Thí nghiệm hóa học vui trong hoạt động khởi động tạo hứng thú cho học sinh học bài mới môn Hóa học

pdf10 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 11/02/2026 | Lượt xem: 9 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung Thí nghiệm hóa học vui trong hoạt động khởi động tạo hứng thú cho học sinh học bài mới môn Hóa học, để tải tài liệu về máy bạn hãy click vào nút TẢI VỀ
 PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO YÊN THẾ 
 TRƯỜNG THCS ĐỒNG VƯƠNG 
 HÓA HỌC 
 GIẢI PHÁP GIẢNG DẠY 
“THÍ NGHIỆM HÓA HỌC VUI TRONG HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG 
TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH HỌC BÀI MỚI MÔN HÓA HỌC” 
 ====== ====== 
 NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN TÀI 
 DẠY MÔN: HÓA HỌC 
 ĐƠN VỊ: THCS ĐỒNG VƯƠNG 
 THÁNG 3 NĂM 2021 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 
I. TÊN GIẢI PHÁP. 
 Thí nghiệm hóa học vui trong hoạt động khởi động tạo hứng thú cho học 
sinh học bài mới môn Hóa học. 
II. NGÀY GIẢI PHÁP ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU. 
 Ngày giải pháp được áp dụng: 30/9/2019. 
III. CÁC THÔNG TIN CẦN BẢO MẬT (NẾU CÓ): không 
IV. MÔ TẢ GIẢI PHÁP CŨ THƯỜNG ÁP DỤNG. 
 1. Giải pháp cũ. 
 - Dựa vào câu hỏi, bài tập phần kiểm tra bài cũ để dẫn dắt vào bài mới. 
 - Đặt câu hỏi gợi mở để vào bài mới. 
 - Thuyết trình hướng đến vấn đề nội dung bài mới. 
 2. Tình trạng và hạn chế. 
 Hóa học là môn khoa học thực nghiệm cả về định tính và định lượng để nghiên 
cứu về chất, sự biến đổi của chất và ứng dụng của chúng. Nó bao gồm các khái niệm 
như nguyên tử, nguyên tố hóa học, phân tử; các nội dung định luật, hiện tượng hóa 
học rất trừu tượng, khó hiểu nhiều khi mắt thường không nhận biết được làm cho 
học sinh khó tiếp thu, dễ nhàm chán, không hấp dẫn được học sinh. Đặc biệt một số 
em còn có cảm giác nặng nề, sợ bộ môn Hóa học; học tập chỉ để hoàn thành nhiệm 
vụ chứ không hề yêu thích môn học này. 
 Nếu giáo viên mở đầu bài học mà ngay lập tức đưa ra câu hỏi hoặc bài tập, 
yêu cầu học sinh lên bảng trả lời để kiểm tra bài cũ sẽ làm cho học sinh có thái độ 
học tập bị động, học thuộc lòng lời giải bài tập mà không hiểu về bản chất, không 
vận dụng kiến thức để giải được các bài tập khác. Một số học sinh đã được kiểm tra 
ở tiết trước sẽ không học bài hoặc làm bài tập vì cho rằng mình đã được kiểm tra và 
đã có điểm. Những học sinh chưa học kĩ hoặc chưa làm bài tập sẽ có cảm giác sợ 
sệt, sợ bị điểm kém, sợ bị cô giáo phê bình, sợ các bạn chê cười. Nhiều em chưa tự 
tin nên không dám xung phong lên trả lời hoặc nhận xét bài của bạn. 
 Nếu giáo viên mở đầu bài học bằng cách đặt câu hỏi gợi mở để vào bài mới 
thì bước đầu cũng làm cho học sinh có tính tò mò, có hứng thú tìm hiểu bài. Tuy 
nhiên việc đặt câu hỏi gợi mở cũng chỉ mang tính lý thuyết, hàn lâm. Học sinh không 
được quan sát thực tế những vấn đề sắp được nghiên cứu. 
