Tài liệu hướng dẫn xây dựng xã hội học tập

pdf115 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 12/02/2026 | Lượt xem: 24 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài liệu hướng dẫn xây dựng xã hội học tập, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 
 VỤ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 
 TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN 
XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 
 (Tài liệu lưu hành nội bộ ) 
 Hà Nội – 9/2022 
 2 
 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 
CB Cán bộ 
CBQL Cán bộ quản lý 
CC Công chức 
CDHT Công dân học tập 
CNTT Công nghệ thông tin 
GDCQ Giáo dục chính quy 
GDĐT Giáo dục và đào tạo 
GDTX Giáo dục thường xuyên 
HTSĐ Học tập suốt đời 
NLĐ Người lao động 
TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên 
TTHTCĐ Trung tâm học tập cộng đồng 
UBND Ủy ban nhân dân 
VC Viên chức 
XHCN Xã hội chủ nghĩa 
XHHGD Xã hội hóa giáo dục 
XHHT Xã hội học tập 
XMC Xóa mù chữ 
 3 
 MỞ ĐẦU 
Giáo dục và đào tạo có sứ mạng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; 
là nhân tố quan trọng hàng đầu tạo ra những giá trị, hoàn thiện nhân cách con người; là 
nhân tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã 
hội. Vì vậy, GDĐT có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân tố quyết định sự phát 
triển bền vững của đất nước. 
Xã hội học tập là một triết lý giáo dục được coi là chìa khóa cho sự phát triển kinh tế 
của quốc gia. Ở Việt Nam, chủ trương xây dựng và phát triển XHHT được Đảng xác 
định từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân 
dân bằng nhiều hình thức GDCQ và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, 
cả nước trở thành một XHHT”. 
Xây dựng XHHT vừa là một nhiệm vụ cấp bách, vừa là một yêu cầu chiến lược, nhiệm 
vụ cơ bản, lâu dài của nền giáo dục nước nhà, quyết định thành công của sự nghiệp công 
nghiệp hóa, hiện đại hóa; quyết định trong việc biến đổi nền kinh tế Việt Nam thành một 
nền kinh tế tri thức, góp phần đưa xã hội Việt Nam thành một xã hội trí tuệ, hiện đại, 
hội nhập kinh tế thế giới. 
Nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng XHHT là giúp mọi người bất kể độ tuổi, nghề nghiệp, 
địa vị xã hội đều thấy cần phải học và học suốt đời, xem học tập là một nhu cầu của 
cuộc sống, như cơm ăn, áo mặc. XHHT tạo môi trường học tập đáp ứng cao nhất nhu 
cầu học tập ban đầu và học suốt đời của mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi, trong đó 
đặc biệt chú ý nhu cầu học tập của người cao tuổi, người khuyết tật, người thiệt thòi về 
giáo dục. XHHT tạo điều kiện cho mọi người có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, học bằng 
nhiều cách... theo nguyên tắc tự học là chính. 
Triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban 
hành các đề án thực hiện nhiệm vụ xây dựng XHHT giai đoạn 2005 – 2010, giai đoạn 
2012 - 2020. Kết quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng XHHT cho thấy các cấp ủy Đảng, 
chính quyền và đoàn thể các địa phương trong cả nước đã quan tâm, chỉ đạo triển khai 
thực hiện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, như: Ban hành kế hoạch và thành lập 
Ban chỉ đạo; ban hành chỉ thị, nghị quyết của tỉnh/thành ủy, hội đồng nhân dân tỉnh/thành 
phố; tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, tác dụng của HTSĐ, xây dựng XHHT; 
xây dựng các mô hình học tập; tổ chức nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến kiến 
thức theo đối tượng phục vụ nhu cầu HTSĐ trong mọi tầng lớp nhân dân. 
Trên cơ sở những kết quả và bài học kinh nghiệm được tổng kết trong quá trình xây 
dựng XHHT giai đoạn 2005-2020, tiếp tục xây dựng XHHT dựa trên nền tảng phát triển 
đồng thời, gắn kết và liên thông giữa GDCQ với GDTX, liên thông giữa các cấp học, 
trình độ đào tạo; vận dụng mọi hình thức giáo dục, đào tạo tiên tiến, hiệu quả, phù hợp 
với mục tiêu giáo dục; ứng dụng công nghệ số và dạy học trực tuyến trong tổ chức các 
hoạt động giảng dạy và học tập góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở 
 4 
GDĐT đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội; mọi công dân có trách nhiệm và quyền lợi 
được học tập thường xuyên, học suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để trở thành công 
dân số, CDHT toàn cầu; xây dựng môi trường HTSĐ tại nơi làm việc đáp ứng các yêu 
cầu về năng suất, hiệu quả, chuẩn mực đạo đức và tác phong văn hóa nghề nghiệp; khơi 
dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và 
khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tạo đột phá trong đổi mới căn bản, 
toàn diện GDĐT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát 
triển trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quôc tế sâu 
rộng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. 
Ngày 30/7/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1373/QĐ-TTg phê duyệt 
Đề án “Xây dựng XHHT giai đoạn 2021-2030” xác định 04 mục tiêu cụ thể theo từng 
giai đoạn và 06 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ GDĐT là 
cơ quan thường trực, giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức triển khai; các bộ, ngành, các 
địa phương căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, chương trình triển khai thực 
hiện. 
