Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để nâng cao chất lượng môn Lịch sử lớp 9
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để nâng cao chất lượng môn Lịch sử lớp 9, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
MỤC LỤC Nội dung Trang MỤC LỤC 1 PHẦN I: MỞ ĐẦU 2 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2 II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4 IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5 V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 5 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ 6 Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6 II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7 Chương II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC 12 THƯỜNG ĐƯỢC VẬN DỤNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Chương III. VẬN DỤNG LINH HOẠT MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP 19 DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ 9 Chương IV. MINH HỌA MỘT BÀI HỌC CỤ THỂ CÓ SỬ DỤNG 24 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC Chương V. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 31 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33 I. KẾT LUẬN 33 II. NHỮNG ĐỀ NGHỊ 33 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 1 PHẦN I. MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đất nước ta đang thực hiện đường lối đổi mới và tiến hành công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Công nghiệp hóa - hiện đại hóa không chỉ đơn thuần là công cuộc xây dựng nền kinh tế đất nước đang trên quá trình hội nhập quốc tế mà còn là quá trình cách mạng làm biến đổi sâu sắc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, truyền thống đó đã tạo nên những nét đẹp của nền văn hóa Việt Nam, và được nhân lên trong thời đại mới với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945). Những thành tựu của nền giáo dục Việt Nam trong thế kỉ qua là hết sức to lớn, là cơ sở, là điều kiện để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Những yêu cầu mới của xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, sự thách thức nguy cơ tụt hậu trên đường tiến vào thế kỉ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (01/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996), được thể chế hóa trong Luật giáo dục sửa đổi năm 2009, được cụ thể hóa trong các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong Luật giáo dục sửa đổi năm 2009, điều 28.2 đã nêu rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Có thể nói, cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học lịch sử nói riêng là hướng hoạt động học tập tích cực, chủ động, sang tạo của học sinh, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập, chống lại lối dạy đọc chép, thói quen học tập thụ động. 2 Hiện nay giáo dục đang đổi mới một cách toàn diện, trong đó có phương pháp dạy học. Để phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh, đòi hỏi giáo viên không ngừng cải tiến phương pháp dạy học. Giáo viên cần phải xác định đúng đắn dạy học để làm gì? (mục đích), dạy học cái gì? (nội dung), dạy như thế nào? (phương pháp). Môn lịch sử trong nhà trường phổ thông nói chung, ở cấp Trung học cơ sở nói riêng có chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ. Không chỉ ở nước ta mà ở các nước tiên tiến trên thế giới cũng chú trọng việc dạy môn lịch sử vì nó đào tạo con người có bản sắc dân tộc. Đảng và Nhà nước, Bộ giáo dục coi trọng việc dạy và học bộ môn lịch sử. Môn lịch sử là một trong những môn quan trọng trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh, qua môn này học sinh hiểu biết vế quá khứ, cội nguồn của dân tộc, đất nước. Ngoài ra còn giáo dục cho học sinh ý thức trách nhiệm, gìn giữ, bảo tồn phát huy các giá trị truyền thống, ý thức trách nhiệm với bản thân, quê hương, đất nước. Học sinh học lịch sử không phải chỉ để biết quá khứ, hay để biết những câu chuyện đời xưa mà phải biết lấy “chuyện xưa răn đời nay”, “lịch sử là tấm gương soi”. Đặc biệt là trong xu thế hội nhập