 Nếu giáo viên mở đầu bài học bằng cách thuyết trình mượt mà, trơn tru, giới 
thiệu ngắn gọn, khái quát về bài học (để có được những lời vào bài hay như vậy giáo viên cũng phải đầu tư thời gian nghiên cứu bài học, lựa chọn và sắp xếp từ ngữ để 
diễn đạt bằng sự biểu cảm). Trong cách mở đầu ấy, ta chỉ thấy nổi lên hoạt động của 
giáo viên nặng về lí thuyết, tận dụng mọi cơ hội để cung cấp kiến thức. Học sinh vẫn 
chỉ thụ động nghe mà không được tham gia vào các hoạt động học tập, trong khi các 
em luôn có nhu cầu được tự tìm hiểu và khám phá. 
 Với tất cả những cách khởi động vào bài mới trên thì sự tích cực, sáng tạo, sự 
hào hứng của học sinh với bài học ngay từ đầu đã dường như không có. Do đó sẽ 
ảnh hưởng đến kết quả học tập của cả tiết học. 
V. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG GIẢI PHÁP. 
 Trong bất kì một hoạt động nào, một công việc nào thì sự tạo được hứng thú 
là điều rất quan trọng. Nó làm cho ta say sưa với công việc của mình, đặc biệt là 
trong học tập. Sự hứng thú nhận thức là yếu tố có ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá 
trình dạy học mà cả đối với sự phát triển toàn diện sự hình thành nhân cách của học 
sinh. Hứng thú dẫn đến sự tự giác đảm bảo sự hình thành, phát triển tính tích cực, 
độc lập sáng tạo trong học tập. 
 Đối với môn Hóa học, khi có hứng thú học tập các em sẽ có tinh thần, thái độ 
học tập tốt, tích cực, chủ động tìm tòi, sáng tạo, giúp các em dễ hiểu bài, tìm thấy sự 
lý thú, cái hay trong môn học. Từ đó tạo cho các em niềm tin say mê học tập, yêu 
thích môn học và đạt kết quả cao trong học tập. 
 Hứng thú học tập môn Hóa học tác động đến học sinh cả trong và ngoài giờ 
học, kích thích các em tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo để thỏa mãn nhu cầu nhận 
thức, đồng thời suy nghĩ tìm ra nhiều hình thức học tập hiệu quả hơn. Do đó, hình 
thành và phát triển hứng thú học tập cho học sinh là mục tiêu quan trọng mà mỗi 
giáo viên hướng tới để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. 
 Có rất nhiều các giải pháp để tạo hứng thú cho học sinh, trong đó tôi đã áp 
dụng một giải pháp mà tôi thấy hiệu quả, đó là “Thí nghiệm hóa học vui trong 
hoạt động khởi động tạo hứng thú cho học sinh học bài mới môn Hóa học”. 
VI. MỤC ĐÍCH CỦA GIẢI PHÁP. 
 Hóa học là môn học thực nghiệm, do đó thí nghiệm là một phần không thể 
thiếu trong hoạt động dạy học môn Hóa học. Bằng thí nghiệm có thể giúp học sinh 
kiểm tra, chứng minh, minh họa cho phần lí thuyết hoặc tìm ra kiến thức mới. Thí 
nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết với thực tiễn, giữa hiện tượng trong tự nhiên với 
nhận thức của con người và góp phần gây hứng thú học tập cho học sinh. 
 Ở mỗi tiết học môn Hóa học, hoạt động khởi động chiếm khoảng 5 đến 7 phút 
đầu giờ nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển tính tích cực học 
tập của học sinh. Thứ nhất, một bài học với cách khởi động thú vị, hấp dẫn sẽ có tác dụng kích 
thích hứng thú học tập. Bởi sự say mê, yêu thích đối với mỗi môn học không phải 
em nào cũng sẵn có. Phần nhiều nhờ sự sáng tạo của giáo viên biết cách dẫn dắt học 
sinh vào từng hoạt động học tập. Do đó, nếu giáo viên sử dụng thí nghiệm hóa học 
vui trong hoạt động khởi động sẽ làm cho các em có được sự thích thú, tò mò. Khi 
đã có hứng thú, học sinh sẽ tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập một cách 
tự nhiên, sáng tạo. 
