Sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng môn Địa lí lớp 6
Bạn đang xem nội dung Sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng môn Địa lí lớp 6, để tải tài liệu về máy bạn hãy click vào nút TẢI VỀ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1. Tên giải pháp: “Sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để
nâng cao chất lượng môn địa lí lớp 6"
2. Ngày giải pháp được áp dụng thử: Tháng 9/2021 tại lớp 6B trường
THCS Đồng Hưu
3. Các thông tin cần bảo mật: Không
4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm
Thực tế hiện nay ở các trường THCS, việc thực hiện giảng dạy theo phương
pháp mới còn nhiều khó khăn, có không ít giáo viên vẫn theo nếp cũ, trình bày
theo phương pháp truyền thống, ít quan tâm đến việc phát huy tính tích cực của
học sinh. Từ đó làm cho học sinh thấy nhàm chán, không chủ động lĩnh hội kiến
thức. Chính vì vậy mà hiệu quả của một giờ dạy - học của giáo viên và học sinh
đạt hiệu quả không cao. Học sinh chưa hứng thú học tập.
Các phương pháp cũ như thuyết trình, vấn đáp, đàm thoại, giảng giải vẫn
được sử dụng nhiều. Giáo viên vẫn chủ yếu truyền thụ kiến thức một chiều, chưa
khơi dậy và kích thích được nhiều trí tò mò và lòng ham muốn chiếm lĩnh các
kiến thức địa lí của học sinh.
Nhìn chung đại đa số học sinh đã tiếp cận với nội dung, kiến thức, chương
trình và phương pháp học tập mới, song quá trình tiếp thu của học sinh chưa đồng
đều, chưa linh hoạt trong quá trình hoạt động của mình. Việc tiếp cận với phương
pháp học mới và thiết bị học mới của một số học sinh còn khó khăn. Bên cạnh đó,
một số học sinh chưa chịu khó rèn luyện kĩ năng, học tập một cách thụ động, chưa
chủ động tìm tòi, suy nghĩ và giải quyết vấn đề đặt ra. Hơn nữa có một số ít học
sinh còn có tâm lí phân biệt các môn học “chính”, “phụ” do đó xem nhẹ, không
chú trọng đến một số môn dẫn đến kết quả học tập của học sinh không cao.
Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát
triển phẩm chất và năng lực của người học; tạo môi trường học tập và rèn luyện
giúp học sinh phát huy tối đa tiềm năng của bản thân. Là giáo viên được phân
công giảng dạy môn Địa lí lớp 6 - thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới
năm 2018, tôi tự nhận thấy bản thân cần học hỏi tìm tòi và vận dụng các phương
pháp, kỹ thuật dạy học mới để đưa vào giảng dạy, tổ chức hoạt động học nhằm
kích thích hứng thú học tập và giúp các em phát huy tối đa năng lực và phẩm chất
của bản thân.
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp
Nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng 4.0 đã đặt ra những yêu cầu mới đối
với người lao động, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo
dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Khác với phương thức đào tạo đại trà
của các thế kỷ trước, giáo dục trong thời đại mới chú trọng đến phương thức đào
tạo “cá thể”, lấy “người học làm trung tâm”. Đòi hỏi giáo dục - đào tạo phải tạo
ra được những con người năng động, tự lập, các kỹ năng tự học, tự nghiên cứu,
nhất là phải tạo điều kiện để phát huy tối đa óc sáng tạo của mỗi cá nhân.
Trong Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng
hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ
năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.
Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học
tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ
yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội,
ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và
truyền thông trong dạy và học”.
Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển nhanh như vũ bão của công nghệ thông
tin, học sinh có nhiều cơ hội để học hỏi, chiếm lĩnh nhiều nguồn tri thức, đồng
thời cũng dễ bị sa đà vào những nguồn thông tin không chính thống dẫn tới lơ là
việc học; các trò chơi điện tử ngày phát triển đa dạng, tính năng ngày càng hoàn
thiện và hấp dẫn học sinh dễ bị thu hút và chưa có ý thức tốt trong việc phân
chia quỹ thời gian vui chơi và học tập
Đứng trước thực trạng trên, đổi mới phương pháp dạy học luôn là nhiệm vụ
trọng tâm của ngành giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo và
thu hút tối đa học sinh tham gia vào hoạt động học. Một trong số những biện pháp
để đạt được mục đích trên đó là sử dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học mới. Thực
tế, giáo viên đã được tập huấn học tập chuyên đề về một số phương pháp và kỹ thuật
dạy học tích cực thông qua chương trình Bồi dưỡng thường xuyên của Bộ giáo dục
và Đào tạo. Tuy nhiên, việc vận dụng các kỹ thuật dạy học trong môn địa lí không
phải là vấn đề đơn giản, nó phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố khách quan như cơ sở
vật chất, thiết bị dạy học, trình độ học sinh... vì vậy, với giáo viên ở nhiều trường,
nhiều địa phương thì các kỹ thuật dạy học tích cực vẫn là vấn đề khá mới mẻ, việc
vận dụng vào thực tiễn chưa thật thường xuyên, nhiều nơi còn mang tính hình thức...
Riêng đối với trường THCS Đồng Hưu, việc ứng dụng các kỹ thuật dạy học còn khá
khiêm tốn, một phần do trang bị của giáo viên về kỹ thuật dạy học còn hạn chế, phần
vì điều kiện cơ sở vật chất, khả năng của học sinh...
Từ thực tế trên, tôi thực hiện sáng kiến “Sử dụng phương pháp và kĩ thuật
dạy học tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học môn địa lí lớp 6". Sáng
kiến được áp dụng trong khối lớp 6 trường THCS Đồng Hưu, trong năm học 2021-
2022 với hy vọng cùng chia sẻ kinh nghiệm, hiểu biết về kỹ thuật dạy học với
đồng nghiệp, đồng thời cùng nhau vận dụng vào thực tiễn dạy học để nâng cao
chất lượng bộ môn địa lí.
6. Mục đích của giải pháp
Vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng
học môn địa lí lớp 6 thông qua các bài học trong sách giáo khoa.
Các em có thể vận dụng và phát huy tính chủ động sáng tạo trong quá trình
học tập để tìm ra kiến thức và khám phá những kiến thức mới.
Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác. Tăng cường tính độc
lập, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với hoạt động nhóm.
7. Nội dung.
7. 1. Cơ sở lí luận.
7.1.1. Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa giáo viên và học sinh trong
phạm trù hoạt động dạy và học nhằm mục đích giáo dục và trau dồi học vấn cho
thế hệ trẻ.
Phương pháp dạy học theo quan niệm hiện nay là cách thức hướng dẫn và
chỉ đạo của giáo viên nhằm tổ chức họat động nhận thức và hoạt động thực hành
của học sinh, dẫn tới việc học sinh lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình
thành thế giới quan và phát triển năng lực nhận thức.
Theo quan điểm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức cho học sinh lĩnh
hội tri thức. Vai trò của học sinh trong quá trình dạy học là quá trình chủ động.
Như vậy việc dạy học theo những phương pháp dạy học tích cực là vấn đề thật
cần thiết.
7.1.2. Kĩ thuật dạy học
Kĩ thuật dạy học là biện pháp, cách thức tiến hành các hoạt động dạy học
dựa vào các phương tiện thiết bị nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả giảng dạy
và giáo dưỡng hay có thể nói cách khác đó là cách thức hoạt động dạy học, tổ
chức hoạt động giáo dưỡng để bảo đảm hiệu quả, chất lượng giảng dạy.
Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập, chúng
là những thành phần của phương pháp dạy học. Kĩ thuật dạy học là đơn vị nhỏ
nhất của phương pháp dạy học. Trong mỗi phương pháp dạy học có nhiều kỹ thuật
dạy học khác nhau, kỹ thuật dạy học khác với phương pháp dạy học. Tuy nhiên,
vì đều là cách thức hành động của giáo viên và học sinh, nên kỹ thuật dạy học và
phương pháp dạy học có những điểm tương tự nhau, khó phân biệt rõ ràng.
Năng lực sử dụng các kỹ thuật dạy học khác nhau trong từng giáo viên và
nó được xem là rất quan trọng đối với người đứng lớp, nhất là trong bối cảnh đổi
mới phương pháp dạy học hiện nay ở trường phổ thông. Rèn luyện để nâng cao
năng lực này là một nhiệm vụ, một vấn đề thật cần thiết của mỗi giáo viên, nhằm
đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học ở nhà trường.
Kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong
việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình dạy học, kích thích
tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh.
