Rèn kỹ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trường THCS Hoàng Hoa Thám

docx23 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 11/02/2026 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Rèn kỹ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trường THCS Hoàng Hoa Thám, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
 Tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua 
Nghị quyết 29 - NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng 
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng 
xã hội chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế”. Xác định được nhiệm vụ quan trọng đó nên 
trong những năm qua Bộ Giáo dục đã không ngừng đưa ra những giải pháp mang tính 
cải tiến trong đó có yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp dạy 
học Thực hiện lộ trình từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới cách đánh 
giá, kiểm tra, việc đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng thực chất, hiệu quả. Cách 
tiếp cận chuyển từ phương thức truyền đạt kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng 
lực của người học. Những thay đổi đó nhằm mở ra một hướng đổi mới toàn diện cho 
hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng 
nhu cầu hội nhập Quốc tế của đất nước.
 Từ cơ sở thực tiễn và lí luận trên, bắt đầu từ năm học 2018 - 2019, Bộ GD&ĐT 
đã ra chủ trương đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở môn Ngữ 
văn THCS nói riêng và các môn học nói chung theo định hướng phát triển năng lực, 
phẩm chất của người học; Lấy học sinh làm trung tâm. Qua đó phân hóa được các 
mức độ tiếp nhận, lĩnh hội kiến thức của HS để từ đó điều chỉnh các phương pháp 
dạy học phù hợp, nâng cao chất lượng dạy học trong thời kì đổi mới. Thực hiện định 
hướng trên Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang yêu cầu các Phòng Giáo dục triển 
khai đến toàn thể giáo viên trên địa bàn thành phố cũng như các huyện. Đồng thời 
cũng yêu cầu các trường lưu ý việc ra đề phải phù hợp với đối tượng học sinh. Riêng 
môn Ngữ văn, yêu cầu đề thi cuối kì, cuối năm học và thi vào THPT gồm có hai 
phần: Đọc hiểu và làm văn. Cụ thể là đề thi, kiểm tra tập trung đánh giá hai kỹ năng 
quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng tạo lập văn bản, trong đó tỷ lệ điểm 
của phần tạo lập văn bản nhiều hơn phần đọc hiểu. Đây là hướng đổi mới kiểm tra 
đánh giá từ sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh một cách thụ động, máy móc 
chuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh (tự mình khám phá 
văn bản ngoài chương trình). Nếu ở cách ra đề truyền thống thì chỉ có thể kiểm tra 
học sinh sự tái hiện kiến thức nên học sinh sa vào học lệnh, học tủ, thậm chí sao 
 1 chép bài làm mẫu, văn mẫu thì ở cách ra đề dạng câu hỏi đọc hiểu lấy ngữ liệu ngoài 
sách giáo khoa yêu cầu học sinh ở 4 mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận 
dụng cao. Học sinh phải vận dụng năng lực để giải quyết vấn đề. Như vậy có thể 
thấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc ôn tập và rèn kỹ 
năng làm dạng câu hỏi phần đọc hiểu là điều cần thiết phải trang bị cho học sinh.
 Đọc hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi vào lớp 
10 THPT. Phần này tuy số điểm phân bố không cao (3/10 điểm) nhưng lại có vị trí 
rất quan trọng bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi. Nếu học sinh 
làm phần này không tốt thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũng sẽ 
không cao. Ngược lại nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em sẽ có nhiều cơ hội 
đạt điểm văn 7,0 điểm 8,0 (với học sinh đại trà) thậm chí là điểm 9,0 (HS khá giỏi). 
Như vậy phần đọc hiểu góp phần không nhỏ vào kết quả thi môn Ngữ văn. 
 Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâm huyết 
với nghề, mong muốn nâng cao chất lượng kết quả thi vào lớp 10 THPT, đồng thời 
góp phần đáp ứng được những yêu cầu trên tôi đã nghiên cứu đưa ra giải pháp: “Rèn 
kỹ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trường 
THCS Hoàng Hoa Thám”. (Dành cho học sinh lớp 9A2, 9A3 trường THCS Hoàng 
Hoa Thám).
 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 I. Thực trạng công tác dạy và học môn Ngữ Văn ở trường THCS Hoàng Hoa Thám.
 1. Ưu điểm 
 Năm học 2018- 2019 là năm học đầu tiên Sở GD&ĐT Bắc Giang có hướng 
dẫn áp dụng cấu trúc đề thi mới trong đó cấu trúc đề thi có phần đọc hiểu lấy ngữ 
liệu ngoài chương trình sách giáo khoa. Như vậy có thể nói đến thời điểm này vấn 
đề đổi mới kiểm tra, đánh giá thể hiện qua việc đưa ngữ liệu mới ở phần đọc hiểu để 
kiểm tra, đánh giá năng lực phẩm chất của các em không còn là vấn đề quá xa lạ, 
thậm chí đã có những kết quả, tín hiệu đáng mừng.
 2 Ở thời điểm khi Sở GD&ĐT thông báo và hướng dẫn, các trường THCS thực 
hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong kì thi học sinh giỏi, thi khảo sát 
chất lượng cuối học kì, kì thi vào lớp 10 THPT. Ban giám hiệu trường THCS Hoàng 
Hoa Thám đã xây dựng kế hoạch về chương trình, phạm vi kiến thức, xây dựng ngân 
hàng đề, phân công giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy nhằm phục vụ cho việc rèn 
kĩ năng nâng cao chất lượng bài thi của học sinh. Bên cạnh đó, việc Sở GD&ĐT ban 
hành tài liệu ôn thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn cũng là những định hướng về 
mặt nội dung kiến thức để các thầy cô giáo hướng dẫn các em ôn tập hiệu quả.