 Thứ hai, hoạt động khởi động có tác dụng nối liền kiến thức cũ với kiến thức 
mới tạo nền tảng cho việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của bài học. Bởi môn Hóa 
học bao gồm là tất cả những gì những kiến thức có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ 
với nhau như tính chất hóa học của các hợp chất như Oxit, Axit, Bazơ, Muối,.... Vì 
vậy, khi thiết kế hoạt động khởi động giáo viên cần tạo cơ hội cho học sinh tự làm 
sống lại các kiến thức nền đã học, cần thiết cho việc lĩnh hội nhiệm vụ mới thông 
qua một số thí nghiệm. Như vậy, vừa giúp các em ghi nhớ chắc chắn kiến thức cũ 
vừa giúp hình thành các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong học tập và trong cuộc sống. 
 Thứ ba, hoạt động khởi động giúp khái quát nội dung cơ bản của bài học, 
hướng sự suy nghĩ, tư duy của học sinh vào nội dung chính ngay từ đầu, bởi có một 
thực tế là khi bắt đầu bài học. Nếu giáo viên không có sự định hướng thì học sinh sẽ 
loay hoay với rất nhiều câu hỏi như: “Hôm nay không biết học bài gì? Nội dung có 
khó hoặc hấp dẫn hay không? Chúng ta sẽ phải thực hiện những nhiệm vụ nào?” 
Như vậy, tư duy học sinh bị phân tán sẽ ảnh hưởng đến việc lĩnh hội kiến thức của 
bài. Do đó, trong hoạt động khởi động cần thiết giáo viên phải có những cách thức 
chuyển giao nhiệm vụ linh hoạt để khái quát nội dung cơ bản của bài có thể thông 
qua những thí nghiệm hóa học vui, 
 Thứ tư, hoạt động khởi động bằng thí nghiệm hóa học vui giúp giáo viên và 
học sinh có cơ hội hiểu nhau hơn; thậm chí, hoạt động khởi động giúp phá tan sự lo 
lắng, e ngại ban đầu của học sinh, thu hút học sinh vào việc học chủ động, tích cực, 
tạo tâm thế và kiến thức cần thiết cho bài mới. 
 Như vậy, hoạt động khởi động bằng những thí nghiệm hóa học vui nếu được 
thực hiện tốt ở đầu mỗi tiết học. Ngoài việc khắc sâu và mở rộng kiến thức, nó còn 
có tác dụng rất lớn trong việc gây hứng thú học tập môn Hóa học cho học sinh, sẽ 
giúp học sinh hăng hái và phát huy tính tích cực học tập, thuận lợi cho hoạt động 
hình thành kiến thức ở phần sau và trong cả một tiết học. 
VII. NỘI DUNG. 
 1. Thuyết minh giải pháp mới. 
 1.1. Nội dung giải pháp. “Thí nghiệm vui trong hoạt động khởi động tạo hứng thú cho học sinh 
học bài mới môn Hóa học”. 
 Để tạo được hứng thú học tập môn Hóa học của học sinh trường THCS Đồng 
Vương tôi đã tổ chức hoạt động khởi động bằng một số thí nghiệm hóa học vui ở 
đầu mỗi tiết học. Đó là một số phản ứng hóa học xảy ra có kèm theo những hiện 
tượng kỳ lạ như phát ra tiếng kêu hoặc tiếng nổ, tự bốc cháy hay phát ra ánh sáng 
mạnh, tạo ra chất kết tủa hay làm chất kết tủa tan đi, làm màu sắc của chất biến đổi 
khôn lường như có phép “thần thông biến hóa”. Qua đó, học sinh sẽ càng hiểu hơn 
về khái niệm: “Hóa học là khoa học nghiên cứu về chất, sự biến đổi của chất và ứng 
dụng của chúng”. 