với cộng đồng thế giới hiện nay, mỗi con người Việt Nam chúng ta cần có ý thức hơn về dân tộc mình, bởi vậy chúng ta chỉ có thể khép lại quá khứ chứ không thể quên quá khứ. Giáo sư Phan Huy Lê nói: Thế hệ trẻ lớn lên qua nền giáo dục phổ thông mà không yêu mến lịch sử dân tộc, không có một vốn hiểu biết cần thiết về lịch sử và văn hoá nhân loại, không có một niềm tự tin dân tộc thì làm sao có thể hoàn chỉnh được phẩm chất của người công dân Việt Nam. Từ đặc điểm đó, môn Lịch sử càng phải đặt đúng vị thế và chức năng của nó trong hệ thống giáo dục phổ thông. Dạy học lịch sử ở trường THCS là một quá trình sư phạm, bao gồm nhiều loại hoạt động khác nhau của giáo viên và học sinh. Những hoạt động đó nhằm mục đích cho học sinh nắm được tri thức lịch sử, yêu thích môn học, từ đó phát triển tư duy lịch sử, biết nhận định, đánh giá cá sự kiện lịch sử một cách khách quan, đúng đắn. 3 Có rất nhiều phương pháp dạy học trong giảng dạy môn lịch sử, điều quan trọng là giáo viên phải biết kết hợp các phương pháp giảng dạy sao cho hài hoà, phù hợp với đối tượng học sinh, có như vậy mới tạo được hứng thú học tập, tạo lòng đam mê, yêu thích môn học ở học sinh. Mấy năm gần đây thực trạng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông đã gây ra nhiều bức xúc, nỗi lo âu của xã hội. Điều này không chỉ được phản ánh qua điểm số các kỳ thi tốt nghiệp phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng mà còn qua kết quả điều tra xã hội học, qua các sân chơi truyền hình và dư luận xã hội. Mặt hạn chế nặng nề nhất của giáo dục môn Lịch sử là đại bộ phận học sinh không thích học môn này, coi như môn học của các sự kiện, năm tháng, môn học của trí nhớ, khô khan, nhàm chán. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn lịch sử ở bậc Trung học cơ sở, tôi rất băn khoăn về vấn đề học tập của các em. Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn lịch sử là cả một vấn đề. Làm sao để trò hứng thú, say mê, tích cực học tập? làm gì để khơi dậy niềm đam mê tìm hiểu, nghiên cứu ở trò?... Với những lí do trên tôi đã chọn đề tài: “ Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để nâng cao chất lượng môn Lịch sử lớp 9”. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Tôi chọn đề tài này với mục đích là mong muốn đóng góp một vài kinh nghiệm của mình cùng với các thầy cô, anh chị và các bạn đồng nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn lịch sử ở trường trung học cơ sở nói chung và môn lịch sử lớp 9 nói riêng; hình thành cho các em thói quen tư duy sáng tạo, phát huy tính tích cực, chủ động học tập, tìm tòi nghiên cứu, tích cực hợp tác nhằm tạo sự say mê, hứng thú, yêu thích môn lịch sử hơn từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn lịch sử trong nhà trường trung học cơ sở. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực “ lấy học sinh làm trung tâm” trong giờ học môn lịch sử lớp 9. 4 IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu 1.1. Khách thể: - Quá trình dạy học lịch sử ở trường THCS. 1.2. Đối tượng nghiên cứu: - Chương trình Lịch sử lớp 9 và việc dạy - học lịch sử của một số giáo viên và học sinh lớp 9 trên địa bàn huyện Yên Thế. - Các tài liệu về phương pháp dạy học tích cực và phương pháp dạy học liên quan đến đề tài. - Một số đề tài nghiên cứu của những người đi trước về các vấn đề liên quan đến đề tài. 2. Phạm vi nghiên cứu 2.1. Phạm vi: Giới hạn trong khối lớp 9 trường THCS Hoàng Hoa Thám. 2.2. Thời gian: Năm học 2018 - 2019. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn dạy học. - Phương pháp tổng hợp những kinh nghiệm của đồng nghiệp và của bản thân. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm. - Phương pháp tạo tình huống. - Phương pháp tích hợp với các môn học khác. - Phương pháp đàm thoại. - Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan. - Phương pháp trò chơi lịch sử. - Phương pháp áp dụng bản đồ tư duy. VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Đề tài sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng tối ưu, tích cực các hoạt động nhận thức của học sinh trung học cơ sở, đưa ra giải 5 pháp hiệu quả việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học lịch sử lớp 9. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm qua việc trải nghiệm thực tế giảng dạy của bản thân giúp học sinh hiểu đúng bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử, gây hứng thú, hấp dẫn, tạo niềm tin với môn học nhằm nâng cao chất lượng bộ môn. PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Như ta đã biết lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, đặc thù của môn học lịch sử là phải tiếp cận nhiều sự kiện lịch sử, với những vị anh hùng, những danh nhân lịch sử, không chỉ của dân tộc mà còn cả thế giới, từ cổ đại cho đến hiện đại. Khi học lịch sử yêu cầu các em phải nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học một cách chính xác, đầy đủ. Vì vậy, đòi hỏi các em phải cần cù, say mê, và chịu khó lĩnh hội kiến thức thì mới đạt được kết quả cao. Do đó, mà bộ môn lịch sử khó gây được hứng thú học tập ở học sinh. Mặt khác, môn lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ. Từ những hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ truyền thống của dân tộc, tự hào với những thành tựu dựng nước và giữ nước của tổ tiên, xác định nhiệm vụ hiện tại có thái độ đúng đắn đối với sự phát triển trong tương lai. Bên cạnh giáo trình được xem như phần cứng không thể thiếu, phương pháp dạy học là đường dẫn rất quan trọng kết nối phần cứng với sự lĩnh hội của người học. Vậy thế nào là phương pháp dạy học? Phương pháp dạy học được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa giáo viên và học sinh, trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học. Mỗi quan điểm dạy học có những phương pháp dạy học cụ thể phù hợp với nó. Tuy nhiên, cũng có những phương pháp dạy học cụ thể phù hợp với nhiều quan điểm dạy học. Để giúp các em học tốt, tiếp thu nhanh và nhớ lâu thì giáo viên phải đổi mới phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm phát huy tính tích 6 cực, tạo hứng thú học tập của các em, để các em tiếp thu kiến thức mà không bị gò ép. Vì vậy việc khơi dậy sự hứng thú học tập, phát triển ý thức, ý chí, năng lực bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp tự học là con đường phát triển tối ưu của giáo dục. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Môn lịch sử cần cho tình hình chính trị, kinh tế và văn hóa của đất nước ta hiện nay Muốn đánh giá bất cứ sự kiện, hiện tượng gì chúng ta cần đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể để xem xét. Về mặt chính trị, hiện nay rất nhiều nước xung quanh khu vực có tranh chấp trên biển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippin, đặc biệt là Trung Quốc, đang xem nhìn nhận lịch sử dân tộc vô cùng quan trọng. Ở Trung Quốc, môn Lịch sử được bắt buộc giảng dạy từ bậc tiểu học cho đến trung học để nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc, thức tỉnh tinh thần dân tộc khi bước vào công cuộc cải cách xây dựng đất nước, thậm chí còn coi lịch sử là vũ khí phục vụ cho âm mưu bành trướng và “trỗi dậy” của mình. Ở Việt Nam, trong tình hình chủ quyền biển đảo đang diễn ra phức tạp, chúng ta đang phải đối mặt với âm mưu lấn chiếm biển Đông ngày càng rõ ràng của Trung Quốc, thì lịch sử dân tộc trở nên vô cùng quan trọng, trong đó có lịch sử xác lập, đấu tranh và bảo vệ chủ quyền với Trường Sa và Hoàng Sa. Về mặt kinh tế, Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới, nhất là khi Hiệp định đối tác kinh tế xuyên châu Á Thái Bình Dương (TPP) được ký kết đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Một trong những khó khăn là hàng hóa Việt Nam sẽ bị cạnh tranh gay gắt với hàng hóa nước ngoài. Hàng hóa Việt có chất lượng ngang bằng, thậm chí hơn hàng ngoại, nhưng với tâm lý “sùng” hàng ngoại, chưa tin tưởng vào chất lượng sản phẩm hàng Việt của nhiều người, làm sao để “người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”? Hẳn rất nhiều người trong chúng ta vẫn còn nhớ bài học lịch sử về doanh nhân Bạch Thái Bưởi ở đầu thế kỷ 