 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế.
 2.1. Giáo viên
 * Hạn chế
 - Khi nhận phân công giảng dạy Ngữ Văn lớp 9A2, 9A3, năm học 2021 -
2022, bản thân tôi vô cùng băn khoăn, lo lắng, lúng túng và hoang mang vì nhiệm 
vụ dạy lớp 9 và ôn thi vào lớp 10 THPT là nhiệm vụ cao cả nhưng gắn với trách 
nhiệm nặng nề. Trong khi bản thân tôi không giảng dạy các em từ lớp 6. Vì vậy 
việc đánh giá đúng năng lực, kĩ năng của học sinh nhằm đưa ra giải pháp ôn luyện 
cụ thể sẽ không chính xác. 
 - Từ trước đến nay khi giảng dạy tôi chủ yếu là luyện đề theo tài liệu ôn thi 
vào THPT của sở, sưu tầm đề trên mạng. 
 * Nguyên nhân của những hạn chế trên
 - Do kinh nghiệm giảng dạy và ôn luyện lớp 9 thi vào THPT của bản thân chưa 
có nhiều. 
 - Bản thân tôi còn tham kiến thức với suy nghĩ chữa được nhiều bài, nhiều đề 
học sinh sẽ làm tốt bài mà không chú ý đến việc, xác định kiến thức trọng tâm, đưa 
ra phương pháp, yêu cầu về kiến thức để rèn kĩ năng làm bài cho học sinh.
 2.2 . Học sinh
 *Hạn chế
 3 - Ý thức tự giác, chủ động trong học tập không cao, học sinh tiếp thu một cách 
thụ động chưa phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo.
 - Nhiều học sinh lúng túng, bài làm không đạt yêu cầu về cả kiến thức và kĩ 
năng, áp lực khi làm bài kiểm tra bài thi.
 - Khi luyện đề học sinh chưa có kĩ năng thành thạo, giáo viên chữa đề nào các 
em biết đề đó, không hình thành được kĩ năng dẫn đến kết quả chung toàn bài thấp.
 * Nguyên nhân của những hạn chế trên
 - Trong các năm học trước các em phải học trực tiếp kết hợp với trực tuyến 
do dịch Covid -19 xảy ra. Khi học trực tuyến nhiều em học sinh không tự giác học 
bài. Học sinh chưa được cung cấp kiến thức, rèn kĩ năng một cách có hệ thống, bài 
bản, liền mạch.
 - Việc chấm, chữa, trả bài cho học sinh khi phải học trực tuyến phần nào hạn 
chế so với trực tiếp.
 - Chưa được hướng dẫn bằng các giải pháp cụ thể, tuần tự, theo hệ thống. Các 
em chưa được rèn làm bài đọc hiểu theo các mức độ khác nhau như cấu trúc đề thi 
của sở.
 Từ những nhược điểm, hạn chế của phương pháp ôn luyện cũ dẫn đến kĩ năng 
cũng như kết quả của học sinh khi làm bài kiểm tra, bài thi không cao đặc biệt là với 
những học sinh trung bình, yếu, kém. Trong khi nhiều thầy cô, học sinh vẫn đang 
lúng túng khi ôn luyện phần đọc hiểu thì giải pháp này có thể là một giải pháp hữu 
ích tháo gỡ những khó khăn trên. Giải pháp của bản thân tôi sẽ cung cấp phương 
pháp ôn luyện với một hệ thống kiến thức lý thuyết, bài tập minh họa dễ hiểu, thiết 
thực sẽ giúp các em học sinh lớp 9 tự tin và đạt kết quả cao khi làm bài thi. 
 II. Biện pháp rèn kỹ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 
THPT môn Ngữ văn trường THCS Hoàng Hoa Thám
 1. Biện pháp 1: Xác định những yêu cầu chính trong cấu trúc của phần đọc hiểu
 - Theo ma trận đề thi, phần đọc hiểu sẽ cho 1 ngữ liệu ngoài chương trình và 
các câu hỏi theo các mức độ như sau: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng 
cao. Thang điểm tương ứng thường là: 0.5 - 0.5 - 1 - 1 điểm.
 4 - Câu hỏi nhận biết, đề thường ra câu hỏi có mệnh lệnh: Tìm/chỉ ra/xác định/ 
các nội dung yêu cầu về các nội dung kiến thức về phương thức biểu đạt; phép liên 
kết; biện pháp tu từ; thể thơ.
 - Ở câu hỏi thông hiểu, đề bài thường đưa ra yêu cầu có mệnh lệnh: Theo tác 
giả “ ” là gì; chỉ ra từ ngữ, hình ảnh “ ” trong đoạn ngữ liệu đã cho; Chỉ ra và 
phân tích tác dụng của biện pháp tu từ; xác định nội dung chính của văn bản 
 - Ở câu hỏi vận dụng, đề thường yêu cầu như sau: Em hiểu thế nào về câu/từ 
ngữ/hình ảnh/ trong văn bản; theo em vì sao tác giả cho rằng 
 - Ở câu vận dụng cao có các cách hỏi như: Yêu cầu rút ra ý nghĩa/bài học từ 
văn bản; bày tỏ suy nghĩ/cảm nhận về câu văn/câu thơ trích từ ngữ liệu đã cho; 
anh/chị có đồng ý hay không, vì sao? 
