. Bước 2. Cho học sinh nắm được phạm vi kiến thức cơ bản của phần đọc hiểu. * Thứ nhất: Giáo viên hệ thống lại toàn bộ đơn vị kiến thức các em cần ôn tập trong chương trình ngữ văn THCS ở cả ba phân môn: văn bản, tiếng Việt, tập làm văn. I. TIẾNG VIỆT A. TỪ VỰNG 1. Các lớp từ * Xét theo cấu tạo: -Từ đơn -Từ phức: + Từ ghép + Từ láy 5 * Xét theo nghĩa - Nghĩa của từ - Từ đa nghĩa: - Từ đồng âm -Từ tượng hình, từ tượng thanh * Xét theo nguồn gốc - Từ thuần việt - Từ mượn * Xét theo phạm vi sử dụng: - Từ ngữ toàn dân - Từ ngữ địa phương 2. Từ loại : - Danh từ, động từ, tính từ. - Số từ, phó từ - Trợ từ, thán từ. 3. Các biện pháp tu từ - So sánh - Nhân hoá - Ẩn dụ - Hoán dụ - Liệt kê - Điệp ngữ - Nói giảm, nói tránh (nhã ngữ) - Nói quá (khoa trương) - Đảo ngữ -Câu hỏi tu từ B. NGỮ PHÁP 1. Phân loại từ tiếng việt - Danh từ - Động từ - Tính từ - Số từ - Phó từ -Trợ từ -Thán từ -Từ tượng hình, từ tượng thanh 6 2. Phân loại câu tiếng Việt a. Các thành phần câu. * Thành phần chính trong câu: - Chủ ngữ, Vị Ngữ * Các thành phần phụ trong câu - Trạng ngữ * Các thành phần biệt lập trong câu - Thành phần tình thái - Thành phần cảm thán - Thành phần phụ chú (chêm xen) - Thành phần gọi-đáp - Thành phần chuyển tiếp b. Phân loại câu -Xét theo cấu tạo: + Câu đơn +Câu ghép +Câu đặc biệt + Câu rút gọn -Xét theo mục đích nói: +Câu hỏi (nghi vấn) + Câu khiến (cầu khiến) +Câu cảm (cảm thán) + Câu kể (trần thuật) -Xét theo ý nghĩa: + Câu khẳng định + Câu phủ định * Nghĩa của câu: + Nghĩa tường minh + Nghĩa hàm ẩn II. TẬP LÀM VĂN -Văn bản - Đoạn văn: + Đoạn văn diễn dịch + Đoạn văn quy nạp + Đoạn văn song song + Đoạn văn phối hợp - Mạch lạc và liên kết của văn bản: Liên kết câu và liên kết đoạn. 7 - Các phép liên kết: phép nối, phép thế, phép lặp III. VĂN HỌC - Nội dung - Chủ đề, đề tài, nhan đề, cảm hứng chủ đạo, tư tưởng, thông điệp của tác phẩm. - Thể loại và đặc trưng thể loại: Truyện ngắn, thơ 6 chữ, 7 chữ, Thơ Đường luật, văn bản thông tin, hài kịch và truyện cười, nghị luận xã hội, nghị luận văn học * Thứ 2:Tôi nghiên cứu cấu trúc đề thi của Sở giáo dục Bắc Giang những năm gần đây đề tìm những đơn vị kiến thức trọng tâm hay được ra để từ đó có định hướng ôn tập và rèn kĩ năng làm bài cho các em. - Theo nhìn nhận thực tế, trong năm gần đây các đơn vị kiến thức dễ hỏi vào trong câu đọc hiểu là. I. Tiếng Việt 1. Phần từ vựng: - Tìm từ ngữ, từ ghép, từ láy - Nghĩa của từ - Các biện pháp tu từ 2. Ngữ pháp: - Thành phần câu: Thành phần trạng ngữ, thành phần biệt lập - Câu chia theo cấu tạo ngữ pháp, câu chia theo mục đích nói II.Tập làm văn - Liên kết câu, liên liên kết đoạn IV. Văn học - Xác định nội dung, chủ đề đoạn trích - Xác định thể loại của đọan trích - Thông điệp/ bài học từ đoạn trích Bước 3. Giúp học sinh nắm được hình thức câu hỏi ( ở 3 mức độ) 3.1. Câu hỏi nhận biết: -Mục đích: nhằm đánh giá khả năng nhận diện, tái hiện các thông tin được thể hiện tường minh trong văn bản. -Các dạng câu hỏi: thường yêu cầu nêu/ chỉ ra/ xác định kiểu văn bản, thể loại, chi tiết, hình ảnh, đề tài, nhân vật, ngôi kể, lời người kể chuyện, lời nhân vật, lời đối 8 thoại, lời độc thoại, từ loạ, biện pháp tu từ, kiểu câu, phép liên kết, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng - Một số dấu hiệu để nhận dạng câu hỏi( Học sinh cần tập trung vào các từ khoá) như: Chính, chủ yếu, các, những, một, một số. - Nếu câu hỏi nhận biết từ ngữ, hình