20. Khi mới bước vào nghề kinh doanh tàu 7 biển - một lĩnh vực bấy lâu đã bị tư sản Pháp và Hoa kiều độc quyền, tư sản Hoa kiều dùng đủ mọi cách để quyết chí đánh bại ông (như hạ giá, khuyến mãi, vốn họ nhiều), trong tình thế đó ông đã thay đổi chiến lược kinh doanh: đổi tên các con tàu của mình thành những tên gợi nhớ về cội nguồn như Hồng Bàng, Trưng Trắc, Đinh Tiên Hoàng..., đưa ra khẩu hiệu “Người ta thì đi tàu ta” Bạch Thái Bưởi đã tin rằng, sự nghiệp kinh doanh của mình diễn ra trên tổ quốc mình, xung quanh là đồng bào mình chắc chắn sẽ thắng lợi. Kết quả hành khách dần bỏ tàu Hoa mà đi tàu Việt. Bạch Thái Bưởi được mệnh danh là “Chúa sông Bắc kỳ”, một trong những người Việt Nam giàu nhất đầu thế kỷ 20. Ông đã sử dụng thành công tinh thần dân tộc như một vũ khí để chiến thắng đối thủ cạnh tranh của mình. Bài học của doanh nhân Bạch Thái Bưởi có lẽ vẫn rất mới với chúng ta ngày hôm nay. Về mặt văn hóa, toàn cầu hóa đang là xu hướng không thể đảo ngược với mọi quốc gia. Làm sao hòa nhập mà không hòa tan? Đây là bài toán khó đang đặt ra cho nhiều quốc gia không riêng gì Việt Nam. Hiện nay, một bộ phận giới trẻ Việt Nam có lối sống thực dụng, có xu hướng sùng văn hóa ngoại, cho rằng hầu như cái gì ở Tây, Nhật, Hàn cũng văn minh hơn, tốt hơn Việt Nam. Trên Internet thì đủ loại văn hóa phẩm xấu có thể bủa vây, cám dỗ giới trẻ. Chưa kể đến nhiều thế lực thù địch hiện nay coi văn hóa tư tưởng là “mũi đột phá” để làm xói mòn, lu mờ văn hóa dân tộc tiến tới tấn công vào chế độ chính trị, an ninh quốc gia. Vậy, hơn lúc nào hết cần trang bị cho học sinh một bản lĩnh văn hóa vững vàng để có thể vượt qua các cám dỗ, những xuyên tạc bóp méo sự thật, chắt lọc những điều tốt đẹp để hoàn thiện nhân cách con người vừa tiến bộ vừa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Mà lịch sử và văn hóa luôn gắn liền với nhau, văn hóa được bồi đắp, vun trồng từ lịch sử. 2. Thực trạng việc dạy và học lịch sử trong trường trung học cơ sở hiện nay Trong những năm gần đây, bộ môn lịch sử trong trường trung học cơ sở đã được chú ý hơn trước. Điều đó được thể hiện ở chỗ môn lịch sử được xếp ngang hàng với các môn học khác. Được tổ chức thi tuyển học sinh giỏi các cấp, 8 được đưa vào là một trong các bộ môn sẽ bốc thăm và chọn lựa (mỗi năm học một môn được chọn là môn thi thứ tư, bên cạnh Toán - Văn - Ngoại ngữ) để thi vào Trung học phổ thông, được cung cấp thêm các trang thiết bị và tài liệu tham khảo phục vụ cho việc dạy học. Tuy nhiên hơn 10 năm giảng dạy bộ môn này tôi thấy rằng việc dạy học môn lịch sử hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại nhất là việc phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh tuy đã được phổ biến, học tập bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì, đặc biệt trong mấy năm học vừa qua một số địa phương đã áp dụng thí điểm mô hình trường học mới VNEN ở bậc trung học cơ sở nhiều giáo viên các trường đã được dự giờ và vận dụng cách dạy học mới nhưng kết quả đã đạt được không đáng là bao. Điều đó đã dẫn đến chất lượng bộ môn lịch sử chưa cao. Một là, vẫn tồn tại quan niệm cố hữu cho rằng môn lịch sử là môn phụ nên việc học tập của học sinh chủ yếu mang tính đối phó, chiếu lệ, chỉ cần đạt trung bình là được và kể cả yếu cũng vẫn được lên lớp bởi môn lịch sử hiếm khi được lựa chọn để yêu cầu học sinh phải thi lại. Hai là, về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập tuy đã được đầu tư nhưng trên thực tế bộ đồ dùng do Bộ giáo dục phát hành là không đủ cho các bài dạy. Bên cạnh đó kênh chữ và các kí hiệu quá nhỏ không thể sử dụng được, thậm chí có một số bản đồ còn mâu thuẫn với kiến thức ở sách giáo khoa (Lược đồ cuộc khởi nghĩa Yên Thế ở lớp 8). Các tranh ảnh ở sách giáo khoa màu sắc còn đơn điệu và thiếu đồng bộ, chưa kể đến phim tài liệu thì hầu như không có. So với yêu cầu đặt ra của bộ môn và định hướng đổi mới phương pháp trong giai đoạn hiện nay thì có thể nói rằng: những phương tiện dạy học không đáp ứng được yêu cầu và không thể tạo nên hứng thú học tập cho học sinh. Trong suốt quá