 Hoạt động khởi động bằng thí nghiệm hóa học vui được thực hiện để kiểm tra 
bài cũ hoặc dẫn dắt học sinh vào bài mới. Thông qua các thí nghiệm làm cho học 
sinh tái hiện được những kiến thức cũ không phải bằng phương pháp học thuộc lòng 
mà bằng phương pháp trực quan, kết nối kiến thức cũ với kiến thức mới cần được 
lĩnh hội trong bài mới hoặc đặt ra cho học sinh một tình huống có vấn đề khiến học 
sinh muốn tìm tòi, khám phá trong các hoạt động sau của bài học. Từ đó, giúp cho 
học sinh có hứng thú học tập, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của 
học sinh. Học sinh có niềm say mê và niềm tin vào môn Hóa học. 
 Hoạt động khởi động bằng thí nghiệm hóa học vui có thể được tiến hành với 
hai phương pháp: 
 Thứ nhất, thí nghiệm được biểu diễn bởi giáo viên hoặc học sinh. Hình thức 
này được thực hiện khi có đủ dụng cụ, hóa chất và thí nghiệm dễ thực hiện, mất ít 
thời gian. 
 Thứ hai, giáo viên sử dụng thiết bị như máy tính, máy chiếu, ti vi để chiếu 
video các thí nghiệm. Hình thức này sẽ được thực hiện khi trong phòng đồ dùng 
không có đủ dụng cụ, hóa chất hoặc thí nghiệm khó, mất nhiều thời gian hoặc giáo 
viên sử dụng các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên. 
 1.2. Các bước tiến hành thực hiện giải pháp. 
 Để thực hiện giải pháp “Thí nghiệm hóa học vui trong hoạt động khởi động 
tạo hứng thú cho học sinh học bài mới môn Hóa học”, tôi đã tiến hành như sau: 
 1.2.1. Với giải pháp khởi động bằng thí nghiệm hóa học vui được biểu 
diễn bởi giáo viên hoặc học sinh. 
 Bước 1: Giáo viên lựa chọn những thí nghiệm có hiện tượng rõ ràng, vui mắt, 
dễ làm, phù hợp với nội dung bài học. Trong những thí nghiệm dùng để kiểm tra bài 
cũ nên chọn một thí nghiệm có sự kết nối với kiến thức cần lĩnh hội trong bài mới. 
 Bước 2: Giáo viên chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, hóa chất cần thiết, các điều kiện 
đảm bảo an toàn khi tiến hành thí nghiệm. Bước 3: Trước khi biểu diễn thí nghiệm giáo viên yêu cầu học sinh quan sát, 
nhận xét hiện tượng. Nếu là thí nghiệm liên quan tới kiểm tra bài cũ, yêu cầu học 
sinh viết phương trình hóa học. 
 Bước 4: Giáo viên tiến hành thí nghiệm hoặc có thể mời học sinh lên tiến 
hành thí nghiệm dễ. 
 Bước 5: Học sinh quan sát và nhận xét hiện tượng, viết phương trình hóa học 
theo sự hướng dẫn của giáo viên. 
 Bước 6: Từ thí nghiệm giáo viên định hướng cho học sinh có thể rút ra những 
tính chất hóa của chất đã được học hoặc dự đoán tính chất của chất sẽ được học trong 
tiết học hôm nay. 
 Bước 7: Giáo viên nhận xét hoạt động của học sinh, tuyên dương, khen 
thưởng những cá nhân hoặc nhóm hoạt động tốt, động viên, khuyến khích những cá 
nhân, nhóm còn lại và dẫn dắt học sinh vào những hoạt động tiếp theo của tiết học. 
 Ví dụ 1: Khi dạy bài “Mở đầu môn Hóa học” lớp 8, trong hoạt động khởi 
động giáo viên sẽ thực hiện thí nghiệm “Nước đổi màu”. 