Có rất nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau mà người giáo viên có thể sử dụng
trong quá trình giảng dạy để phát huy tính tích cực của học sinh. Và trong đề tài
này chỉ mới đề cập đến một số kỹ thuật dạy học tích cực thường xuyên sử dụng
trong giảng dạy địa lí 6. Bao gồm các kỹ thuật: Kỹ thuật mảnh ghép, ký thuật lớp
học đảo ngược, kỹ thuật sơ đồ tư duy
7. 2. Thực trạng của vấn đề
Theo chương trình của Bộ Giáo dục thì sẽ thực hiện thay sách giáo khoa mới
cho các khối lớp 7,8,9 cấp trung học cơ sở theo lộ trình kế tiếp. Vì vậy việc áp
dụng những phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực vào trong quá trình dạy
học là hết sức cần thiết.
Các chuyên đề “Giới thiệu một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích
cực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trung học” cũng
đã được triển khai. Tuy nhiên việc áp dụng các kỹ thuật dạy học này để phát huy
tính tích cực, sáng tạo của học sinh còn hạn chế, nhiều nơi còn mang tính hình
thức. Kiểu dạy học phổ biến trong nhiều môn học hiện nay vẫn là giáo viên truyền
thụ những nội dung được trình bày trong sách giáo khoa, học sinh nghe và ghi
nhớ một cách thụ động.
Hiện nay, việc áp dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy còn hạn
chế. Nguyên nhân là do một số giáo viên vẫn còn có quan điểm cho rằng những
kỹ thuật dạy học tích cực rất khó áp dụng vào giảng dạy trong thời gian 45 phút
trên lớp nên cũng rất ít sử dụng các kỹ thuật này. Ngoài ra còn do cơ sở vật chất
phục vụ cho việc dạy học còn hạn chế. Đời sống một bộ phận cán bộ giáo viên
còn nhiều khó khăn nên chưa đầu tư thỏa đáng vào việc đổi mới phương pháp kỹ
thuật dạy học.
Đối với học sinh, đa số chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu
hỏi mà giáo viên đặt ra như các em đã chuẩn bị bài mới ở nhà, trả lời các câu hỏi
cuối mục trong bài cho nên khi học các em luôn chú ý để nắm chắc bài hơn. Đa
số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đã đưa lại hiệu quả cao trong quá trình
lĩnh hội kiến thức.
Tuy nhiên vẫn còn một số học sinh lười học, chưa có sự say mê học tập, một
bộ phận học sinh thường xuyên không chuẩn bị bài ở nhà, không làm bài tập đầy
đủ, trên lớp các em thiếu tập trung suy nghĩ, cho nên không nắm vững được nội
dung bài học. Một số học sinh chỉ có thể trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản
(như trình bày), còn một số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì
còn rất lúng túng khi trả lời hoặc trả lời mang tính chất chung chung.
Qua các lần kiểm tra đối với lớp 6B tôi có sử dụng đồ dùng dạy học và một
số phương pháp dạy học thông thường, chủ yếu học sinh khá - giỏi tham gia học
tập, số học sinh yếu ít có cơ hội tham gia hoạt động. Chính vì thế nên việc học tập
thường ít hứng thú, nội dung đơn điệu, giáo viên ít quan tâm đến phát triển năng
lực cá nhân.
Đầu năm học 2021- 2022 tôi đã tiến hành khảo sát tình trạng học tập của học
sinh lớp 6B và thu được kết quả như sau:
Kết quả khảo sát của lớp 6B trường THCS Đồng Hưu
(Sĩ số học sinh lớp: 30 học sinh)
Nội dung Thường xuyên Đôi khi Không
Chú ý nghe giảng 15 10 05
Tham gia trả lời câu hỏi 6 4 20
Nhận xét ý kiến của bạn 4 6 20
Tự giác làm bài tập 5 6 19
Qua kết quả kiểm tra trên cho thấy: mức độ chú ý nghe giảng còn hạn chế.
Học sinh tham gia trả lời câu hỏi, nhận xét ý kiến của bạn còn ít, vẫn còn học sinh
chưa tự giác làm bài tập. Đồng thời, ở nhiều học sinh hoạt động giao tiếp, kỹ năng
sống rất hạn chế, chưa mạnh dạn nêu chính kiến của mình trong các giờ học, không
dám tranh luận nhất là với thầy cô giáo, chưa có thói quen hợp tác trong học tập đã
ảnh hưởng rất không tốt đến việc học tập của học sinh. Có nhiều nguyên nhân cho
những hạn chế trên nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do phương pháp giáo dục.