ảnh. Giáo viên yêu cầu HS đọc kĩ để thấy những từ ngữ đó hướng tới nghĩa gì. - Nếu câu hỏi: Theo tác giả thì câu trả lời nằm ngay trong ngữ liệu đưa ra. -Để trả lời câu hỏi nhận biết, học sinh cần đọc kĩ văn bản, tập trung vào những dấu hiệu hiển thị tường minh cho cả câu trả lời. Trả lời trực tiếp vào câu hỏi, viết câu trả lời ngắn gọn, rõ ràng. 3.2.Câu hỏi thông hiểu: -Mục đích: nhằm đánh giá khả năng phân tích, suy luận, tìm hiểu những chi tiết, đặc điểm cụ thể về nội dung, hình thức của văn bản theo đặc trưng thể loại. -Các dạng câu hỏi: thường yêu cầu nêu chủ đề, nội dung chính; nhận xét tình cảm, cảm xúc, cách triển khai ý tưởng, đặc điểm kiểu văn bản, thể loại ; giải thích ý nghĩa nhan đề, ; tóm tắt các ý chính của một đoạn ; nhận xét nội dung, hình thức, các biện pháp nghệ thuật, cách lập luận, đề tài, cách chọn lọc và sắp xếp thông tin, thái độ quan điểm của người viết; nêu cách hiểu của bản thân về một chi tiết, hình ảnh, câu văn; phân tích tác dụng của biện pháp tu từ -Để trả lời các câu hỏi thông hiểu, học sinh cần đọc kĩ văn bản để tiếp nhận những nội dung chi tiết của văn bản; vận dụng kiến thức về đặc điểm thể loại văn bản để phân tích, nhận xét, đánh giá các yếu tố nội dung và hình thức của văn bản. Trả lời trực tiếp vào yêu cầu của câu hỏi, lựa chọn từ ngữ chính xác để diễn tả đúng trọng tâm của câu hỏi, tránh diễn đạt lan man. 3.3. Câu hỏi vận dụng: -Mục đích: nhằm đánh giá khả năng tổng hợp vận dụng kiến thức (tiếng Việt, văn học ); so sánh, kết nối (nhân vật, văn bản ); liên hệ, kết nối (văn bản với trải nghiệm sống của bản thân, văn bản với bối cảnh xã hội, ) -Các dạng câu hỏi: thường yêu cầu nêu thông điệp rút ra từ văn bản; nêu tác động của văn bản đối với suy nghĩ, tình cảm, của cá nhân; liên hệ, đánh giá ý nghĩa, giá trị của văn bản; nêu và lí giải ấn tượng, cảm nhận của cá nhân với văn bản; bày tỏ quan điểm của bản thân(đồng tình hay không đồng tình) với một khía cạnh nào đó trong văn bản; liên hệ, kết nối nội dung trong văn bản với những vấn đề của xã hội 9 đương đại; vận dụng những điều đã đọc từ văn bản để giải quyết một vấn đề trong cuộc sống. - Để trả lời câu hỏi vận dụng, học sinh cần huy động, vận dụng những suy nghĩ và trải nghiệm của bản thân để cảm nhận, đánh giá văn bản, rút ra những giá trị phù hợp mà văn bản mang lại cho người đọc và cho cộng đồng xã hội. Câu trả lời cần bộc lộ được ý kiến của các nhân và có lí giải hợp lí (thường trình bày ngắn gọn trong khoảng 5-7 câu văn). Bước 4. Rèn cho học sinh phương pháp làm bài a. Đọc thật kĩ văn bản. b. Đọc hết các câu hỏi một lượt, gạch chân dưới từ khóa ở mỗi câu hỏi. c. Lần lượt trả lời câu hỏi. Kiến thức kĩ năng cần có: Kiến thức của môn Văn ở các lớp và kiến thức xã hội của bản thân về vẻ đẹp, cuộc đời, số phận con người, về vẻ đẹp quê hương, đất nước mình. Bước 5. Rèn cách làm một số câu hỏi thường gặp Dạng 1 - Thể thơ: Các em đếm số câu, số chữ trong ngữ liệu để xác định thể thơ (lục bát, tự do, 6 chữ, 7 chữ ) * Lưu ý : Khi làm câu hỏi về thể thơ các em cần đọc kĩ xem ngữ liệu là một đoạn thơ hay một bài thơ để xác định cho chính xác. Dạng 2: Nêu, xác định nội dung chính, chủ đề văn bản - Đọc kĩ văn bản, tìm hiểu câu chủ đề của văn bản đó, câu chủ đề nằm ở đầu hoặc cuối đoạn văn. - Văn bản nghệ thuật: thơ, truyện .Câu chủ đề sẽ không xuất hiện thì nên chú ý tìm các từ ngữ, hình ảnh xuất hiện nhiều thì tác phẩm (đoạn trích) sẽ tập trung chủ đề đó. - Nếu ngữ liệu có nhiều đoạn văn, mỗi đoạn văn có chủ đề độc lập thì GV hướng dẫn học sinh đặt các đoạn văn cạnh nhau, xem có nội dung nào xuyên suốt tác phẩm. 10 -Xác định nội dung chính của văn bản để tìm ra mục đích tạo lập. Giáo viên hướng dẫn học sinh, đọc nếu thấy từ ngữ nào xuất hiện nhiều nhất trong ngữ liệu thì nội dung đoạn trích sẽ theo chiều hướng của lớp từ đó. Dạng 3: Xác định và nêu tác dụng biện pháp tu từ (Từ nghệ thuật đến nội dung). Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo từng bước sau: Bước 1: Đọc kĩ đề, gạch chân các từ ngữ quan trọng để xác định rõ yêu cầu của đề bài - Tìm nội dung chính của đoạn, câu trong ngữ liệu Bước 2: Tìm những phép tu từ được sử dụng trong câu, đoạn - Gọi tên phép tu từ được sử dụng và chỉ ra phép tu từ đó được thể hiện qua từ ngữ nào? Bước 3: Phân tích tác dụng của phép tu từ được sử dụng + Tác dụng đối với hình thức câu từ: Phép tu từ đó khiến cho câu văn, đoạn văn đó trở lên như thế nào, hình ảnh, sự vật, sự việc được gợi lên cụ thể sinh động ra sao? + Tác dụng đối với nội dung ý nghĩa: Để làm được phần này học sinh nên trả lời các câu hỏi. * VD Nếu là phép tu từ so sánh Tác giả so sánh sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng nào? Giữa hai đối tượng có nét gì tương đồng? - So sánh như vậy có tác dụng gì trong việc thể hiện tư tưởng , tình cảm của tác giả đồng thời nó khơi gợi tình cảm, cảm xúc nào trong lòng người đọc? * VD Nếu là phép tu từ nhân hoá - Biện pháp nhân hoá đã khiến cho sự vật, sự việc vốn không phải là người giờ nó trở nên gần gũi, sinh động giống người như thế nào? - Nhân hoá giúp câu văn, câu thơ biểu thị những suy nghĩ gì về thế giới loài vật, sự vật? Dạng 4: Giải thích ý nghĩa từ ngữ, hình ảnh, nhận định, tư tưởng, quan điểm GV hướng dẫn học sinh dựa vào nội dung văn bản để giải thích, áp dụng đúng. Dạng 5: Các phép liên kết câu, liên kết đoạn 11 - Liên kết nội dung (Liên kết chủ đề): Học sinh cần đọc các câu trong đoạn hay các đoạn trong văn bản xem các câu, các đoạn có cùng hướng tới làm rõ cho một chủ đề hay không, từ đó sẽ xác định được sự liên kết hay là các lỗi liên kết. - Liên kết về hình thức: Học sinh cần nắm chắc các phép liên kết. Đọc kĩ từng câu để tìm từ, cụm từ dùng để liên kết (Phép lặp, nối, phép thế ). => Phần này đề thường hỏi liên kết về hình thức. Dạng 6: Câu hỏi liên quan đến xác định thành phần câu (Ví dụ về thành phần phụ: Trạng ngữ, các thành phần biệt lập ); kiểu câu chia theo mục đích nói; chia theo cấu tạo ngữ pháp. Dạng 7: Câu hỏi liên hệ (Câu hỏi cuối cùng của đọc hiểu). Câu hỏi này không chỉ dừng ở nhận diện, thông hiểu mà yêu cầu HS ngoài kiến thức học ở bộ môn, học sinh còn có kiến thức về cuộc sống, xã hội để vận dụng viết đoạn văn ngắn. (Có thể đề yêu cầu có số câu, số dòng). - Câu trả lời hoàn toàn do nhận thức, cách nghĩ của học sinh nhưng cần phải có sự lý giải hợp lý và phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. VD: Từ nội dung đoạn trích, em rút ra thông điệp ( Bài học) gì?: Có 2 cách + Chọn ngay một câu có ý nghĩa nhất trong văn bản làm thông điệp. +Tự rút ra ý nghĩa của văn bản rồi đưa ra thông điệp của mình. Khi đưa ra thông điệp cần phải bám sát nội dung văn bản, tránh trường hợp nội dung văn bản một đằng, thông điệp đưa ra một nẻo. Chú ý: Học sinh cần lí giải vì sao ( Đây là câu hỏi vận dụng có độ phân hóa nên dù câu hỏi không yêu cầu giải