 2. Biện pháp 2. Nghiên cứu tài liệu xác định các kiến thức trọng tâm trong 
phạm vi kiến thức kiểm tra của phần đọc hiểu.
 Giáo viên nghiên cứu tài liệu và hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được những 
dạng kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi đọc hiểu trong đề thi. Bao gồm các 
đơn vị kiến thức như sau:
 a. Kiến thức từ vựng: Phân loại từ gồm:
 - Phân loại theo cấu tạo của từ: Từ đơn, từ phức, từ láy.
 - Phân loại theo nguồn gốc của từ: Từ thuần việt, từ mượn.
 - Phân loại theo nghĩa của từ: Từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ 
trái nghĩa, từ tượng hình, từ tượng thanh.
 - Phân loại theo phạm vi sử dụng: từ ngữ toàn dân, từ ngữ địa phương, biệt 
ngữ xã hội, thuật ngữ.
 - Phân loại theo theo khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp: danh từ, động từ, 
tính từ, đại từ, số từ, lượng từ, chỉ từ, phó từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ, tình thái từ.
 b. Kiến thức ngữ pháp gồm: Các thành phần câu, các kiểu câu, dấu câu.
 * Các thành phần câu. 
 5 - Thành phần chính: Chủ ngữ và vị ngữ.
 - Thành phần phụ: Trạng ngữ và khởi ngữ.
 * Các kiểu câu.
 - Xét theo cấu tạo ngữ pháp: Câu đơn, câu ghép, câu rút gọn, câu đặc biệt.
 - Xét theo ý nghĩa: Câu khẳng định và câu phủ định, câu chủ động và câu bị động.
 - Xét theo mục đích nói: Câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần thuật.
 * Dấu câu gồm: Dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu chấm lửng, dấu 
phẩy, dấu chấm phẩy, dấu gạch ngang, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu hai chấm.
 c. Kiến thức về hoạt động giao tiếp: Liên kết câu, đoạn trong văn bản; các 
biện pháp tu từ thường gặp; các phương châm hội thoại; Vai xã hội, lượt lời trong 
hội thoại và hành động nói; Nghĩa tường minh và hàm ý; cách dẫn trực tiếp và cách 
dẫn gián tiếp; kiểu văn bản và phương thức biểu đạt.
 * Liên kết câu, đoạn trong văn bản.
 - Liên kết nội dung: Liên kết chủ đề, liên kết logic.
 - Liên kết hình thức: Phép lặp từ ngữ, phép thế, phép liên tưởng, phép nối.
 * Các biện pháp tu từ thường gặp.
 - Các biện pháp tu từ thường gặp là: So sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, nói 
quá, nói giảm nói tránh, điệp ngữ, chơi chữ, liệt kê, đảo ngữ, câu hỏi tu từ, tương 
phản (đối lập).
 * Các phương châm hội thoại.
 - Các phương châm hội thoại gồm: Phương châm về lượng, phương châm về 
chất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức, phương châm lịch sự.
 * Vai xã hội, lượt lời trong hội thoại và hành động nói.
 - Vai xã hội được xác định bởi các quan hệ xã hội.
 - Lượt lời trong hội thoại: mỗi lần nói được xác định là một lượt lời, đôi khi 
im lặng khi đến lượt lời của mình cũng là cách biểu thị thái độ.
 6 - Hành động nói: Một số kiểu hành động nói thường gặp: hỏi, trình bày, điều 
khiển, hứa hẹn, đe doạ, bộc lộ cảm xúc.
 * Nghĩa tường minh và hàm ý 
 * Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp.
 * Kiểu văn bản và phương thức biểu đạt.
 - Các phương thức biểu đạt gồm: Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, nghị luận, thuyết 
minh, hành chính công vụ.
 d. Kiến thức về trình bày đoạn văn, kết cấu của đoạn văn.
 - Các cách thức trình bày đoạn văn: Diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc 
xích, song hành.
 e. Kiến thức về các thể thơ thường gặp.
 - Các thể thơ dân tộc: Thơ lục bát, song thất lục bát.
 - Các thể thơ đường luật: Ngũ ngôn tứ thuyệt, ngũ ngôn bát cú, thất ngôn bát 
cú, thất ngôn tứ tuyệt.
 - Thể thơ hiện đại: thể thơ tự do, thơ bốn tiếng, năm tiếng, thơ bảy tiếng 
 3. Biện pháp 3. Phân chia các dạng câu hỏi và cách trình bày các câu hỏi 
phần đọc hiểu theo các mức độ.
 a. Mức độ nhận biết có các dạng câu hỏi sau đây:
 a.1 Dạng 1: Ở mức độ nhận biết câu hỏi nhận biết ở các nội dung xác định 
phương thức biểu đạt, thể thơ của đoạn trích.
 GV hướng dẫn học sinh cách nhận biết phương thức biểu đạt như sau: 
 Các 
 phương 
 STT Khái niệm Cách nhận biết
 thức biểu 
 đạt
 7 - Trình bày theo diễn biến sự - Đặc trưng của văn bản tự 
1 Tự sự vật, sự việc hay một chuỗi sự: Có cốt truyện, có nhân 
 các sự việc có quan hệ nhân vật, sự việc, có ngôi kể, có 
 quả dẫn đến kết quả. tư tưởng, chủ đề.