7.3. Các biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề:
Trong quá trình giảng dạy địa lí 6 bản thân tôi đã tích cực sử dụng tối đa các
kỹ thuật dạy học tích cực trong quá trình giảng dạy để nâng cao chất lượng giảng
dạy. Các kỹ thuật dạy học chủ yếu được áp dụng là: Phương pháp dạy học nhóm,
kỹ thuật mảnh ghép, kỹ thuật bản đồ tư duy.
7.3.1 Kỹ thuật mảnh ghép:
a. Khái niệm:
Kỹ thuật mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp
giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm mục tiêu:
-Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp
-Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm
- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức
hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành
nhiệm vụ ở Vòng 2)
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của mỗi cá nhân
b. Cách tiến hành
Kỹ thuật mảnh ghép được tiến hành qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên sâu”. Lớp học được chia thành các nhóm, mỗi
nhóm được giao nhiệm vụ tìm hiểu sâu 1 vấn đề. Sau 1 thời gian nhất định thảo luận,
mỗi thành viên trong nhóm đều nắm vững và trình bày được kết quả của nhóm.
- Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn
1, mỗi học sinh ở các nhóm chuyên sâu khác nhau lại tập hợp lại thành nhóm mới
là nhóm mảnh ghép. Và nhóm “mảnh ghép” nhận được một nhiệm vụ mới, nhiệm
vụ này mang tính khái quát, tổng hợp toàn bộ nội dung đã được tìm hiểu từ các
nhóm “chuyên sâu”
c. Vận dụng kỹ thuật “mảnh ghép” trong giảng dạy địa lí 6
Trong quá trình giảng dạy Địa lí 6, có thể áp dụng kỹ thuật “mảnh ghép” vào
các bài sau:
Bài Tên bài Tên mục sử dụng kỹ thuật mảnh ghép
Chuyển động tự quay
Mục 2. Hệ quả chuyển động tự quay quanh
Bài 7 quanh trục của Trái Đất
trục của Trái Đất.
và hệ quả.
Quá trình nội sinh và quá
Mục 1. Quá trình nội sinh và quá trình ngoại
Bài 11 trình ngoại sinh. Hiện
Sinh.
tượng tạo núi.
Bài 12 Núi lửa và động đất Mục 1. Núi lửa; Mục 2. Động đất
Các dạng địa hình chính
Bài 13 trên bề mặt Trái Đất. Mục 1. Các dạng địa hình chính
Khoáng sản.
Mục 2. Các tầng khí quyển
Mục 3. Các khối khí
Lớp vỏ khí của Trái Đất.
Bài 15 Mục 4. Khí áp. Các đai khí áp trên Trái Đất
Khí áp và gió
Mục 5. Gió các loại gió thổi thường xuyên
trên Trái Đất
Bài 17 Các đới khí hậu Mục 2. Các đới khí hậu trên Trái Đất
Mục 3. Một số dạng vân động của nước
Bài 21 Biển và đại dương
biển và đại dương
Mục 1. Đới nóng
Sự phân bố các đới thiên
Bài 25 Mục 2. Đới ôn hòa
nhiên trên Trái Đất
Mục 3. Đới lạnh
Trong điều kiện giảng dạy trên lớp, trong thời gian 1 tiết học, kỹ thuật mảnh
ghép thích hợp nhất là vào những phần khi thảo luận bao gồm 2 nội dung chính.
Cách tiến hành như sau:
+ Trong giai đoạn 1, giáo viên chia lớp thành 6 hoặc 8 nhóm theo các bàn.
Yêu cầu các nhóm lẻ (nhóm 1,3,5,7,) thảo luận 1 nội dung; các nhóm chẵn (nhóm
2,4,6,8) thảo luận 1 nội dung bài học. Sau thời gian 2 đến 3 phút các thành viên
trong nhóm đã nắm vững nội dung thảo luận của nhóm mình.
