Sử dụng mẫu vật thật để học tốt dạng bài tìm hiểu kiến thức mới trong môn Sinh học 7
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Sử dụng mẫu vật thật để học tốt dạng bài tìm hiểu kiến thức mới trong môn Sinh học 7, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Tên giải pháp: Sử dụng mẫu vật thật để học tốt dạng bài tìm hiểu kiến thức mới trong môn Sinh học 7. 2. Ngày giải pháp được áp dụng thử: năm học 2020-2021 3. Các thông tin cần bảo mật: không 4. Các giải pháp cũ thường làm: Khi dạy học môn Sinh học giáo viên sử dụng nhiều phương pháp dạy học, trong đó có phương pháp trực quan, cụ thể tôi muốn nói đến ở đây là phương pháp sử dụng mẫu vật thật để giảng dạy dạng bài tìm hiểu kiến thức mới: Bước 1: Giáo viên đưa ra mẫu vật hoặc thông tin, câu hỏi về đối tượng cần nghiên cứu. Bước 2: Học sinh tiến hành tìm hiểu, trả lời cá nhân hoặc hoạt động nhóm. Bước 3: Học sinh trả lời, báo cáo kết quả, chia sẻ. Bước 4: Giáo viên nhận xét, đánh giá và chốt kiến thức. + Ưu điểm của giải pháp này giúp học sinh hình thành kiến thức chủ động. + Tuy nhiên còn một số hạn chế: - Học sinh chưa khai thác sâu được kiến thức trên mẫu vật, chưa thấy được tầm quan trọng của mẫu vật trong nghiên cứu bài học. - Học sinh chưa biết cách khai thác mẫu vật thật hay tranh ảnh để phục vụ bài học. Một số học sinh chỉ thích nghịch mẫu vật, nói chuyện, thậm chí nhiều em không phân biệt các bộ phận, các phần của từng mẫu vật. - Chưa tạo được hứng thú cho các em trong học tập, đôi khi học sinh thấy nhàm chán. - Không tạo được sự gắn kết giữa gia đình và nhà trường. Nhiều gia đình, phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình không biết con học cái gì? Cần chuẩn bị cái gì... cho nên đó cũng là một rào cản rất lớn trong quá trình giảng dạy. - Kỹ năng sử dụng mẫu vật thật của các em còn chậm và yếu, chưa được rèn luyện nhiều để nâng cao kỹ năng sử sụng mẫu vật thật. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp: Trong chương trình Sinh học 7, gần như tất cả các chương, các ngành động vật đều cần sử dụng mẫu vật thật để tìm hiểu kiến thức. Chính vì vậy kỹ năng sử dụng và khai thác các mẫu vật thật của học sinh là vô cùng quan trọng, nó giống như “chìa khóa vạn năng” để mở mọi ổ khóa, mở ra cánh cửa tri thức rộng lớn cho các em. 2 Điều đó còn quyết định đến sự hình thành kiến thức và ghi nhớ kiến thức một cách khoa học và bài bản của các em học sinh. Đứng trước tầm quan trọng đó, bản thân tôi là một giáo viên giảng dạy bộ môn Sinh học 7 nhiều năm không khỏi băn khoăn, trăn trở, suy nghĩ tìm ra các cách để giúp các em có kỹ năng sử dụng mẫu vật thật hiệu quả cao nhất. Vì vậy tôi đã nghiên cứu để đưa ra giải pháp “Sử dụng mẫu vật thật để học tốt dạng bài tìm hiểu kiến thức mới trong môn Sinh học 7”. 6. Mục đích của giải pháp: Nâng cao kỹ năng sử dụng mẫu vật thật của học sinh; tạo hứng thú học tập, từ đó các em chủ động hình thành kiến thức của môn học để vận dụng vào đời sống hàng ngày. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh về giải pháp a. Các bước tiến hành thực hiện giải pháp Tôi đã đưa ra hệ thống các cách, các biện pháp để nâng cao kỹ năng sử dụng mẫu vật thật của học sinh, giúp các em hứng thú, chủ động hình thành kiến thức của môn học. * Biện pháp chung: Để nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng cho học sinh thì trước hết giáo viên phải nâng cao trình độ, tác phong và phong cách sư phạm của mình. Thể hiện ở chỗ: khả năng diễn đạt, trình bày, tổ chức hoạt động cho học sinh, đặc biệt phải nói đến tinh thần trách nhiệm của giáo viên quan tâm đến các đối tượng học sinh. Để nâng cao kỹ năng cho học sinh trong việc sử dụng mẫu vật thật môn Sinh học 7 giáo viên phải: tìm hiểu rõ các em còn vướng mắc ở chỗ nào, mức độ nào, thì giáo viên mới có cơ sở để xây dựng nội dung, phương pháp tổ chức, bồi dưỡng hay phụ đạo cho các em. Trong thực tế giảng dạy, tôi đã kiểm tra, thống kê, tổng hợp kết quả học tập của các em học sinh lớp 7A và 7B về việc sử dụng mẫu vật thật và thấy hiệu quả chưa cao. Vì vậy tôi đã đưa ra các biện pháp cụ thể để hướng dẫn các em sử dụng mẫu vật thật để học tốt dạng bài tìm hiểu kiến thức mới trong môn Sinh học 7. * Biện pháp cụ thể: + Khi giảng dạy cần chú trọng vào những ý trọng tâm cơ bản để dành nhiều thời gian hướng dẫn các em cách quan sát, sử dụng tài liệu để hiểu được bản chất vấn đề. + Tích cực gọi các học sinh yếu kém bằng cách đưa ra những câu hỏi đơn giản, gợi ý rõ ràng để gây hứng thú ở các em. + Giáo viên có thể tận dụng các buổi chiều nhà trường không có các hoạt động giáo dục thì cho học sinh đi tham quan thiên nhiên, trực tiếp quan sát các đối tượng 3 đã học và mở rộng sang các đối tượng khác tương tự như nó để các em khắc sâu kiến thức hoặc trong phụ đạo thêm cho các em để nâng cao chất lượng. + Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới là khâu không thể thiếu sau mỗi tiết học, đặc biệt trước mỗi bài dạy có sử dụng mẫu vật thật để học sinh có trách nhiệm với việc tìm mẫu vật, tìm hiểu kiến thức liên quan đến mẫu vật đó, nhằm kích thích các em khám phá trước vấn đề cần giải quyết. + Phân công - giao nhiệm vụ cho em học khá kèm em học yếu. + Kết hợp với giáo viên chủ nhiệm để quan tâm đầy đủ đến các đối tượng học sinh khó khăn. * Các cách sử dụng mẫu vật thật trong giảng dạy: Cách 1. Sử dụng mẫu vật thật để tìm hiểu kiến thức thông qua việc hoạt động nhóm. Xuất phát từ thực tế trong quá trình thảo luận nhóm một số ít học sinh còn ỉ lại vào các thành viên khác. Vì vậy trong quá trình tổ chức hoạt động thảo luận nhóm tuỳ thuộc vào nội dung, yêu cầu của từng bài cụ thể tôi thường thay đổi các hình thức, cách thức thảo luận, hợp tác theo nhóm nhỏ hay nhóm lớn. * Hoạt động nhóm nhỏ Những nội dung kiến thức đơn giản, câu hỏi ngắn hay hoàn thiện các phiếu học tập đơn giản, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm nhỏ gồm từ 2 đến 3 học sinh/nhóm với cùng một nhiệm vụ. Ví dụ: một số nội dung sử dụng mẫu vật thật để tìm hiểu kiến thức mới trong thảo luận nhóm nhỏ. Bài 18 - Trai sông (khi dạy về hình dạng và cấu tạo) Bài 22 - Tôm sông (khi dạy về cấu tạo ngoài) Bài 26 - Châu chấu (khi dạy về cấu tạo ngoài) ... Ví dụ: Khi dạy về cấu tạo ngoài của tôm sông. Hoạt động của GV Hoạt động của HS 1. Vỏ cơ thể - GV hướng dẫn HS