thích vì sao nhưng học sinh vẫn phải lí giải) - Câu hỏi: Điều tâm đắc nhất của em: Câu trả lời dựa trên sự hiểu biết của học sinh. - Câu hỏi + Chỉ ra những việc làm, giải pháp cụ thể của bản thân. + Em hiểu gì về tâm hồn, tình cảm của tác giả? + Đoạn thơ ( đoạn văn) đánh thức trong em suy nghĩ, tình cảm gì? + Em có đồng tình với quan điểm của tác giả không? Vì sao? (dạng câu hỏi này thường được trả lời bằng một đoạn văn ngắn có thể có quy định về số câu, số dòng => Học sinh chú ý mệnh đề để làm. Bước 6. Nhiệm vụ của giáo viên và học sinh 12 * Với giáo viên - Đa dạng hóa ngữ liệu thực hành: Giáo viên sưu tầm ngữ liệu có trong sách SGK hoặc ngoài SGK, đề cập đến nhiều lĩnh vực của đời sống. Quan tâm tới các văn bản nghị luận, nhật dụng, những vấn đề có tính thời sự. Đặc biệt, giáo viên nên đưa nhiều ngữ liệu ngoài chương trình cho học sinh làm quen. Từ đó phát huy và đánh giá được năng lực đọc- hiểu của học sinh giỏi. - Ôn theo dạng bài, dạng câu hỏi nhỏ, theo chủ đề. Sau đó GV đưa ra câu hỏi đọc hiểu minh họa. - GV xây dựng hệ thống câu hỏi theo mức độ nhận thức của HS. - GV tích hợp những kiến thức tiếng Việt ở lớp dưới, chú ý rèn kĩ năng đặt câu, viết đoạn văn, kĩ năng trả lời các dạng câu hỏi , kĩ năng nhận diện, thông hiểu, phân tích, đánh giá; kĩ năng viết đoạn văn ngắn. -Chú trọng nhiều nhất tới khâu HS thực hành. Có thể tổ chức cho HS đàm thoại, vấn đáp, thảo luận nhóm, học sinh chấm chéo (Tùy theo mức độ nhận thức của học sinh), giáo viên chấm, sửa chữa, rút kinh nghiệm chi tiết đối với từng lỗi mà học sinh mắc phải trong quá trình làm bài như: lỗi dùng từ, đặt câu, lỗi diễn đạt thiếu logic. - GV hướng dẫn HS trả lời nhanh, gọn, đúng. * Với học sinh - Ôn tập hệ thống kiến thức giáo viên cung cấp - Tích cực luyện đề để rèn kĩ năng - Trao đổi với giáo viên và bạn bè để tìm đáp án - Chấm chữa, sửa lỗi cho bài bạn để rút kinh nghiệm cho bài làm của mình. * MỘT SỐ DẠNG ĐỀ MINH HOẠ Đề 1: Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu: [ ] Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết 13 những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp. Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập ! Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. (Trích Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh) Trả lời câu hỏi: Câu 1 (1,0 điểm) Xác định luận đề của văn bản trên. Câu 2 (1,0 điểm)Chỉ ra bằng chứng khách quan mà tác giả đưa vào bản “Tuyên ngôn độc lập”? Câu 3 (1,0 điểm) Nêu nội dung cơ bản của đoạn trích trên? Câu 4(1,5 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của phép tu từ trong đoạn văn sau: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Câu 5(1,5 điểm) Từ văn bản, em hãy viết một đoạn văn (7-9 câu) bàn luận về giá trị của tự do, độc lập của đất nước ta. Đề 2: Đọc hiểu (6.0 điểm). Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi sau: Chúng ta đang sống trong một thế giới bị sự dễ dàng cám dỗ. Ta muốn vẻ bề ngoài khỏe mạnh và cân đối, nhưng lại không muốn luyện tập để đạt được nó. Ta muốn thành công trong sự nghiệp nhưng lại tự nhủ giá như có một cách nào đó để thành công mà không phải làm việc vất vả và tuân theo kỉ luật. Ta ước mơ có một cuộc đời tràn đầy niềm vui, không nỗi sợ nhưng lại thường xuyên né tránh các biện pháp hiệu quả nhất (như dậy sớm, chấp nhận rủi ro, lập mục tiêu, đọc sách), những điều chắc chắn sẽ đưa ta đến ý tưởng của mình. Chẳng có