 - Mục đích thí nghiệm: 
 Giúp học sinh thấy được sự hấp dẫn, thần kì của hóa học, kích thích sự tò mò, 
ham thích và gây hứng thú cho học sinh khi bắt đầu làm quen với môn học. 
 - Cách tiến hành: 
 Lấy khoảng 20ml dung dịch Natri hidroxit cho vào ống nghiệm sau đó nhỏ 
tiếp vài giọt dung dịch phenol phtalein vào. Tiếp tục nhỏ khoảng 20 ml dung dịch 
Axit clohidric vào ống nghiệm trên. Nhỏ tiếp vài giọt dung dịch phenol phtalein sau 
đó lại nhỏ khoảng 10 ml dung dịch Natri hidroxit. 
 - Mô tả hiện tượng: 
 Khi nhỏ dung dịch phenol phtalein vào thì dung dịch chuyển sang màu hồng. 
 Khi nhỏ dung dịch axit clohidric vào thì màu hồng biến mất. 
 Tiếp tục nhỏ dung dịch phenol phtalein thì màu hồng không xuất hiện. Nhưng 
khi nhỏ tiếp dung dịch Natri hidroxit thì màu hồng lại xuất hiện. 
 - Giải thích hiện tượng: 
 Dung dịch Natri hidroxit làm cho dung dịch phenol phtalein không màu 
chuyển sang màu hồng. 
 Khi nhỏ dung dịch Axit clohidric màu hồng biến mất đó là do hai chất Natri 
hiddroxit và Axit clohidric đã tác dụng với nhau: 
 HCl + NaOH ⎯⎯→ NaCl + H2O 
 Màu hồng lại xuất hiện khi nhỏ dung dịch Natri hidroxit vào vì trong ống 
nghiệm có phenol phtalein. 
 Dung dịch HCl tác dụng với dung dịch NaOH chứa phenol phtalein 
 Ví dụ 2: Khi dạy tiết 1 về “chủ đề Oxi” lớp 8, trong hoạt động khởi động 
giáo viên sẽ thực hiên thí nghiệm “Pháo hoa trong ống nghiệm” 
 - Mục đích thí nghiệm: 
 Kích thích học sinh muốn tìm tòi, khám phá tính chất của Oxi thông qua hiện 
tượng bắt mắt của thí nghiệm. 
 Qua thí nghiệm này giáo viên sẽ định hướng cho học sinh việc sẽ được tìm 
hiểu tính chất Oxi tác dụng với phi kim trong bài học. 
 - Cách tiến hành: 
 Trộn bột than (nghiền nhỏ) với thuốc tím (Kali pemanganat) theo tỉ lệ 1:1 rồi 
cho vào ống nghiệm và đung nóng. 
 - Mô tả hiện tượng: 
 Một lúc sau thấy trong ống nghiệm bắn ra tia lửa sáng rực như pháo hoa. 
 - Giải thích hiện tượng: 
 Khi đung nóng Kali pemanganat phân hủy tạo thành khí Oxi. 
 to
 2KMnO4 ⎯⎯→ K2MnO4 + MnO2 + O2 
 Khí Oxi sinh ra tác dụng với bột Cacbon trong ống nghiệm tạo thành khí 
Cacbon đioxit tỏa nhiệt. 
 C + O2 CO2 
 Cacbon cháy trong thuốc tím nung nóng 
 1.2.2. Với giải pháp khởi động mà giáo viên sử dụng thiết bị như máy 
tính, máy chiếu, ti vi để trình chiếu video các thí nghiệm hóa học vui. Bước 1: Giáo viên lựa chọn những video thí nghiệm hóa học vui hoặc hiện 
tưởng xảy ra trong tự nhiên phù hợp với nội dung bài học. 
 Bước 2: Giáo viên chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị dạy học như máy tính, 
máy chiếu hoặc ti vi. 
 Bước 3: Giáo viên nêu yêu cầu đối với học sinh trước khi chiếu video. 