+ Sang giai đoạn 2 giáo viên yêu cầu các nhóm lẻ sẽ quay xuống dưới và tạo
thành nhóm mới là các nhóm: 1 và 2 tạo thành nhóm A; 3 và 4 là nhóm B; 5 và 6 là
nhóm C; 7 và 8 tạo thành nhóm D. Như vậy ở vòng 2 này các nhóm mới đã biết đầy
đủ nội dung bài học và điền kết quả thảo luận vào bảng phụ để trình bày trước lớp.
Khi áp dụng kỹ thuật mảnh ghép nếu chia nhóm như ở trên thì học sinh không
phải thay đổi chỗ ngồi nhiều gây lộn xộn lớp. Đồng thời tham gia tích cực quá
trình thảo luận và nắm vững nội dung bài học
* Ví dụ cụ thể: Bài 12 : Núi lửa và động đất
- Giai đoạn 1: Giáo viên chia lớp thành 10 nhóm (theo 10 bàn), yêu cầu các
nhóm dựa vào sách giáo khoa, hiểu biết của bản thân, hình ảnh trên bảng làm
vào phiếu học tập số 1
+ Nhóm lẻ: Tìm hiểu về khái niệm, cấu tạo, nguyên nhân, hậu quả và câu
hỏi mở rộng của hiện tượng núi lửa.
+ Nhóm chẵn: Tìm hiểu về khái niệm, nguyên nhân, hậu quả và câu hỏi mở
rộng của hiện tượng động đất.
Phiếu học tập số 1a (nhóm lẻ)
Trước khi có núi lửa xảy ra, mặt đất xung quanh khu vực núi lửa hoạt động
có hiện tượng gi?
NÚI LỬA
Khái niệm
Cấu tạo
Nguyên nhân
Hậu quả
Phiếu học tập số 1b (nhóm chẵn)
Nếu lớp học đang xảy ra động đất, em sẽ làm gì để bảo vệ mình?
ĐỘNG ĐẤT
Khái niệm
Nguyên nhân
Hậu quả
- Giai đoạn 2: Sau thời gian 4 phút giáo viên yêu cầu các nhóm 1 và 2; 3 và 4; 5
và 6;7 và 8; 9 và 10; quay lại tạo thành 5 nhóm mới và thảo luận thống nhất nội
dung điền vào bảng.
- Sau 3 phút đại diện các nhóm lên báo cáo, các nhóm khác nhận xét bổ xung.
Phiếu học tập số 1a (nhóm lẻ)
NÚI LỬA
Khái Ở những nơi vỏ TĐ bị đứt gãy, các dòng mac-ma theo các khe nứt
niệm của vỏ TĐ phun trào lên bề mặt tạo thành núi lửa.
Cấu tạo Gồm: Lò mac-ma, miệng núi lửa, niệng phụ, ống phun.
Nguyên Do tác động của nội lực: nén ép lớp đất đá, đẩy vật chất từ dưới sâu {{
nhân lên mặt dất hình thành núi lửa.
Vùi lấp các thành thị, làng mạc, ruộng nương, gây thiệt hại lớn về
Hậu quả
người và tài sản.
Trước khi núi lửa phun trào, mặt đất có thể rung nhẹ, nóng hơn, có
khí bốc lên ở miệng núi
Phiếu học tập số 1b (nhóm chẵn)
ĐỘNG ĐẤT
Khái Động đất là những rung chuyển đột ngột mạnh mẽ của vỏ Trái Đất
niệm
Nguyên Do hoạt động của núi lửa, sự dịch chuyển của các mảng kiến tạo, đứt
nhân gãy trong vỏ Trái Đất.
Đổ nhà cửa, các công trình xây dựng, gây thiệt hại lớn về người và
tài sản.
Hậu quả
Có thể gây nên lở đất, biến dạng đáy biển, làm phát sinh sóng thần
khi xảy ra ở biển.
Nếu đang trong lớp học xảy ra động đất em nên bảo vệ đầu và chui
xuống gầm bàn hoặc tìm góc phòng để đứng, nên tránh xa các đồ vật
hoặc cửa kính có thể rơi.