quan sát mẫu tôm, - Các nhóm quan sát mẫu theo hướng dẫn, thảo luận nhóm và trả lời các câu hỏi: thảo luận nhóm thống nhất ý kiến. - Cơ thể tôm gồm mấy phần? - Đại diện nhóm phát biểu, các nhóm - Nhận xét màu sắc vỏ tôm? khác bổ sung. - Yêu cầu HS bóc một vài khoanh vỏ, - Rút ra đặc điểm cấu tạo vỏ cơ thể. nhận xét độ cứng? 4 - GV cho HS quan sát tôm sống ở các - Các nhóm quan sát mẫu theo hướng dẫn, địa điểm khác nhau, giải thích ý nghĩa ghi kết quả quan sát ra giấy. hiện tượng tôm có màu sắc khác nhau. (màu sắt vỏ giống môi trường có ý nghĩa - Khi nào vỏ tôm có màu hồng? trong việc tự vệ) 2. Các phần phụ và chức năng - GV yêu cầu HS quan sát tôm theo các bước: - Các nhóm quan sát, thảo luận. Quan sát mẫu → đối chiếu hình 22 SGK - Đại diện nhóm báo cáo. → xác định tên, vị trí phần phụ trên con - Lớp nhận xét, bổ sung. tôm sông. - Gọi HS nhắc lại tên các phần phụ. - HS trả lời * Hoạt động nhóm lớn Thường áp dụng những nội dung kiến thức khó, phức tạp hoặc có nhiều câu hỏi dài hay nội dung kiến thức tổng hợp thì có thể tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm lớn từ 4 đến 8 học sinh/nhóm. Trong quá trình thảo luận nhóm tôi có thể giao nhiệm vụ khác nhau cho các nhóm hoặc các nhóm cùng chung một nhiệm vụ (tuỳ theo nội dung kiến thức của bài hoặc của phần). Ví dụ: một số nội dung sử dụng mẫu vật thật để tìm hiểu kiến thức mới trong thảo luận nhóm lớn. Bài 15 - Giun đất (khi dạy về hình dạng ngoài và di chuyển) Bài 31 - Cá chép (khi dạy về cấu tạo ngoài) Bài 35 - Ếch đồng (khi dạy về cấu tạo ngoài) Bài 38 - Thằn lằn bóng đuôi dài (khi dạy về cấu tạo ngoài) Bài 41 - Chim bồ câu (khi dạy về cấu tạo ngoài) Bài 46 - Thỏ (khi dạy về cấu tạo ngoài và di chuyển) ... Ví dụ: Khi dạy về hoạt động sống của cá chép. Hoạt động của GV Hoạt động của HS Bước 1: GV yêu cầu HS quan sát cá chép đang bơi trong bình trong suốt. Thảo luận các - HS tự thu nhận thông tin, thảo luận câu hỏi sau: tìm câu trả lời. + Cá chép sống ở đâu? + Thức ăn của chúng là gì? - 1 đến 2 HS phát biểu, lớp bổ sung. + Tại sao cá chép là động vật biến nhiệt? 5 Bước 2: GV cho HS tiếp tục thảo luận: + Đặc điểm sinh sản của cá chép? - HS giải thích được: + Vì sao số lượng trứng trong mỗi lứa đẻ của + Cá chép thụ tinh ngoài, khả năng cá chép lên đến hàng vạn? trứng gặp tinh trùng ít. + Số lượng trứng nhiều như vậy có ý nghĩa + Ý nghĩa duy trì nòi giống. gì? Bước 3: GV yêu cầu HS rút ra kết luận về đời - 1 đến 2 HS phát biểu, lớp nhận xét sống cá chép. bổ sung. Ví dụ: Khi dạy về cấu tạo ngoài của cá chép. Hoạt động của GV Hoạt động của HS Bước 1: GV yêu cầu HS quan sát mẫu - HS bằng cách đối chiếu giữa mẫu và hình cá chép, đối chiếu với H31 tr.103 SGK vẽ → ghi nhớ các bộ phận cấu tạo ngoài. để nhận biết các bộ phận trên cơ thể của - Đại diện nhóm trình bày các bộ phận cấu cá chép. tạo ngoài trên mẫu cá chép. Bước 2: GV giải thích: tên gọi các loại - HS theo dõi. vây cá liên quan đến vị trí vây, vây chẵn vây lẻ. - HS làm việc cá nhân. - GV yêu cầu HS quan sát cá chép đang bơi trong nước, đọc kĩ bảng 1 lựa chọn - Thảo luận thống nhất đáp án. câu trả lời. - GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi sau: - Đại diện lên điền. + Vây cá có chức năng gì? + Nêu vai trò từng loại vây cá? - HS suy nghĩ tìm câu trả lời. Bước 3: GV treo bảng phụ gọi HS lên điền trên bảng. - Đại diện HS lên điền. - GV nêu đáp án đúng. Bước 4: HS trình bày lại đặc điểm cấu tạo ngoài của cá thích nghi với đời - Trình bày câu trả lời. sống bơi lội. Cách 2. Sử dụng mẫu vật thật để khắc sâu kiến thức vừa được học thông qua việc hoạt động nhóm kết hợp với một số trò chơi. Để tạo hứng thú, tăng tốc độ làm việc cho các nhóm trong quá trình học tập, giáo viên nên tổ chức các trò chơi như giải ô chữ, tìm, gắn, chọn thông tin nhanh hoặc giải thích các câu tục ngữ ca dao để thi đua giữa các nhóm. Giáo viên có thể cho học sinh chơi trò chơi đan xen vào trong từng hoạt động hoặc vào mục tổng kết cuối bài. 6 Trò chơi được tổ chức như sau: - Bước 1: thành lập đội chơi (chia lớp thành các nhóm). - Bước 2: tuyên bố thể lệ và nội dung thi. - Bước 3: tổ chức cho các đội thi. - Bước 4: tuyên bố kết quả, trao giải thường bằng điểm hoặc phần thưởng tinh thần. Ví dụ: Khi mở đầu chương 6 - Ngành động vật có xương sống có thể tổ chức trò chơi: Ai nhanh hơn (đoán tên con vật). Có thể sử dụng các câu hỏi về con vật sau: Câu 1: Câu 2: Mình vàng mặc áo mã tiên Bốn cây cột dừa hai cây đinh sắc Ngày năm bảy mối tối ngủ riêng một Một cái đong đưa một cái ngúc ngoắc mình Hỏi là con gì? Hỏi là con gì? (Con voi) (Con gà trống) Câu 3: Câu 4: Tám sào chống cạn hai nạng chống xiên Con gì không chân mà leo núi? Con mắt láo liên cái đầu không có Là con gì? Hỏi là con gì? (Con rắn) (Con cua) Câu 5: Câu 6: Khổng Minh Gia Cát lập bát quái trận Trên lợp ngói dưới có hoa đồ Một thằng ló cổ ra bốn thằng rung rinh Đứng giữa dinh cơ chờ các trấn đem chạy mình đến nạp Hỏi là con gì? Hỏi là con gì? (Con rùa) (Con nhện) Câu 7: Câu 8: Con gì đuôi ngắn tai dài Đôi mắt long lanh Mắt hồng lông mượt Màu xanh trong vắt Có tài chạy nhanh Chân có móng vuốt Là con gì ? Vồ chuột rất tài (Con thỏ) Là con gì? (Con mèo) Câu 9: Câu 10: Cổ cao cao, cẳng cao cao Thường nằm đầu hè Chân đen cánh trắng ra vào đồng xanh Giữ cho nhà chủ Cảnh quê thêm đẹp bức tranh Người lạ nó sủa Sao đành chịu tiếng ma lanh nhử mồi? Người quen nó mừng Là con gì? Là con gì? (Con cò) (Con chó) 7 Ví dụ: Khi dạy bài: Ếch đồng Giáo viên chuẩn bị các mảnh dán về cấu tạo ngoài và ý nghĩa thich nghi. Chia bảng thành 2 phần (ở nước - ở cạn). Tổ chức cho các đội chơi tìm đặc điểm thích nghi với đời sống ở nước, ở cạn và dán vào cột tương ứng. Tương tự sau đó là tìm ý nghĩa thích nghi tương ứng với cấu tạo. Đáp án các đặc điểm thích nghi với đời sống của ếch Môi trường Cấu tạo ngoài Ý nghĩa thích nghi Đầu dẹp, nhọn, khớp với thân thành một khối thuôn nhọn về Giảm sức cản của nước khi bơi. phía trước. Ở nước Da trần phủ chất nhầy và ẩm dễ Giúp hô hấp trong nước thấm nước. Chi sau có màng bơi giữa các Tạo thành chân bơi để đẩy nước ngón. Mắt và các lỗ mũi nằm ở vị trí Khi bơi vừa thở vừa quan sát cao trên đầu Bảo vệ mắt, giữ mắt khỏi bị khô, Mắt có mí giữ nước mắt do Ở cạn nhận biết được âm thanh trên tuyến lệ tiết ra, tai có màng nhĩ. cạn. Chi có 5 