 Bước 4: Giáo viên chiếu video. 
 Bước 5: Học sinh quan sát và nhận xét hiện tượng, viết phương trình hóa học 
theo sự hướng dẫn của giáo viên. 
 Bước 6: Từ thí nghiệm giáo viên định hướng cho học sinh có thể rút ra những 
tính chất hóa của chất đã được học hoặc dự đoán tính chất của chất sẽ được học trong 
tiết học hôm nay. 
 Bước 7: Giáo viên nhận xét hoạt động của học sinh, tuyên dương, khen 
thưởng những cá nhân hoặc nhóm hoạt động tốt, động viên, khuyến khích những cá 
nhân, nhóm còn lại và dẫn dắt học sinh vào những hoạt động tiếp theo của tiết học. 
 Ví dụ: Khi dạy bài "Nước" lớp 8, trong hoạt động khởi động giáo viên 
chiếu cho học sinh quan sát trước thí nghiệm sự tự bốc cháy khi cho Natri tác 
dụng với nước. 
 - Mục đích thí nghiệm: 
 Nhằm kích thích tính tò mò, thích thú của học sinh, giáo viên định hướng để 
học sinh để chuẩn bị vào tìm hiểu tính chất hóa học của nước. 
 - Cách tiến hành: 
 Thả một mẩu nhỏ Natri (bằng hạt đậu) vào cốc đựng nước, sau khi phản ứng 
xong nhỏ dung dịch phenol phtalein vào cốc. 
 - Mô tả hiện tượng: 
 Natri bốc cháy thành ngọn lửa chuyển động trên mặt nước. 
 Khi nhỏ phenol phtalein vào thì dung dịch chuyển sang màu hồng. 
 - Giải thích hiện tượng: 
 Do Natri tác dụng với nước sinh ra nhiều nhiệt: 
 2Na + 2H2O ⎯⎯→ 2NaOH + H2↑ 
 Dung dịch tạo thành chứa NaOH làm cho phenol phtalein từ không màu 
chuyển sang màu hồng. 
 Natri tác dụng với nước 1.3. Kết quả khi thực hiện giải pháp. 
 1.3.1. Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp. 
 Sau khi tôi thực hiện giải pháp “Thí nghiệm vui trong hoạt động khởi động 
tạo hứng thú cho học sinh học bài mới môn Hóa học”, tôi nhận thấy giải pháp đã 
mang lại một số hiệu quả như sau: 
 - Nâng cao được húng thú học tập cho học sinh ngay khi bắt đầu vào tiết học, 
giúp cho học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong các hoạt động. Tạo không khí 
lớp học sôi nổi, sinh động, hấp dẫn. 
 - Rút ngắn khoảng cách giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh có lực học 
tốt với học sinh có lực học yếu. 
 - Giúp các em nhanh hiểu bài và ghi nhớ lâu hơn thông qua thí nghiệm trực 
quan chứ không phải bằng cách học thuộc lòng, học vẹt. 
 - Rèn được cho học sinh kĩ năng quan sát, nhận xét và giải thích hện tượng, 
rút ra kết luận cần thiết. Từ đó rèn được kĩ năng thực thực hành cho học sinh. 
 - Học sinh dựa vào thí nghiệm biết mở rộng kiến thức vào vận dụng nhận biết 
và giải thích các hiện tượng trong thực tiễn. 