- Giáo viên chuẩn kiến thức bổ xung thêm kiến thức. Giáo viên cho học sinh
tiếp tục thảo luận để tìm ra mối liên hệ giữa động đất và núi lửa.
d. Nhận xét
Qua áp dụng kỹ thuật mảnh ghép trong chương trình Địa lí 6 có thể thấy rõ
kỹ thuật này tạo ra hoạt động đa dạng, phong phú, học sinh được tham gia vào các
nhiệm vụ khác nhau và các mức độ yêu cầu khác nhau. Trong kỹ thuật mảnh ghép
đòi hỏi học sinh phải tích cực nỗ lực tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt động
để hoàn thành vai trò, trách nhiệm của mỗi cá nhân. Thông qua hoạt động này
hình thành ở học sinh tính chủ động, năng động, linh hoạt, sáng tạo và tinh thần
trách nhiệm cao trong học tập. Đồng thời hình thành ở học sinh các kỹ năng giao
tiếp, trình bày, hợp tác, giải quyết vấn đề
Tuy nhiên để hoạt động nhóm có hiệu quả giáo viên cần hình thành ở học
sinh thói quen học tập hợp tác và những kỹ năng xã hội, tính chủ động, tinh thần
trách nhiệm trong học tập. Cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp. Từ đó xác định
một nhiệm vụ phức hợp để giải quyết ở vòng 2 dựa trên kết quả các nhiệm vụ
khác nhau đã được thực hiện ở vòng 1. Đồng thời giáo viên cần theo dõi quá trình
hoạt động của các nhóm để đảm bảo tất cả mọi học sinh ở các nhóm đều hiểu
nhiệm vụ và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
7. 3. 2. Vận dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy Địa lí 6.
a. Khái niệm
Sơ đồ tư duy là kĩ thuật dạy học nhằm tổ chức và phát triển tư duy, giúp
người học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não một
cách dễ dàng. Đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả.
Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh
để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng
được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên
phạm vi sâu rộng. Tính hấp dẫn của hình ảnh gây ra những kích thích mạnh trên
hệ thống rìa của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền.
Sơ đồ tư duy sử dụng trong dạy học mang lại hiệu quả cao, phát triển tư duy
lôgic, khả năng phân tích tổng hợp, học sinh hiểu bài, nhớ lâu, thay cho ghi nhớ
dưới dạng thuộc lòng, học “vẹt”. Đồng thời sơ đồ tư duy phù hợp với tâm sinh lí
học sinh, đơn giản, dễ hiểu thay cho việc ghi nhớ lí thuyết bằng ghi nhớ dưới dạng
sơ đồ hóa kiến thức.
b. Cách tiến hành
-Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý
tưởng hay chủ đề, nội dung chính.
-Từ chủ đề lớn, tìm ra các chủ đề nhỏ liên quan.
-Từ mỗi chủ đề nhỏ lại tìm ra những yếu tố/nội dung liên quan.
-Sự phân nhánh cứ tiếp tục và các yếu tố nội dung luôn được kết nối với
nhau. Sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về chủ đề lớn một
cách đầy đủ và rõ ràng.
c. Vận dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy Địa lí 6
Sơ đồ tư duy có thể sử dụng trong hầu hết tất cả các bài học với các mức độ
và nội dung khác nhau. Về mức độ sử dụng, có thể là một phần hoặc toàn phần. Về
hoạt động sử dụng, có thể sử dụng trong phần kiểm tra bài cũ, hướng dẫn học sinh
tìm hiểu bài, luyện tập củng cố và cả hoạt động chuẩn bị bài ở nhà của học sinh.
*Ví dụ cụ thể: Bài 12. Động đất và núi lửa
Sơ đồ tư duy Giáo viên dùng để củng cố và khái quát lại nội dung bài học.
d. Nhận xét.
Qua tìm hiểu về sơ đồ tư duy và thực tế giảng dạy có thể thấy rõ một số tác
dụng sơ đồ tư duy như sau:
- Sơ đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện
phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả
dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số học sinh học rất
chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học
phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không
biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học
sinh này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để
lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Sử dụng thành thạo
sơ đồ tư duy trong dạy học, học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc
lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
- Sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả
nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà
do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử
dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm
năng của bộ não.
- Sơ đồ tư duy giúp học sinh ghi chép có hiệu quả. Do đặc điểm của sơ đồ
tư duy nên người thiết kế sơ đồ tư duy phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp,
bố cục để “ghi” thông tin cần thiết nhất và lôgic. Vì vậy, sử dụng sơ đồ tư duy sẽ
giúp học sinh dần dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả. Với cách làm này
rèn luyện cho bộ óc các em hướng dần tới cách suy nghĩ lôgic, mạch lạc và cũng
là cách giúp các em hiểu bài, ghi nhớ kiến thức vào não chứ không phải là học
thuộc lòng, học vẹt.