gì miễn phí. Chẳng có buổi 14 tiệc nào là buổi chiêu đãi. Điều tốt đẹp trong đời luôn đòi hỏi sự hi sinh và tận hiến. Mỗi chúng ta, để đạt tới một con người duy nhất và vượt trội trong nghề nghiệp đều phải trả giá... Cuộc đời vĩ đại không từ trên trời rơi xuống. Mà phải được đẽo gọt và xây dựng. Như đền Taj Mahal, như Vạn Lý Trường Thành ngày qua ngày, viên gạch này nối tiếp viên gạch khác. Thành công đâu tự nhiên mà có. Chúng đến từ những nỗ lực và phát triển liên tục không ngừng. Đừng rơi vào ảo tưởng rằng cuộc đời tốt đẹp sẽ đến mà không cần nỗ lực. Hãy nỗ lực hết mình, và điều tốt đẹp sẽ đến với bạn. (Theo Đời ngắn, đừng ngủ dài - Robin Sharma, NXB Trẻ, tr. 180) Câu 1. (1,0 điểm) Vấn đề nghị luận đặt ra trong văn bản là gì? Xác định câu nêu luận đề của văn bản. Câu 2. (1,0 điểm) Trong văn bản, tác giả đã sử dụng dẫn chứng nào? Nhận xét cách sử dụng và ý nghĩa của dẫn chứng? Câu 3. (1,0 điểm) Theo tác giả, những biện pháp giúp con người có một cuộc đời tràn đầy niềm vui, không nỗi sợ hãi là gì? Câu 4. (1,5 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ điệp cấu trúc sử dụng trong đoạn văn: Ta muốn vẻ bề ngoài khỏe mạnh và cân đối, nhưng lại không muốn luyện tập để đạt được nó. Ta muốn thành công trong sự nghiệp nhưng lại tự nhủ giá như có một cách nào đó để thành công mà không phải làm việc vất vả và tuân theo kỉ luật.” Câu 5. (1,5 điểm). Em có đồng tình với quan điểm sau đây của tác giả “Điều tốt đẹp trong đời luôn đòi hỏi sự hi sinh và tận hiến.” không ? Vì sao? Đề 3 Đọc-hiểu (6,0 điểm) Đọc bài thơ “Thu vịnh” và thực hiện các yêu cầu: THU VỊNH (Vịnh mùa thu) Nguyễn Khuyến Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như tầng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào. Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. (Theo Câu 1(1,0 điểm) Tác giả đã lựa chọn những sự vật vào để tái hiện bức tranh thiên nhiên mùa thu trong bài thơ? Câu 2(0,5 điểm)Tìm từ tượng hình có trong dòng thơ: Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. 15 Câu 3 (1,5 điểm) Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: Nước biếc trông như tầng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào. Câu 4(1,5 điểm) Qua các hình ảnh về mùa thu trong bài thơ, em có cảm nhận như thế nào về tình cảm của tác giả với thiên nhiên? Câu 5(1,5 điểm) Theo em, mỗi người cần phải làm gì để thể hiện tình cảm của mình với quê hương? Đề 4: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Lao động là thứ mà thời đại nào cũng quý, cũng coi trọng. Nếu không có lao động thì không có sự tiến bộ nào và không thể hình thành nên thế giới con người. Mọi động vật đều lao động, trước hết là để duy trì sự sống. Ngay cả chú chim yến, khi còn non thì được bố mẹ mang mồi về mớm cho nhưng khi lớn lên sẽ phải tự mình đi kiếm mồi. Hổ và sư tử cũng đều như vậy. Tự mình lao động để tồn tại chính là nguyên lí mà tự nhiên ban tặng cho tất cả các sinh vật . Con người cũng là một loại động vật nên về cơ bản là như vậy. Nhưng sự tuyệt vời của con người là khả năng tìm thấy niềm vui trong lao động. Việc con người có cảm nhận được niềm vui trong lao động hay không sẽ có ý nghĩa lớn lao, quyết định cuộc đời của người đó hạnh phúc hay không. [ ] Lao động của chúng ta không chỉ đem lại lợi ích cho chúng ta mà còn đem lại lợi ích cho cộng đồng xã hội. Lao động của chúng ta cũng không chỉ dành riêng cho bản thân chúng ta mà còn dành cho