 - Tái hiện các tính chất, - Từ ngữ gợi tả, từ tượng 
 thuộc tính sự vật, hiện hình, tượng thanh; các từ 
 tượng, giúp con người cảm láy, hình ảnh so sánh, câu 
2
 Miêu tả nhận và hiểu được chúng. văn giàu sức gợi. 
 - Các bài văn tả cảnh, tả 
 người, vật; đoạn văn miêu tả 
 trong tác phẩm tự sự.
 - Sử dụng các yếu tố tình - Các từ ngữ biểu cảm, thái 
 cảm, cảm xúcđể bày tỏ cách độ, bộc lộ cảm xúc, tâm 
 nhìn nhận, đánh giá về một trạng trước những vấn đề tự 
3
 Biểu cảm sự vật, hiện tượng, con nhiên, xã hội, sự vật...
 người trong cuộc sống. - Các văn bản: thơ trữ tình, 
 tùy bút..
 - Là phương thức chủ yếu - Trình bày các khái niệm, 
 được dùng để bàn bạc tư tưởng, chủ trương, quan 
 nhằm bộc lộ rõ quan điểm, điểm của con người đối với 
4 Nghị luận: ý kiến, thái độ của người tự nhiên, xã hội, qua các 
 nói, người viết - nêu ý kiến luận điểm, luận cứ và lập 
 đánh giá, bình luận. luận thuyết phục.
 - Giới thiệu, cung cấp, - Các văn bản giới thiệu sản 
 những tri thức về một sự phẩm, giới thiệu di tích, 
5 Thuyết 
 vật, hiện tượng nào đó cho thắng cảnh, nhân vật; trình 
 minh:
 người đọc, người nghe, bày tri thức và phương pháp 
 giới thiệu đặc điểm tình trong khoa học .
 chất, cấu tạo, công dụng.
 8 Sau khi hướng dẫn cụ thể cách nhận biết các phương thức biểu đạt, giáo viên 
khích lệ học sinh hệ thống bằng bản đồ tư duy theo cách của mình, theo trình độ học 
sinh để ghi nhớ, giúp khắc sâu kiến thức.
 => Giáo viên đưa ra lưu ý: học sinh cần phân biệt giữa hai kiểu hỏi
 - Phương thức biểu đạt chính (chủ yếu): chỉ nêu lên DUY NHẤT 01 phương 
thức biểu đạt chính
 - Những phương thức biểu đạt hoặc không có từ “Những”: HS phải nêu tất cả 
các phương thức biểu đạt của văn bản. (Ưu tiên từ 02 phương thức biểu đạt trở lên)
 a.2 Dạng 2: Với dạng câu hỏi xác định thể thơ của đoạn trích.
 - HS qua việc học tập trên lớp nhận diện các thể thơ bốn chữ, năm chữ, bảy 
chữ, lục bát, song thất lục bát, thơ tự do, để xác định cho chính xác qua các đặc 
điểm về số chữ, số câu trong khổ thơ và số câu thơ trong cả bài.
 * Ví dụ minh hoạ: Đề 4 tài liệu ôn thi vào lớp 10 – môn Ngữ Văn, tr 74.
 Câu 1. Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu: 
 Quê hương tôi có con sông xanh biếc
 Nước gương trong soi tóc những hàng tre
 Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
 Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng
 Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng
 Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi?
 Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!
 Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ
 Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ
 Sông của miền Nam nước Việt thân yêu.
 (Tế Hanh, Nhớ con sông quê hương, thơ Tế Hanh, NXB Văn học, 2008, tr58)
 9 * Câu hỏi: Xác định thể thơ, phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong 
đoạn thơ.
 * Gợi ý:
 - Thể thơ: Tự do.
 - Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu cảm.
 a.3 Dạng 3. Dạng câu hỏi xác định từ ngữ hoặc hình ảnh biểu đạt nội dung 
cụ thể trong văn bản.
 - Phần này trong đề thi thường hỏi em hãy chỉ ra các từ ngữ, hình ảnh, một 
câu văn, câu thơ nào đó có sẵn trong văn bản. Vì thế học sinh đọc kĩ ngữ liệu, đọc 
kĩ yêu cầu của câu hỏi đề, phải bám sát vào văn bản để trả lời
 - Cách làm
 + Xác định rõ yêu cầu, nội dung của câu hỏi.
 + Tìm, gạch chân từ ngữ/ hình ảnh/ chi tiết. (đáp án nằm trong văn bản)
 + Các từ ngữ thể hiện ..trong văn bản là: . (chỉ ra chính xác từ ngữ, hình 
ảnh, chi tiết - liệt kê ra cho bằng hết.)
 * Ví dụ minh hoạ:
 Tự trọng nghĩa là biết coi trọng mình, nhưng không phải theo nghĩa vị kỷ (chỉ 
biết đến danh lợi của bản thân mình) mà là coi trọng phẩm giá/đạo đức của mình. 
Một người có tự trọng hay không cũng thường được thể hiện qua câu trả lời hay qua 
hành xử của anh ta cho những câu trả lời như: “Điều gì khiến tôi sợ hãi/ xấu hổ?” 
“Điều gì khiến tôi tự hào /hạnh phúc?”...
 (Trích: Đúng việc - Giản Tư Trung, NXB Tri thức, 2016, tr.27)
 * Câu hỏi: Theo tác giả, tự trọng là gì?
 * Gợi ý:
 - Theo tác giả, tự trọng là biết coi trọng mình, nhưng không phải theo nghĩa 
vị kỷ (chỉ biết đến danh lợi của bản thân mình) mà là coi trọng phẩm giá/đạo đức 
của mình.