Tóm lại, qua thực tế giảng dạy, bản thân thấy tâm đắc vì kỹ thuật này giúp
cho học sinh phát huy được sự tự tin, sự logic, sáng tạo và phát triển được khả
năng tư duy, ”. Ngoài ra, dạy học bằng sơ đồ tư duy giúp cho học sinh thuộc bài
ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu và chính xác nội dung bài học của mình. Đặc
biệt, phương pháp này còn giúp cho học sinh không nhàm chán mà luôn sôi nổi
và hào hứng trong tiết học, từ đó tạo được điều kiện cho học sinh tập trung thảo
luận và cùng tìm ra vấn đề cốt lõi trong nội dung của bài học. Với phương pháp
này buộc học sinh phải chủ động trong việc học của mình, từ đó mà hiệu quả trong
việc học không ngừng được nâng cao.
7. 4. Hiệu quả của giải pháp
Trong quá trình giảng dạy môn Địa lí 6 ở trường THCS Đồng Hưu bản
thân giáo viên đã cố gắng vận dụng tối đa các phương pháp và kỹ thuật dạy học
tích cực vào một số bài học có thể.
Kết quả cho thấy học sinh đã làm quen với các thao tác của các kỹ thuật
dạy học, trong giờ học đã chú ý học hơn, số học sinh tham gia hoạt động đông
hơn làm cho tiết học sôi nổi, hào hứng, cởi mở và đạt kết quả cao hơn.
Kết thúc năm học 2021 - 2022 kiểm tra đối chứng và đạt được kết
quả như sau: Lớp 6B Sĩ số: 30 học sinh
Nội dung Thường xuyên Đôi khi Không
Chú ý nghe giảng 25 5 0
Tham gia trả lời câu hỏi 20 10 0
Nhận xét ý kiến của bạn 23 6 1
Tự giác làm bài tập 25 5 0
Kết quả học tập cuối năm học 2021 – 2022 môn Địa Lý cũng khá cao:
Tổng số
Tốt Khá Đạt Chưa đạt
học sinh
Số học sinh 30 8 15 7 0
Tỉ lệ (%) 100 26,7 50 23,3 0
7.5. Lợi ích của giải pháp
Giải pháp đã được đưa vào áp dụng tại đơn vị và có tác động thiết thực đến
với giáo viên, học sinh. Sau khi thực hiện giải pháp này, bản thân tôi nhận thấy
giải pháp mang lại hiệu quả về nhiều mặt.
-Giải pháp do bản thân tự làm nên sẽ tiết kiệm được thời gian, không tốn
kinh phí và có khả năng áp dụng trên phạm vi rộng.
-Nội dung của giải pháp đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao chất
lượng giảng dạy và phát huy các năng lực cũng như phẩm chất của học sinh.
- Góp phần xây dựng một thế hệ trẻ có kiến thức, có kĩ năng, tư duy sáng
tạo, tự làm chủ bản thân. Góp phần vào việc đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng
nhân tài phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Trên cơ sở học sinh đã nắm vững các nội dung kiến thức tự nhiên, kinh
tế, xã hội, đất nước, con người, giúp các em thêm yêu quê hương, đất nước.
-Ngày càng có nhiều em học sinh yêu thích học bộ môn nhất là các em có
tâm lý ngại học thuộc. So sánh kết quả khảo sát đầu năm trước khi tiến hành vận
dụng sáng kiến và kết quả khảo sát cuối năm của lớp 6B thì số lượng các em chú
ý nghe giảng, các em tham gia trả lời câu hỏi và tự giác làm bài tập tăng cao, chất
lượng môn học cũng tăng lên rõ rệt.
- Giúp đội ngũ giáo viên môn Địa Lý trong huyện, tích lũy được nhiều kinh
nghiệm trong công tác đổi mới phương pháp dạy học và đáp ứng được yêu cầu
trong công tác đổi mới chương trình giáo dục phổ thông trong các năm học sắp tới.
8. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
8.1. Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu, điều tra, thử nghiệm, khảo sát thực tế, sáng kiến
kinh nghiệm đã được thực hiện và đã đạt một số kết quả:
-Nêu được một số kỹ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng trong giảng dạy
địa lí 6 để nâng cao chất lượng học sinh.