mọi người. Lao động của người khác cũng không chỉ đem lại lợi ích cho họ mà còn cho cả chúng ta. Cần suy nghĩ thấu đáo như vậy để thấy được lao động chính là ý nghĩa của cuộc sống. (Theo Mạn đàm nhân sinh, Matsushita Konosuke, Phạm Thu Giang dịch, NXB Lao động xã hội, Hà Nội, 2018) Câu 1(1,0 điểm) Xác định thể loại của đoạn trích. Câu 2( 1,0 điểm) Xác định vấn đề được bàn luận trong văn bản. 16 Câu 3 (1,0 điểm) Chỉ ra lí do khiến tác giả khẳng định: “Lao động là thứ mà thời đại nào cũng quý, cũng coi trọng”. Câu 4 (1,5 điểm) Phân tích vai trò, tác dụng của của những câu văn sau trong văn bản: “Ngay cả chú chim yến, khi còn non thì được bố mẹ mang mồi về mớm cho nhưng khi lớn lên sẽ phải tự mình đi kiếm mồi. Hổ và sư tử cũng đều như vậy.” Câu 5 (1,5 điểm) Từ câu văn “Việc con người có cảm nhận được niềm vui trong lao động hay không sẽ có ý nghĩa lớn lao, quyết định cuộc đời của người đó hạnh phúc hay không.”, rút ra một bài học sâu sắc cho bản thân. Đề 5: ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) : Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi: KHOẢNG TRỜI - HỐ BOM Lâm Thị Mỹ Dạ (1) Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường Ðể cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương Cho đoàn xe kịp giờ ra trận Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa Ðánh lạc hướng thù, hứng lấy luồng bom... (2) Ðơn vị tôi hành quân qua con đường mòn Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái Một nấm mồ, nắng ngời bao sắc đá, Tình yêu thương bồi đắp cao lên... Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ Ðất nước mình nhân hậu Có nước trời xoa dịu vết thương đau (3) Em nằm dưới đất sâu Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Ðêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng Những vì sao ngời chói, lung linh ( 4) Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong Ðã hoá thành những làn mây trắng? Và ban ngày khoảng trời ngập nắng Ði qua khoảng trời em - Vầng dương thao thức 17 Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực Soi cho tôi Ngày hôm nay bước tiếp quãng đường dài? ( 5 ) Tên con đường là tên em gửi lại Cái chết em xanh khoảng-trời-con-gái Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em Gương mặt em, bạn bè tôi không biết Nên mỗi người có gương mặt em riêng! ( Trường Sơn, 10-1972) * CHÚ THÍCH: - Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh năm ( 1949 – 2023 ) tại Quảng Bình, sinh sống chủ yếu tại Huế, bà là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 1978, từng học Trường viết văn Nguyễn Du. - Thơ Lâm Thị Mĩ Dạ có giọng điệu trong trẻo, hồn nhiên, vui tươi, ngôn ngữ đa dạng đậm chất hiện thực cuộc sống. Thơ bà hay ở những chỗ bất thần, ngơ ngác và những rung cảm đầy nữ tính. - "Khoảng trời hố bom" là bài thơ nổi tiếng, trong chùm thơ được tặng giải Nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1972 - 1973. Bài thơ được sáng tác tác tháng 10 năm 1972, thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt nhất. Trả lời các câu hỏi: Câu 1( 1,0 điểm): Chủ thể trữ tình trong đoạn (2) xuất hiện ở dạng nào? Dấu hiệu nào giúp em nhận ra điều đó? (1,0 điểm) Câu 2 ( 1,0 điểm): Liệt kê những hình ảnh mang ý nghĩa vũ trụ, vĩnh hằng thể hiện sự bất từ của nhân vật “em” trong đoạn (3). Câu 3 (1,0 điểm) Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ. Câu 4 ( 1,5 điểm): Tìm