phần, ngón chia đốt Thuận lợi cho việc di chuyển linh hoạt trên cạn Như vậy thông qua trò chơi có thể tạo hứng thú cho học sinh học tập, củng cố kiến thức vừa học. Cách 3. Sử dụng mẫu vật thật để kiểm tra bài cũ, kiến thức đã được học và giải thích các hiện tượng thực tế. Cách thức này không gây áp lực với học sinh khi kiểm tra bài cũ. Đối với các mẫu vật gắn với đời sống hành ngay, giáo viên cần cho học sinh trực tiếp quan sát để thấy được hiện tượng thực tế, để các em có sự vận dụng vào cuộc sống. Ví dụ: Bài Cá chép, Tôm sông, Trai sông Cách thức nay vừa củng cố khắc sâu kiến thức đã học vừa tạo được sự liên thông giữa kiến thức cũ và kiến thức mới. Tạo được hệ thống kiến thức liền mạch giữa các ngành động vật. b. Kết quả khi thực hiện giải pháp: + Một số hình ảnh khi thực hiện giải pháp 8 Hình 1a: Học sinh quan sát cơ thể tôm 9 Hình 1b: Học sinh quan sát các phần phụ của tôm 10 Hình 2a: Học sinh quan sát cấu tạo ngoài của cá chép 11 Hình 2b: Học sinh quan sát vây cá chép 12 Hình 3a: Học sinh quan sát cấu tạo ngoài của ếch đồng 13 Hình 3b: Học sinh quan sát ếch đồng 14 Hình 4a: Học sinh quan sát cấu tạo ngoài của thằn lằn 15 Hình 4b: Học sinh quan sát cấu tạo ngoài của thằn lằn 16 Hình 5a: Học sinh quan sát cấu tạo ngoài của chim bồ câu 17 Hình 5b: Học sinh quan sát cấu tạo ngoài của chim bồ câu 18 Hình 6a: Học sinh quan sát cấu tạo ngoài của thỏ 19 Hình 6b: Học sinh quan sát cấu tạo ngoài của thỏ 20 + Các bảng số liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp Sau khi nghiên cứu và áp dụng giải pháp vào thực tế giảng dạy học sinh ở lớp 7A, 7B trường THCS Đông Sơn tôi thấy khả năng sử dụng mẫu vật thật của các em tiến bộ hơn so với đầu năm. Số em chưa biết cách học thông qua mẫu vật thật hoặc biết khai thác xong chưa sâu đầu năm thì đến nay hầu hết các em đã hiểu và biết cách sử dụng mẫu vật thật bằng các cách đơn giản nhưng hiệu quả. Bảng 1: Kết quả khảo sát đầu năm và kết quả học kì 1 Thời Tổng Giỏi Khá TB Yếu Kém điểm số HS SL % SL % SL % SL % SL % Khảo sát 42 4 9,5 16 38,1 18 42,9 4 9,5 0 0 đầu năm Kết quả 42 5 11,9 21 50 14 33,3 2 4,8 0 0 học kì 1 So với khảo sát đầu năm, chất lượng học sinh khá giỏi đã được nâng lên rõ rệt từ 47,6% lên 61,9%; học sinh yếu giảm từ 9,5% xuống 4,8%. Bảng 2: Kết quả bài kiểm tra 15 phút học kì 1 và học kì 2 Thời Tổng Giỏi Khá TB Yếu Kém điểm số HS SL % SL % SL % SL % SL % Bài kiểm tra 15′ 42 3 7,1 14 33,4 21 50 4 9,5 0 0 HK1 Bài kiểm tra 15′ 42 6 14,3 20 47,6 15 35,7 1 2,4 0 0 HK2 So sách kết quả hai bài kiểm tra 15 phút học kì 1 và học kì 2 nhận thấy số lượng học sinh khá giỏi tăng mạnh từ 17học sinh lên 26 học sinh, học sinh yếu giảm từ 4 học sinh xuống 1 học sinh. Bảng 3: Kết quả học kì 1 của lớp 7AB và lớp 7C Tổng Giỏi Khá TB Yếu Kém Lớp số HS SL % SL % SL % SL % SL % 7C 45 3 6,7 19 42,2 20 44,4 3 6,7 0 0 7AB 42 5 11,9 21 50 14 33,3 2 4,8 0 0 Tỉ lệ học sinh khá giỏi ở khu 1 cao hơn khu 2 (khu 1 lớp 7AB, khu 2 lớp 7C), khu 1 là khu có áp dụng giải pháp này. Đây là kết quả mong đợi của bản thân giáo viên và nhà trường.
File đính kèm:
su_dung_mau_vat_that_de_hoc_tot_dang_bai_tim_hieu_kien_thuc.docx