 - Nhờ đó mà kết quả học tập của học sinh khối 8 năm học 2019-2020 đã được 
nâng lên so với năm học 2018-2019. Tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng, còn tỉ lệ học sinh 
yếu kém giảm cụ thể: 
 + Kết quả học tập của học sinh năm học 2018-2019: 
 Tổng Giỏi Khá Trung bình Yếu 
 số HS Số lượng % Số lượng % Số lượng % Số lượng % 
 54 2 3,70 16 29,63 25 46,30 11 20,37 
 + Kết quả học tập của học sinh năm học 2019-2020: 
Tổng Giỏi Khá Trung bình Yếu 
số HS Số lượng % Số lượng % Số lượng % Số lượng % 
 59 4 6,78 24 40,68 26 44,07 5 8,47 
 1.3.2. Bảng số liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp. 
 Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng 
 Kết quả giải pháp (năm học giải pháp (năm học So sánh 
 2018-2019) 2019-2020) 
Giỏi 3,70% 6,78% tăng 3,08 % 
Khá 29,63% 40,68% tăng 11,05% 
Trung bình 46,30% 44,07% giảm 2,23% 
Yếu 20,37% 8,47% giảm 11,9% 
 Kết quả đạt được tuy chưa phải là cao so với trường bạn nhưng đối với thầy 
và trò của trường THCS Đồng Vương đã là một sự cố gắng. Để đạt được kết quả này tôi thiết nghĩ không chỉ do sự cố gắng lỗ lực của học sinh mà một phần cũng do giáo 
viên đã áp dụng giải pháp “Thí nghiệm hóa học vui trong hoạt động khởi động 
tạo hứng thú cho học sinh học bài mới môn Hóa học” trong quá trình học tập. Vì 
vậy tôi có thể khẳng định giải pháp của tôi đưa có hiệu quả. 
 2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng giải pháp. 
 Giải pháp tôi đưa trên đã được tôi áp dụng trên phạm vi trường THCS Đồng 
Vương trong năm học 2019-2020 và đã đạt được một số hiệu quả nhất định. 
 Năm học 2020-2021 tôi tiếp tục áp dụng giải pháp trên cho học sinh khối lớp 
8 trong nhà trường. Ngoài ra tôi nhận thấy giải pháp này có thể áp dụng cho cả giáo 
viên khác khi giảng dạy môn Hóa học ở khối lớp 9. Tôi hi vọng giải pháp sẽ đem 
đến hiệu quả tốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của trường THCS Đồng 
Vương nói riêng và chất lượng giáo dục của các trường khác trong huyện Yên Thế 
nói chung. 
3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của giải pháp (Đánh giá lợi ích thu 
được hoặc dự kiến lợi ích có thể thu được do áp dụng giải pháp trong đơn kể 
cả áp dụng thử tại cơ sở). 
 Sau khi thực hiện giải pháp này, bản thân tôi đã thu được một số kết quả khả 
quan. Theo quan điểm cá nhân đây là một thành công lớn mà những năm trước đây 
khi giảng dạy môn Hóa học tôi chưa đạt được. 
 Giải pháp đã giúp tạo hứng thú học tập cho học sinh, tạo cho các em có thêm 
sự tự tin khi làm bài tập và thi, kiểm tra. 
 Giải pháp này đã rèn thêm cho các em những kĩ năng làm thí nghiệm thực 
hành phát huy được năng lực chủ động, sáng tạo, quan sát để giải quyết các vấn đề 
đặt ra trong học tập. 
 Giải pháp giúp nâng cao được điểm trung bình môn Hóa học 8 cũng như giúp 
các em có hứng tú hơn với các môn khoa học tự nhiên từ đó mở ra thêm sự lựa chọn 
cho học sinh sau khi tốt nghiệp THCS. 
 Giải pháp do bản thân tự rút ra trong quá trình giảng dạy nên tiết kiệm được 
thời gian, không tốn kinh phí và có khả năng áp dụng trên phạm vi rộng. 
 Tôi cam đoan những nội dung được nêu trên đây là đúng sự thật và không 
sao chép hoặc vi phạm bản quyền. 
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN, ĐƠN VỊ TÁC GIẢ GIẢI PHÁP 
 ( ký tên, đóng dấu) (ký và ghi rõ họ tên) 
 Nguyễn Văn Tài 

File đính kèm:

  • pdfthi_nghiem_hoa_hoc_vui_trong_hoat_dong_khoi_dong_tao_hung_th.pdf
Bài giảng liên quan