 10 b. Mức độ thông hiểu có các dạng câu hỏi sau đây:
 b.1.Dạng 1: Xác định/ chỉ ra và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ.
 Đề thi vào lớp 10 thường xuyên có dạng câu hỏi này đó, nên các em sử dụng 
sơ đồ tư duy để hệ thống các biện pháp tu từ đã học trong chương trình từ lớp 6 - 9. 
Sau đó làm theo 3 bước xác định biện pháp tu từ như sau
 Bước 1: Gọi tên biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản: , dấu hiệu 
nhận biết của biện pháp tu từ đó thể hiện ở từ ngữ, hình ảnh .
 Bước 2: BPTT này làm cho lời thơ/văn/ lời diễn đạt trở nên sinh động, gợi 
hình gợi cảm, hấp dẫn, ấn tượng, thú vị, dễ hiểu, có hồn, tăng nhạc tính - tạo âm 
hưởng nhịp nhàng, nhấn mạnh vào điều tác giả muốn thể hiện ..
 Bước 3. Qua BPTT đó đã thể hiện cảm xúc của tác giả.
 * Ví dụ minh hoạ.
 “Người có tính khiêm tốn thường hay cho mình là kém, còn phải phấn đấu 
thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa. Người có tính khiêm 
tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh 
hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, 
luôn luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa.
 Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc 
đấu tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ 
là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không 
thể đem so sánh với mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến 
đâu cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi.
 Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, 
không tự đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao 
giờ chấp nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người.
 Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên đường đời”.
 (Trích Tinh hoa xử thế, Lâm Ngữ Đường, Ngữ văn 7, tập 2, NXB Giáo dục, 2015)
 11 * Câu hỏi: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong 
đoạn văn thứ nhất? 
 * Gợi ý.
 - Biện pháp liệt kê: Liệt kê các biểu hiện của khiêm tốn: tự cho mình là kém, 
phải phấn đấu thêm, trau dồi thêm, học hỏi thêm 
 - Tác dụng của biện pháp liệt kê: diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những 
biểu hiện của lòng khiêm tốn. Qua đó nhấn mạnh sự đồng tình của tác giả với sự cần 
thiết phải rèn cho mình đức tính khiêm tốn.
 b.2. Dạng 2. Câu hỏi xác định nội dung chính của văn bản
 - Muốn xác định được nội dung của văn bản học sinh cần căn cứ vào tiêu đề 
của văn bản. Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc, câu văn câu thơ được nhắc đến 
nhiều lần. Đây có thể là những từ khóa chứa đựng nội dung chính của văn bản. Xác 
định được kiểu trình bày đoạn văn học sinh sẽ xác định được câu chủ đề nằm ở vị 
trí nào. Thường câu chủ đề sẽ là câu nắm giữ nội dung chính của cả đoạn.
 - Đọc nhan đề + đọc văn bản để tóm tắt thành một câu khái quát nội dung bề 
mặt (căn cứ vào nhan đề/cụm từ khóa, hình ảnh được lặp lại, câu chủ đề ) Qua đó 
tác giả bộc lộ/gửi gắm thông điệp .(nội dung ngầm mà em rút ra được) 
 * Ví dụ minh hoạ. 
 Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: 
 “Xin dạy cho cháu biết đến thế giới kì diệu của sách, nhưng cũng để cho cháu 
đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh 
trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong nắng, và những bông hoa nở ngát trên đồi xanh 
 Ở trường, xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn 
gian lận khi thi. Xin hãy tạo cho cháu có niềm tin vào ý kiến của bản thân, cho dù 
tất cả mọi người xung quanh đều cho rằng ý kiến ấy là không đúng 
 Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng với những người hòa nhã và 
cứng rắn đối với kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám 
đông khi tất cả mọi người chạy theo thời thế”. 
 12 (Trích thư của Tổng Thống Mĩ Lincon gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, 
trong Những câu chuyện về người thầy)
 * Câu hỏi: Nêu nội dung chính của văn bản?
 * Gợi ý.
 Nội dung: Người cha mong thầy giáo hãy dạy cho con biết sự quý giá của 
sách, biết yêu quý cuộc sống, biết ứng nhân xử thế, có lòng trung thực, có sức mạnh, 
có niềm tin vào bản thân.
 c. Mức độ vận dụng có các dạng câu hỏi sau đây:
 - Dạng câu hỏi giải thích ý kiến của tác giả hoặc đưa ra cách hiểu/ suy nghĩa 
của bản thân về ý kiến của tác giả được trích dẫn trong ngữ liệu đã cho. 
 - Ở mức độ này câu hỏi thường có các mệnh lệnh: Tại sao tác giả lại nói 
“ ..”? em có suy nghĩ thế nào về /Em hiểu thế nào về Câu trả lời của dạng bài 
tập này cần kết hợp quan niệm của tác giả trong văn bản và trình bày ý hiểu của bản 
thân (kiến thức hiểu biết ngoài văn bản), có lý giải vì sao ?
 - Cách làm: 
 + Học sinh hãy xem kĩ lại văn bản rồi giải thích: nếu câu có nhiều vế thì giải 
thích từng vế, nếu câu có một vế thì chọn những từ khóa để giải thích rồi rút ra ý 
nghĩa cả câu nói.
 + Trả lời: Theo em tác giả cho rằng “ .”