trình dạy và học môn lịch sử từ lớp 6 đến lớp 9 cả thầy và trò ở các nhà trường rất hiếm khi có điều kiện tham quan một di tích lịch sử, một phần do không có kinh phí, phần khác do học trò đông nên việc quản lí học sinh đi lại gặp nhiều vấn đề phức tạp. 9 Ba là, việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong môn học lịch sử còn nhiều hạn chế. Một trong những nguyên nhân là nội dung chương trình sách giáo khoa đưa ra nặng so với số tiết được phân phối (lớp 6 là 1 tiết/tuần, lớp 7 là 2 tiết/tuần, lớp 8 và lớp 9 là 1,5 tiết/tuần) và chưa cân đối (ví dụ Lịch sử lớp 8 quá nặng về kiến thức lịch sử thế giới, Lịch sử Việt Nam lớp 9 nói nhiều về miền Nam chống đế quốc Mỹ mà ít nói về miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa). Tài liệu tham khảo chưa phong phú; sách giáo khoa không có hình màu nào; vì lý do tài chính nhiều trường không thể tổ chức tham quan học tập ở di tích, bảo tàng hay tham gia các hoạt động sáng tạo trải nghiệm... nên học sinh ít thích học môn lịch sử. Trên sơ sở thực tế giảng dạy ở Trường trung học cơ sở Hoàng Hoa Thám và dự giờ ở một số trường học lân cận trên địa bàn huyện Yên Thế, tôi đã thấy được các mặt tích cực và hạn chế của giáo viên và học sinh trong việc dạy và học môn lịch sử: 2.1. Tích cực: 2.1.1 Về phía giáo viên: Đại đa số giáo viên đều cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thông qua các phương pháp dạy học như phương pháp trực quan, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp tổng hợp, phương pháp vấn đáp và thông qua sự trình bày sinh động giàu hình ảnh của giáo viên trong tường thuật, miêu tả, kể chuyện, hoặc nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử . Giáo viên đã tích cực hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm. Thông qua hoạt động này những bạn yếu kém được hoạt động một cách tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên và các bạn học sinh khá giỏi. Trong quá trình giảng dạy đã kết hợp nhuần nhuyễn các đồ dung dạy học, khai thác một cách triệt để các đồ dung và phương tiện dạy học như tranh ảnh, bản đồ, phim video 2.1.2 Về phía học sinh: 10 Đa số học sinh chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi mà giáo viên đặt ra. Đa số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đã đưa lại hiệu quả cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Học sinh yếu kém đã có nhiều cố gắng trong học tập và tích cực tham gia các hoạt động như thảo luận nhóm, đọc sách giáo khoa các em đã mạnh dạn tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên. 2.2. Hạn chế: 2.2.1. Về phía giáo viên: Vẫn còn một số ít giáo viên chưa mạnh dạn thay đổi cách thức tổ chức giờ học, chưa tích cực hóa hoạt động của học sinh, chưa thay đổi cách thức kiểm tra, đánh giá mà chỉ yêu cầu học sinh học thuộc một cách máy móc, trả lời câu hỏi thì nhìn vào sách giáo khoa hoàn toàn. Đa số giáo viên chưa tạo được tình huống hay chưa có câu hỏi nhận thức đầu giờ học để tạo sự hấp dẫn, thu hút đối với học sinh tìm hiểu kiến thức mới, điều này đã làm giảm bớt sự tập trung, chú ý bài học của học sinh. Một số câu hỏi giáo viên đặt ra chỉ mang tính chất có nêu vấn đề nhưng giáo viên lại trả lời ngay vì sợ học sinh suy nghĩ lâu ảnh hưởng đến thời gian của giờ học, điều đó vô tình đã tạo ra sự nhàm chán đối với các em. 2.2.2 Về phía học sinh: Các em chưa thấy được tầm quan trọng của bộ môn, chưa yêu thích môn lịch sử, nên ý thức học tập của các em chưa tốt. Học sinh còn xem nhẹ bộ môn có thói quen chỉ cần học thuộc lòng, không tự tìm tòi, nâng cao kiến thức nên học chỉ mang tính chất đối phó. Một số học sinh khi thảo luận nhóm chưa tích cực, tự giác vì còn ỉ lại các bạn khá giỏi. Một số học sinh còn đọc nguyên văn sách giáo khoa để trả lời câu hỏi, chưa biết chắt lọc kiến thức, chưa có sự độc lập tư duy vì thế giờ học chưa sôi nổi, hiệu quả chưa cao. 11 Chương II: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC THƯỜNG ĐƯỢC VẬN DỤNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Phương pháp dạy học nhóm * Bản chất Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp. Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của học sinh. * Quy trình thực hiện Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản: a. Làm việc toàn lớp : Nhập đề và giao nhiệm vụ - Giới thiệu chủ đề - Xác định nhiệm vụ các nhóm - Thành lập nhóm b. Làm việc nhóm - Chuẩn bị chỗ làm việc - Lập kế hoạch làm việc - Thoả thuận quy tắc làm việc - Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ - Chuẩn bị báo cáo kết quả. c. Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá - Các nhóm trình bày kết quả - Đánh giá kết quả. * Một số lưu ý 12 . Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học. Số lượng học sinh trong 1 nhóm nên từ 4- 6 học sinh. . Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung. . Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học hoặc cũng có thể tìm hiểu một chủ đề mới. . Các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm: - Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không? - Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau? - Học sinh đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa? - Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào? - Cần chia nhóm theo tiêu chí nào? - Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào? 2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình * Bản chất Nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp sử dụng một câu chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề. Đôi khi nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện trên video hay một băng catset mà không phải trên văn bản viết. * Quy trình thực hiện Các bước nghiên cứu trường hợp điển hình có thể là: - Học sinh đọc (hoặc xem, hoặc nghe) về trường hợp điển hình - Suy nghĩ về nó (có thể viết một vài suy nghĩ trước khi thảo luận điều đó với người khác). - Thảo luận về trường hợp điển hình theo các câu hỏi hướng dẫn của giáo viên. * Một số lưu ý 13 - Vì trường hợp điển hình được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nên nó phải tương đối phức tạp, với các tuyến nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản. - Trường hợp điển hình có thể dài hay ngắn, tuỳ từng nội dung vấn đề song phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với trình độ học sinh và thời lượng cho phép. - Tùy từng trường hợp, có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một trường hợp điển hình hoặc phân công mỗi nhóm nghiên cứu một trường hợp khác nhau. 3. Phương pháp giải quyết vấn đề * Bản chất Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học đặt ra trước học sinh các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề , kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề. * Quy trình thực hiện - Xác định, nhận dạng vấn đề hoặc tình huống - Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề hoặc tình huống đặt ra - Liệt kê các cách giải quyết có thể có - Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị) - So sánh kết quả các cách giải quyết - Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất - Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn - Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác. * Một số lưu ý . Các vấn đề hoặc tình huống đưa ra để học sinh xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau: - Phù hợp với chủ đề bài học 14 - Phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh - Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của học sinh - Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của học sinh - Vấn đề hoặc tình huống cần có độ dài vừa phải - Vấn đề hoặc tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho học sinh nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề. . Tổ chức cho học sinh giải quyết, xử lí vấn đề hoặc tình huống cần chú ý: - Các nhóm học sinh có thể giải quyết cùng một vấn đề, tình huống hoặc các vấn đề, tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động. - Học sinh cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề. - Cần sử dụng phương pháp động não để học sinh liệt kê các cách giải quyết có thể có. - Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi học sinh có thể giống hoặc khác nhau. 4. Phương pháp đóng vai *Bản chất Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “ làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. `Đây là phương pháp nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy. * Quy trình thực hiện Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau : - Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho từng nhóm. Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm. 15 - Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai. - Các nhóm lên đóng vai. - Lớp thảo luận, nhận xét về cách ứng xử và cảm xúc của các vai diễn; về ý nghĩa của các cách ứng xử. - Giáo viên kết luận, định hướng cho học sinh về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho. * Một số lưu ý - Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học. - Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép - Tình huống phải có nhiều cách giải quyết - Tình huống cần để mở để học sinh tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp; không cho trước “ kịch bản”, lời thoại. - Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai - Phải dành thời gian phù hợp cho học sinh thảo luận xây dựng kịch bản và chuẩn bị đóng vai - Cần quy định rõ thời gian thảo luận và đóng vai của các nhóm - Trong khi học sinh thảo luận và chuẩn bị đóng vai, giáo viên nên đi đến từng nhóm lắng nghe và gợi ý, giúp đỡ học sinh khi cần thiết - Các vai diễn nên để học sinh xung phong hoặc tự phân công nhau đảm nhận - Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát cùng tham gia. - Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóng vai. 5. Phương pháp trò chơi * Bản chất Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó. 16 *Quy trình thực hiện - Giáo viên phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho học sinh - Chơi thử ( nếu cần thiết) - Học sinh tiến hành chơi - Đánh giá sau trò chơi - Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi * Một số lưu ý - Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học, đồng thời phải không gây nguy hiểm cho học sinh. - Học sinh phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi. - Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi. - Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi. - Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm chán cho học sinh. - Sau khi chơi, giáo viên cần cho học sinh thảo luận để nhận ra ý nghĩa giáo dục của trò chơi. 6. Dạy học theo dự án ( Phương pháp dự án) * Bản chất Dạy học theo dự án còn gọi là phương pháp dự án, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao, từ việc lập kế hoạch đến việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện dự án. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm. Kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được. * Quy trình thực hiện 17 - Bước 1: Lập kế hoạch + Lựa chọn chủ đề + Xây dựng tiểu chủ đề + Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập - Bước 2: Thực hiện dự án + Thu thập thông tin + Thực hiện điều tra + Thảo luận với các thành viên khác + Tham vấn giáo viên hướng dẫn - Bước 3: Tổng hợp kết quả + Tổng hợp các kết quả + Xây dựng sản phẩm + Trình bày kết quả + Phản ánh lại quá trình học tập * Một số lưu ý . Các dự án học tập cần góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội; có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành. . Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh. . Học sinh được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. . Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp. . Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm. . Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết; sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu. 18 Chương III. VẬN DỤNG LINH HOẠT MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 9 1. Mang âm nhạc vào dạy Sử Khi nhận thấy học sinh (HS) không còn hứng thú với những con số, các bản đồ với quá nhiều ký hiệu quân ta, quân địch, tiến công, rút chạy Tiết học Sử dần dần trở thành nặng nề với các em, thay vì sử dụng các phương pháp truyền thông, giáo viên có thể mạnh dạn đưa âm nhạc vào những tiết dạy của mình để tăng sự hứng thú, hào hứng cho các em. Các giai đoạn của lịch sử nước nhà, các anh hùng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam và hình ảnh của Bác Hồ vĩ đại đều có trong các tác phẩm âm nhạc nên giáo viên có thể dành thời gian lựa chọn bài hát sao cho phù hợp với nội dung bài dạy. Giáo viên cần sắp xếp danh sách các bài hát sao cho đúng với thời điểm lịch sử mà kiến thức trong bài có nhắc đến. Rồi nghe lại từng bài hát để tìm ra đoạn, câu hát tạo ấn tượng nhiều nhất, sâu lắng nhất để đưa vào bài giảng. Một trong những điều quan trọng đó là tính toán thời điểm và thời lượng khi cho học sinh lắng nghe. Có khi sử dụng cả bài hát, có khi chỉ là một đoạn nhưng lại có một giá trị cao trong tiếp nhận kiến thức ở các em. Thay vì giảng giải lý thuyết, giáo viên để các em tự cảm nhận và rút ra bài học về tư tưởng. Ví dụ: - Dạy bài Chiến thắng Điện Biên Phủ, các em được nghe bản "Hò kéo pháo" rồi "Chiến thắng Điện Biên". Nhịp điệu dồn dập, phấn khởi làm tái hiện cả một giai đoạn hào hùng “Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Ngay cả trong lời bài hát cũng có những chi tiết mà bài học lưu ý, như phương châm tác chiến là “đánh chắc ta tiến lên, lực lượng như bão táp, quân thù mấy cũng phải tan” Kết bài, giáo viên có thể giới thiệu hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tiếng nhạc “Núi sông bừng lên, đất nước ta sáng ngời, cánh đồng Điện Biên cờ chiến thắng tưng bừng bay trên trời”... giúp học sinh như sống lại chiến thắng hào hùng đó của dân tộc. - Dạy bài Cách Mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, giáo viên có thể cho học sinh nghe lại giọng nói của Chủ tịch 19 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 kết hợp với nghe bài hát Mỗi bước đi thêm yêu Tổ Quốc: “Trên quảng trường Ba Đình hai mươi năm trước, vọng lời Bác Hồ tuyên ngôn dựng nước. Nước Việt Nam ta, từ trong gian khổ sinh ra. Tầm vông đứng dậy quê ta, đi theo tiếng gọi của Đảng. Ta đã đạp bằng sóng gió chông gai, đã viết nên trang sử mới .”. Học sinh nhớ mãi sự kiện Bác Hồ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945. Không chỉ giai đoạn lịch sử từ 1930 đến nay mới có thể đưa nhạc vào bài giảng, một số chiến thắng lẫy lừng khác từ xa xưa cũng có thể tìm được các bài hát tương ứng có giá trị cao như chiến thắng Bạch Đằng với bài Bạch Đằng Giang của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước chẳng hạn “Việc mang theo thiết bị như loa, máy tính và chọn bài hát cho phù hợp về thời lượng và nội dung tuy có mất công một chút nhưng là một niềm vui của giáo viên khi thấy các em náo nức đón nghe những bài hát truyền thống luôn có ý nghĩa với môn học của mình. Tôi đã áp dụng khá nhiều phương pháp này ở các khối lớp do bản thân phụ trách. Niềm vui như được nhân lên khi có học sinh chia sẻ rằng: “Em thích học Sử. Những bài hát cô giáo mang đến cho chúng em thật gần gũi với bài học và thật hay”. 2. Dạy học Lịch sử bằng cách tổ chức các cuộc thi viết, kể chuyện Sau mỗi một giờ học lịch sử, giáo viên có thể có một bài tập vận dụng nhỏ cho học sinh dưới hình thức thi viết. Yêu cầu của giáo viên cũng chỉ đơn giản, ví dụ: Kể một câu chuyện em biết về Bác Hồ thời chống Pháp; Hãy viết một đoạn văn ngắn chừng 7- 10 câu, bày tỏ suy nghĩ của em về ngày Quốc khánh 2-9.... Học sinh có thể viết và sau đó giáo viên đánh giá, cùng cả lớp bình chọn bài viết tốt, trao thưởng và đưa bài của con lên bảng tin của lớp. Hoặc với việc kể chuyện, giáo viên có thể cho học sinh kể chuyện thay cho việc kiểm tra bài cũ để tạo cảm hứng cho các em vào đầu giờ học. Việc tổ chức những hoạt động này, mục đích giúp học sinh ghi nhớ, khắc sâu một cách tự nhiên kiến thức, vừa kích thích cảm xúc của học sinh, vừa tạo ra động lực để học sinh tự tìm hiểu về lịch sử. 20
File đính kèm:
van_dung_cac_phuong_phap_day_hoc_tich_cuc_de_nang_cao_chat_l.doc