và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau: “Em nằm dưới đất sâu Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Ðêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng Những vì sao ngời chói, lung linh” Câu 5 ( 1.5 điểm): Từ những dòng thơ :“Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa/ Ðánh lạc hướng thù, hứng lấy luồng bom...” em hãy nêu cảm nhận về vẻ đẹp của những nữ thanh niên xung phong trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm? ( 7- 8 dòng) (1,0 điểm) 18 Đề 6. Đọc-hiểu (6,0 điểm) Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi: Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng Và Anh chết trong khi đang đứng bắn Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng. Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công Anh tên gì hỡi Anh yêu quý Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ: Anh là chiến sỹ Giải phóng quân. Tên Anh đã thành tên đất nước Ôi anh Giải phóng quân! Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân (3/1968) (Dáng đứng Việt Nam, Thơ Lê Anh Xuân *, NXB Giáo Dục,1981) Chú thích: - Tác giả Lê Anh Xuân (1940 – 1968), là một nhà thơ Việt Nam. Tên thật của ông là Ca Lê Hiển, sinh ra trong một gia đình yêu nước tại Bến Tre. Năm 14 tuổi, ông theo gia đình ra Bắc tập kết, học phổ thông, sau đó học Khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cuối năm 1964, ông về chiến trường miền Nam, công tác ở Tiểu ban Giáo dục, sau chuyển về Hội Văn nghệ Giải phóng. - Hoàn cảnh sáng tác: “Dáng đứng Việt Nam” là thi phẩm cuối cùng của nhà thơ- chiến sĩ Lê Anh Xuân, được viết tháng 3/1968, trong những ngày khói lửa của cuộc Tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân. Tác giả hi sinh hai tháng sau đó tại vùng phụ cận Sài Gòn vào tuổi đời còn rất trẻ, để lại mùa xuân cuộc đời cho mùa xuân đất nước. 19 Câu 1: (1,0 điểm) Nhân vật “Anh” trong bài thơ này là ai? “Anh” được miêu tả trong hoàn cảnh nào? Câu 2 (0.5 điểm) Xác định 02 từ láy có trong bài thơ. Câu 3 (1,5 điểm) Xác định và phân tích tác dụng biện pháp tu từ sử dụng trong bốn câu thơ in đậm trong bài thơ trên. Câu 4 (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về ý nghĩa hai câu thơ sau: “Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhứt / Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” Câu 5 (1,0 điểm) Bài thơ gợi cho em suy nghĩ gì về tình cảm, trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay đối với Tổ quốc? (trình bày khoảng 5-7câu) Đề 7 Đọc-hiểu (6,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: Cá lớn cũng chỉ thích sống ở đại dương. Chúng không thể trở nên lớn nếu chỉ quẩn quanh trong vùng nước nông chật hẹp thiếu dưỡng khí. Điều này vừa là thực tế vừa như một ẩn dụ cho con người. Con người muốn trở nên lớn, phải sống trong không gian rộng lớn để khuấy nước chọc trời. Khi ta là cá bé, ta dễ thành mồi ngon cho cá lớn. Một quốc gia “cá bé” thì khó vẫy vùng trước sự bủa vây của trật tự làm ăn do những quốc gia cá lớn áp đặt. Một cá nhân cho dù thân xác to lớn mà có lá gan bé và tầm nhìn không vượt chân trời thì cái lưỡi dễ thụt sâu xuống họng khi gặp phải kẻ quen dùng cách thị uy. Khi tôi gặp em, em nói: Có thể em chỉ là rong, là rêu nhưng nhất định em phải là rong rêu của đại dương. Em phải là người của thế giới chứ không phải chỉ quẩn quanh với quê nhà. Tôi chợt nhớ đêm câu cá và những con cá lớn trên biển năm nào. Biết trong em âm ỉ một khát vọng trở thành con cá lớn hít thở bằng bóng nước đại dương chứ không cam chịu dập dềnh may rủi nơi cửa bể. [ ] Quốc gia mạnh giàu chỉ khi nơi đó có những con người mạnh mẽ, những cá thể như con cá lớn vẫy vùng với chuyện chọc trời khuấy nước. Một quốc gia có tương lai chỉ khi có cá nhân vượt lên với tầm nhìn toàn cầu. Cho dù bị đánh giá là lùn, thì văn hóa khí chất vẫn phải cao chất ngất. Cho dù bị xem là vóc dáng thấp bé hơn nhiều dân tộc thì tầm nhìn phải vượt lên cao rộng, vượt lên ngoài cái vỏ vật chất là thân xác hữu hạn này. Em có đang nuôi khát vọng trở thành con cá lớn để hít thở bóng nước đại dương đấy không? (Hà Nhân, Sống như cây rừng, NXB Văn học, 2016, tr. 204- 206) 20 Câu 1(0,5 điểm) Ghi lại một câu kể, một câu hỏi có trong đoạn trích trên. Câu 2(1,0 điểm) Theo tác giả, hình ảnh con cá lớn “thích sống ở đại dương”, “không thể lớn nếu ở vùng nước nông chật hẹp” trong đoạn trích trên là ẩn dụ chỉ điều gì? Câu 3(1,5 điểm) Em hiểu như thế nào về cụm từ “chọc trời khuấy nước” trong câu “Quốc gia mạnh giàu chỉ khi nơi đó có những con người mạnh mẽ, những cá thể như con cá lớn vẫy vùng với chuyện chọc trời khuấy nước.”? Câu 4 (1,5 điểm) Câu nói: “Có thể em chỉ là rong, là rêu nhưng nhất định em phải là rong rêu của đại dương.” có ý nghĩa gì? Câu 5 (1,5 điểm) Theo em, các bạn học sinh ngày nay cần làm gì để có thể “vượt lên với tầm nhìn toàn cầu” góp phần đưa đất nước hội nhập thế giới? Đề 8. Đọc-hiểu (6,0 điểm): Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Dưới bầu trời mưa luôn có người vui, có người buồn. Người vui vì trời đỡ oi hơn, không khí lành lại sau cơn mưa giông chiều. Người buồn vì gánh tào phớ lướt thướt, hi vọng tan dần trong làn mưa. Người vui vì khoai sắn mọc nhanh như thổi trên đồi, người buồn vì nước mắt rơi trên những đồng muối hoà theo hạt mưa rơi. Có chú nhóc hoan hỉ mút chè ế đựng trong những túi ni lông, như không hay biết có hai đứa em gái bán chè chiều nay chạy mưa, về sớm, đang ngồi thút thít trong góc nhà mình. Cuộc đời này luôn có vui, có buồn, như cái áo luôn có mặt trái, mặt phải. Làm sao như chiếc áo may cho trẻ con, mặt phải rất đẹp nhưng mặt trái cũng được may rất tinh tế, khéo léo. Để làn da trẻ con nhạy cảm không đau khi tiếp xúc những đường gân áo (vì thế mà quần áo trẻ con ở nước ngoài luôn đắt hơn quần áo người lớn). Làm sao để niềm vui của người này không là nỗi buồn của người kia. Làm sao để công nghiệp hoá một ngôi làng nhưng lại không ung thư hoá dân làng. Làm sao để tăng lợi nhuận đầu tư nhưng đừng đổ chất thải ám hại môi trường sống. Làm sao để tăng trưởng, để giàu có hơn, nhưng đừng bức tử nguồn nước cho mai sau, đừng để những con kênh thành kênh nước đen, đừng để những dòng sông thành sông chết. Làm sao để sân golf mang niềm vui cho người cầm gậy nhưng không mang nỗi buồn cho người cầm cuốc, cầm cày. Làm sao cho 18 lỗ, 32 lỗ có thể lấp đầy nỗi lo của người nông dân mất đất. Niềm vui của người này không phải là nỗi buồn của người kia. Chỉ có thể là thế khi mình biết nghĩ đến người khác. Mình không nói cho hả giận khi người khác nhói lòng. Mình không chỉ lo cho được việc riêng mình mặc ai kia khổ sở. Tôi có đọc một truyện ngắn của Tổng Thư kí tòa soạn Sinh viên Việt Nam – Hoa Học Trò mang tên “Huyền thoại phần mía ngọn”. Câu chuyện trả lời câu hỏi khi nào em lớn? Câu trả
File đính kèm:
ren_ki_nang_lam_phan_doc_hieu_trong_qua_trinh_boi_duong_hoc.doc