 + Vì . (trình bày ý trong văn bản trước)
 + Cả câu muốn khuyên/nhắn nhủ/khẳng định/ phê phán điều gì Giúp em 
hiểu được điều gì ?
 + Vì .(lật ngược lại vấn đề - nếu không như thế thì sao).
 * Ví dụ. Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu: 
 Không có gì tự đến đâu con
 Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa 
 Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa
 13 Mùa bội thu trải một nắng hai sương. 
 Không có gì tự đến, dẫu bình thường 
 Phải bằng cả đôi tay và nghị lực. 
 Như con chim suốt ngày chọn hạt 
 Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ.
 (Không có gì tự đến đâu con - Nguyễn Đăng Tấn) 
 * Câu hỏi: Em hiểu như thế nào về câu thơ: Quả muốn ngọt phải tháng ngày 
tích nhựa?
 * Gợi ý:
 Em hiểu về câu thơ là: Muốn có được quả ngon, ngọt thì cần phải trải qua 
những ngày tháng vất cả, chăm sóc cây mới có được thành quả. Ở đây tác giả muốn 
nói đến sự kiên trì và quyết tâm. Khuyên con người để gặt hái được thành công trong 
cuộc sống chúng ta phải kiên trì, nỗ lực và cố gắng hết mình.
 d. Mức độ vận dụng cao có các dạng câu hỏi sau đây:
 d.1. Dạng câu hỏi đồng tình hay không đồng tình với một ý kiến, quan điểm.
 - Dạng câu hỏi này trong đề thi sẽ đưa ra yêu cầu: Em có đồng tình với ý kiến/ 
quan điểm .? Tại sao?
 - Với dạng câu hỏi này yêu cầu trong câu trả lời của học sinh phải đảm bảo 
các nội dung sau:
 - Em đồng tình/ không đồng tình.
 + Vì: Tìm ý kiến trong đề ghi ra.
 + Vì: Ghi ý kiến suy nghĩ của em dựa vào ý kiến tác giả đã nêu trong ngữ liệu.
 + Vì: Lật ngược lại quan điểm ý kiến đã nêu ở trên (nếu không có nó, không 
làm như vậy thì điều gì xảy ra, để lại hậu quả gì)
 * Ví dụ minh hoạ. Đọc ngữ liệu và trả lời các câu hỏi sau:
 14 Trên đường đời bạn cũng có lúc vấp ngã. Tôi cũng vậy. Ngay cả người tài 
giỏi, khôn ngoan nhất cũng có lúc vấp ngã. Vấp ngã là điều bình thường, chỉ có 
những người không bao giờ đứng dậy sau vấp ngã mới là người thực sự thất bại. 
Điều chúng ta cần ghi nhớ là, cuộc sống không phải là một cuộc thi đó - trượt... Cuộc 
sống là một quá trình thử nghiệm các biện pháp khác nhau cho đến khi tìm ra một 
cách thích hợp. Những người đạt được thành công phần lớn là người biết đứng dậy 
từ những sai lầm ngớ ngẩn của mình bởi họ coi thất bại, vấp ngã chỉ là tạm thời và 
là kinh nghiệm bổ ích. Tất cả những người thành đạt mà tôi biết đều có lúc phạm sai 
lầm. Thường thì họ nói rằng sai lầm đóng vai trò quan trọng đối với thành công của 
họ. Khi vấp ngã, họ không bỏ cuộc. Thay vì thế, họ xác định các vấn đề của mình là 
gì, cố gắng cải thiện tình hình và tìm kiếm giải pháp sáng tạo hơn để giải quyết. Nếu 
thất bại năm lần, họ cố gắng đứng dậy năm lần, mỗi lần một cố gắng hơn, Winston 
Churchill đã nắm bắt được cốt lõi của quá trình này khi ông nói: “Sự thành công là 
khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không đánh mất nhiệt huyết và quyết 
tâm vươn lên”.
 (Trích Cuộc sống không giới hạn, Nick Vujicic, chương VII, trang 236)
 * Câu hỏi: Em có đồng ý với quan điểm của Winston Churchill: “Sự thành 
công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không đánh mất nhiệt huyết 
và quyết tâm vươn lên.”? Vì sao?
 * Gợi ý.
 Ví dụ: Đồng tình vì:
 - Thất bại là một phần của cuộc sống và đó là điều rất bình thường, không ai 
không thành công mà không trải qua những thất bại.
 - Thất bại thử thách sự kiên nhẫn của con người. Con người biết theo đuổi 
đam mê, chắc chắn sẽ thành công.
 - Thất bại cho con người những bài học kinh nghiệm quý báu để nuôi dưỡng 
đam mê của chính mình.
 d.2. Dạng câu hỏi rút ra bài học hoặc thông điệp cho bản thân
 15 - Dạng này trong đề thi sẽ hỏi là: Rút ra bài học sâu sắc nhất/ một thông điệp 
ý nghĩa nhất với em sau khi đọc xong đoạn trích?
 - Để rút ra được bài học, học sinh cần thực sự hiểu rõ văn bản cung cấp thông 
tin gì, tác giả muốn truyền đạt điều gì. Học sinh nên rút ra một (hoặc nhiều hơn) bài 
học/ thông điệp có tầm khái quát hơn là những thông điệp nhỏ. Ghi ngắn gọn không 
cần giải thích dài dòng.
 - Câu trả lời gồm 3 ý
 + Thông điệp sâu sắc nhất mà em rút ra được sau khi đọc văn bản là: chúng 
ta cần ; nên ; phải .; đừng ..