-Đưa ra được một số bài cụ thể có thể áp dụng trong từng kỹ thuật dạy học
và có những ví dụ minh họa thực tế cho các bài.
-Đề ra một số biện pháp phù hợp với thực tế trong điều kiện cơ sở vật chất
còn hạn chế.
-Đề xuất một số cách thức tiến hành, một số công đoạn của các kỹ thuật dạy
học đạt được hiệu quả trong thời gian trên lớp
Tuy nhiên, vẫn có những hạn chế: chỉ đề ra một số kỹ thuật chính, chưa đi
vào tất cả các kỹ thuật. Phạm vi đề tài chỉ thực hiện trong chương trình địa lí 6.
Vì vậy, hướng phát triển tiếp tục của sáng kiến sẽ là: Vận dụng các kỹ thuật
dạy học tích cực trong môn Địa lí ở lớp 7, 8 trong năm học sau.
8.2. Kiến nghị
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, tôi có một số kiến nghị sau:
-Khi vận dụng các kỹ thuật dạy học cần có sự hỗ trợ tích cực về cơ sở vật
chất từ phía nhà trường để hỗ trợ cho việc dạy học.
-Cần tích cực nghiên cứu các kỹ thuật dạy học tích cực để vận dụng một cách
thành thạo và có hiệu quả vào quá trình dạy học.
-Cần phải có sự kết hợp đồng bộ giữa các giáo viên để học sinh có thể nắm
vững các thao tác của các kỹ thuật dạy học.
-Giáo viên cần liên tục củng cố thêm kiến thức và phương pháp trong quá
trình giảng dạy để nâng cao hơn nữa trình độ của học sinh.
Khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên, bản thân tôi đã tự củng cố thêm
được phần nào kiến thức. Rút ra thêm được nhiều kinh nghiệm trong quá trình
giảng dạy.
*Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao
chép hoặc vi phạm bản quyền. Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hưu, ngày 18 tháng 5 năm 2022
Tác giả
(Ký và ghi rõ họ tên)
Đường Ngọc Huê
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Địa lí 10 – Lê Thông (Tổng chủ biên) – Trần Trọng Hà – Nguyễn Minh
Tuệ (đồng chủ biên) – Nguyễn Trọng Hiếu – Phạm Thu Phương – Đỗ Ngọc Tiến
– Nguyễn Viết Thịnh. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
2. Lí luận dạy học địa lí – Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc. Nhà xuất bản
Đại học sư phạm.
3. Dạy và học tích cực: Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học – Bộ giáo
dục và đào tạo. Nhà xuất bản Đại học sư phạm.
4. Một số vấn đề trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông – Nguyễn Trọng
Phúc. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. Trang giáo án điện tử. Bộ giáo dục và đào tạo.
6. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THPT, môn Địa lí – NXB
Giáo dục
7. Tài liệu tập huấn về một số phương pháp dạy học tích cực. - Tài liệu tập
huấn đổi mới kiếm tra đánh giá Địa lí THPT
8. Tư liệu dạy học Địa lí lớp 10.
MỤC LỤC
1. Tên giải pháp: .................................................................................................. 1
2. Ngày giải pháp được áp dụng thử: ................................................................ 1
3. Các thông tin cần bảo mật: Không ................................................................ 1
4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm ............................................................... 1
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp .............................................................. 2
6. Mục đích của giải pháp ................................................................................... 3
7. Nội dung. .......................................................................................................... 4
7. 1. Cơ sở lí luận. ............................................................................................. 4
7.1.1. Phương pháp dạy học .......................................................................... 4
7.1.2. Kĩ thuật dạy học ................................................................................... 4
7.2. Thực trạng của vấn đề .............................................................................. 5
7.3. Các biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề: ......................................... 7
7.3.1 Kỹ thuật mảnh ghép:............................................................................. 7
7.3.2. Vận dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy Địa lí 6. ............................. 12
7. 4. Hiệu quả của giải pháp ............................................................................ 15
7.5. Lợi ích của giải pháp .................................................................................. 15
8. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ............................................................................ 16
8.1. Kết luận .................................................................................................... 16
8.2. Kiến nghị .................................................................................................. 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 18
File đính kèm:
su_dung_phuong_phap_va_ki_thuat_day_hoc_tich_cuc_de_nang_cao.pdf