 + Thông điệp này đã giúp em hiểu rằng /nhận ra rằng .
 + Thiết nghĩ, thông điệp này không chỉ có ý nghĩa với riêng em mà tin rằng 
còn hữu ích với tất cả mọi người.
 * Ví dụ: THỜI GIAN LÀ VÀNG
 Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian 
không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá. Thật vậy, thời 
gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy 
chữa thì sống, để chậm là chết. Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà 
xem, trong chiến đấu, biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, dễ mất thời 
cơ là thất bại... (Phương Liên - Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục)
 * Câu hỏi: Thông điệp nào trong văn bản có ý nghĩa nhất với em?
 * Gợi ý.
 Thông điệp có ý nghĩa nhất mà em rút ra được sau khi đọc văn bản là: Thời 
gian là vô giá. Thông điệp này đã giúp em nhận ra thời gian có giá trị lớn như thế 
nào, không thể mua bán hay trao đổi, đã trôi qua là mất đi mãi mãi. Vậy nên phải 
biết trân trọng từng phút từng giây để sống, học tập, làm việc sao cho hiệu quả và ý 
nghĩa; không nên phung phí thời gian vào những việc làm vô ích. Thiết nghĩ thông 
điệp này không chỉ có ý nghĩa với riêng em mà còn hữu ích với tất cả mọi người.
 4. Biện pháp 4. Hướng dẫn học sinh luyện đề
 16 - Sau khi đưa ra kiến thức phần lí thuyết và cách làm, cách nhận diện các dạng 
câu hỏi, tôi dành nhiều thời gian nhất có thể để cho học sinh luyện tập làm bài tập ở 
các dạng câu hỏi đã phân chia theo các mức độ. Các bài tập đưa ra với mức độ từ 
khó đến dễ, từ quen thuộc đến mới lạ với học sinh.
 - Sau khi học sinh đã thành thạo với các dạng câu hỏi khác nhau, thì bản thân 
tôi ghép các dạng câu hỏi đã luyện tập đó thành một đề bài cụ thể, lúc này tôi cho 
học sinh luyện đề đầy đủ của phần đọc hiểu với các cách hỏi ở các mức độ vận dụng, 
thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao để các em luyện kĩ năng làm đề.
 - Sau khi đã chữa được một số đề hoàn chỉnh, ôn luyện các đề trong tài liệu 
ôn thi vào 10 THPT do Sở GD&ĐT Bắc Giang cung cấp, bản thân tôi sưu tầm các 
đề bài từ đồng nghiệp, từ mạng Internet và tiến hành cho học sinh ôn và luyện đề rèn 
kĩ năng làm bài.
 5. Biện pháp 5. Làm đề kiểm tra, thi thử.
 - Khi học sinh đã có các kĩ năng làm đề phần đọc hiểu, bản thân tôi nghiên 
cứu tài liệu và tra cứu trên mạng để soạn các đề cho học sinh thi thử. Đề bài thi thử 
bám sát với yêu cầu khung đề của Sở GD&ĐT qua các năm đã thi. Khung thời gian 
ban đầu các em mới làm bài phần đọc hiểu này là 20 - 25 phút, sau đó rút ngắn thời 
gian xuống 15-20 phút để khi các em ngoài luyện kĩ năng làm bài còn luyện tốc độ 
làm bài. Bài làm của các em ngoài yêu cầu viết đúng, viết đủ phạm vi câu hỏi yêu 
cầu với học sinh đại trà thì với học sinh khá giỏi còn yêu cầu viết hay.
 6. Biện pháp 6: Chấm, chữa bài.
 - Vì đây là các bài thi thử của các em nên tôi cố gắng đọc bài, chấm chữa bài 
cẩn thận, tỉ mỉ, chi tiết để chỉ ra những lỗi các em hay gặp khi làm bài từ hình thức 
trình bày cho đến nội dung bài làm, rút kinh nghiệm cho từng em để khi làm bài thi 
các em đạt kết quả cao.
 * Đề ôn luyện minh hoạ.
 Đề 1.
 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
 17 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
 Chúng ta luôn nghĩ rằng cha mẹ cần thấy được con cái thành công trong sự 
nghiệp, đạt nhiều thành tựu trong cuộc sống. Ta tin rằng mình càng giàu có giỏi 
giang thì cha mẹ càng vui vẻ. Kỳ thực không phải vậy.
 Cha mẹ không ham hư vinh, tiền bạc. Tiền bạc với người lớn tuổi nhiều khi 
chỉ cần đủ chứ không cần dư thừa, họ đã ý thức sâu sắc về việc vật chất chỉ là phù 
du nên điều họ trận trọng là bình an và sức khỏe. Cha mẹ thường lo lắng cảm ràm 
nếu bạn ăn mặc phong phanh hay suốt ngày thức khuya dậy sớm...Có lẽ điều ấy đôi 
lúc làm bạn thấy phiền phức nhưng đó là vì họ rất quan tâm và yêu thương bạn. Càng 
lớn bạn sẽ càng hiểu rằng đối với cha mẹ việc bạn có vui vẻ hay không, sống có khoẻ 
mạnh hay không, ngủ có ngon không... quan trọng hơn rất nhiều số tiền bạn kiếm 
được hay địa vị bạn có.
 (Trích Hạnh phúc không khó định danh, Cá Chép, NXB Dân trí, 2021)
 Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
 Câu 2 (0,5 điểm). Chi ra 01 phép liên kết trong những câu văn sau:
 “Cha mẹ không ham hư vinh, tiền bạc. Tiền bạc với người lớn tuổi nhiều khi 
chỉ cần đủ chứ không cần dư thừa, họ đã ý thức sâu sắc về việc vật chất chi là phù 
du nên điều họ trận trọng là bình an và sức khỏe".
 Câu 3 (1,0 điểm). Nêu nội dung chính của đoạn trích.
 Câu 4 (1,0 điểm). Qua những chia sẻ của tác giả, em thấy mình cần làm gì để 
thể hiện lòng hiếu thảo?
 * Gợi ý.
 Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
 Câu 2. Phép liên kết: lặp - “tiền bạc”
 Câu 3. Nội dung chính : Hạnh phúc đơn giản của cha mẹ là con cái được khỏe 
mạnh , bình an chứ không phải hư vinh, tiền bạc.
 Câu 4. Qua chia sẻ của tác giả, em thấy điều mình cần làm những việc để thể 
hiện lòng hiếu thảo là: cố gắng chăm sóc tốt cho bản thân, chú ý tới sức khỏe của 
 18 chính mình để bố mẹ có thể yên tâm khi nghĩ tới chúng ta. Cố gắng học tập tốt để 
cha mẹ vui lòng. Giúp đỡ cha mẹ những công việc trong khả năng của mình.
 ĐỀ SỐ 2:
 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3 điểm)
 Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
 “Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều trên bãi thả, 
đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh 
bướm. Chúng tôi sung sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm 
bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè như gọi thấp xuống những vì sao sớm. Ban đêm 
trên bãi thả diều còn gì huyền ảo hơn. Có cảm giác diều đang trôi trên dải Ngân Hà. 
Bầu trời tự do đẹp như một thảm nhung khổng lồ. Có cái gì cứ cháy lên, cháy mãi 
trong tâm hồn chúng tôi. Sau này tôi mới hiểu đấy là khát vọng. Tôi đã ngửa cổ suốt 
một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay xuống từ trời và bao giờ 
cũng hi vọng khi tha thiết cầu xin: “Bay đi diều ơi! Bay đi!” Cánh diều tuổi ngọc 
ngà bay đi mang theo nỗi khát khao của tôi”
 (Cánh diều tuổi thơ, Ta Duy Anh, Tiếng Việt 4, tập 1, NXB GD VN, 2017) 
 Câu 1 ( 0,5 điểm): Xác định những phương thức biểu đạt chính được sử dụng 
trong văn bản.
 Câu 2 ( 0,5 điểm): Tác giả đã chọn những chi tiết nào để tả cánh diều?
 Câu 3(1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ có trong văn bản.
 Câu 4 (1,0 điểm): Theo em tác giả muốn nói điều gì qua hình ảnh cánh diều ?
 * Gợi ý.
 Câu 1: Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên: Tự sự
 Câu 2: Những chi tiết tác giả đã lựa chọn để tả cánh diều:
 + Cánh diều mềm mại như cánh bướm.
 + Tiếng sáo vi vu trầm bổng.
 + Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè như gọi thấp xuống những vì sao sớm. 
 19 Câu 3: Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: “Bầu trời tự do đẹp như một 
thảm nhung khổng lồ” là biện pháp so sánh. Cánh diều mềm mại như cánh bướm.
 - Tác dụng: Gợi vẻ đẹp của bầu trời đêm. Tác giả so sánh bầu trời đêm với 
tấm thảm nhung cũng mịn và không một gợn mây, mở ra một không gian cao rộng.
 - Tạo sự gần gũi, thơ mộng Qua đó thể hiện sự yêu mến, nâng niu cánh diều 
của tác giả.
 Câu 4: Qua hình ảnh cánh diều, tác giả muốn gửi gắm:
 - Cánh diều là những kỉ niệm tuổi thơ của tác giả với những người bạn nơi 
thôn quê. Đó là kí ức đẹp theo tác giả suốt đời.
 - Cánh diều tuổi thơ là nơi chở những khát vọng, những ước mơ của tác giả 
bay cao, bay xa.
 PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP.
 Thực hiện ý tưởng của mình, trên cơ sở bám sát chương trình hiện hành, trong 
các bài kiểm tra thường xuyên và định kì về nghị luận văn học của học sinh, tôi đã 
kiểm tra câu hỏi đọc hiểu. Đồng thời tôi đã trao đổi với đồng nghiệp về cách hướng 
dẫn học sinh ôn tập về dạng đề này, được các thầy cô ủng hộ và cũng nhân rộng ra 
các lớp, nhất là các lớp 9 em thi vào lớp 10 THPT. Sau quá trình thực hiện, tôi đã 
kiểm tra (ba lần) và kết quả đạt được như sau:
 * Lần 1: Khi chưa ôn luyện và rèn kĩ năng đọc hiểu
 Lớp Sĩ số Điểm 2 - < 3 Điểm 1 - < 2 Điểm <1
 9A2 38 15 20 3
 9A3 39 10 21 8
 * Lần 2: Sau khi vừa thực hiện giải pháp
 Lớp Sĩ số Điểm 2 - < 3 Điểm 1 - < 2 Điểm <1
 9A2 38 20 16 2
 9A3 39 17 18 4
 * Lần 3: Sau khi được luyện các dạng đề đọc hiểu
 20

File đính kèm:

  • docxren_ky_nang_lam_phan_doc_hieu_trong_de_thi_vao_lop_10_thpt_m.docx
Bài giảng liên quan