Để cung cấp những nội dung cơ bản về xây dựng XHHT, Vụ GDTX, Bộ GDĐT biên 
soạn tài liệu “Hướng dẫn xây dựng XHHT”. Tài liệu nhằm hỗ trợ cung cấp cho cán bộ 
quản lý GDTX các cấp, cán bộ công tác trong lĩnh vực khuyến học, khuyến tài, xây 
dựng XHHT ở các tỉnh/thành phố những kiến thức, thông tin cơ bản về chủ trương của 
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về xây dựng xã hội học tập; cách thức tổ chức 
xây dựng và nhân rộng các mô hình học tập để có thể vận dụng vào thực tiễn công tác. 
Cấu trúc tài liệu gồm 05 chương: 
Chương 1: Một số vấn đề chung về HTSĐ và xây dựng XHHT. 
Chương 2: Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về 
xây dựng xã hội học tập. 
Chương 3: Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác xây dựng XHHT. 
Chương 4: Hướng dẫn đánh giá kết quả xây dựng XHHT ở Việt Nam 
Chương 5: Giới thiệu quy trình xét khen thưởng cho các tập thể, cá nhân tiêu 
biểu, xuất sắc trong công tác xây dựng XHHT 
Xin bày tỏ lời cảm ơn trân trọng tới các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực đã hỗ trợ cho 
việc biên soạn và hoàn thiện tài liệu. Xin cảm ơn các địa phương đã tham gia đóng góp 
những ý kiến quý báu để tài liệu được hoàn chỉnh hơn. 
Mặc dù nhóm tác giả đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót nhất 
định trong quá trình biên soạn tài liệu. Rất mong tiếp tục nhận được những ý kiến trao 
đổi, góp ý của các cá nhân, đơn vị khi sử dụng tài liệu. 
 Trân trọng cảm ơn! 
 5 
 MỤC LỤC 
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỌC TẬP SUỐT ĐỜI VÀ 
XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP ...... 07 
I. Học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập và một số thuật ngữ, quan 
niệm liên quan .. . . 07 
1. Giáo dục chính qui và không chính quy ........ 07 
2. Học tập suốt đời, giáo dục suốt đời .. 08 
3. Xã hội học tập và xây dựng xã hội học tập . .. 10 
II. Xây dựng xã hội học tập với bốn trụ cột giáo dục thế kỷ 21 và các mục 
tiêu phát triển bền vững (SDG) ..... 12 
1. Xã hội học tập và bốn trụ cột giáo dục thế kỷ 21 .. 12 
2. Xây dựng xã hội học tập và các mục tiêu phát triển bền vững ..... 14 
III. Các mô hình học tập suốt đời .............. 16 
1. Một số mô hình học tập suốt đời trên thế giới 16 
2. Mô hình học tập suốt đời ở Việt Nam giai đoạn 2021-2030 .. 20 
Chương 2. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT 
CỦA NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP .. 28 
I. Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về xây dựng 
xã hội học tập giai đoạn 2005-2020 28 
1. Chủ trương của Đảng về xây dựng xã hội học tập . 28 
2. Chính sách pháp luật của Nhà nước về xây dựng xã hội học tập . 29 
3. Kết quả thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước về xây dựng xã hội học 
tập ............. 29 
II. Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về xây dựng 
xã hội học tập giai đoạn 2021-2030 .. .. 32 
1. Kết luận số 49-KL/TW ngày 10/5/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng 
khóa XII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X 
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, 
xây dựng xã hội học tập........................................................................................ 32 
2. Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 25/5/2021 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh 
công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021- 
2030 . . 35 
3. Quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 30/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê 
duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030” . 35 
Chương 3: HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÂY 
DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP .. . 41 
I. Hướng dẫn chung 41 
1. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng xã hội học tập 41 
 6 
2. Triển khai các hoạt động thúc đẩy học tập suốt đời, xây dựng xã hội học 
tập......................................................................................................................... 42 
3. Bảo đảm các điều kiện cho việc thực hiện xây dựng xã hội học tập................ 42 
4. Tăng cường sự tham gia và phối hợp của các lực lượng trong xã hội trong 
xây dựng, nhân rộng các mô hình học tập............................................................. 43 
II. Hướng dẫn cụ thể .. . 45 
1. Chỉ đạo công tác xây dựng xã hội học tập của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp 
huyện ... . 45 
2. Tổ chức thực hiện công tác xây dựng xã hội học tập của các sở, ban ngành 
liên quan............................................................................................................. 46 
3. Phối hợp tổ chức thực hiện công tác xây dựng xã hội học tập của Mặt trận Tổ 
quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và tổ chức xã 
hội 49 
Chương 4: HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XÂY DỰNG XÃ HỘI 
HỌC TẬP ... 53 
I. Hướng dẫn chung ... 53 
II. Hướng dẫn đánh giá đơn vị học tập cấp tỉnh, cấp huyện .. 54 
1. Thực hiện tự đánh giá đơn vị học tập cấp huyện, cấp tỉnh như thế nào?.......... 54 
2. Ủy ban nhân dân huyện và Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào 55 
tạo tổ chức kiểm tra, đánh giá Đơn vị học tập cấp huyện, cấp tỉnh như thế nào?... 
III. Hướng dẫn đánh giá “Cộng đồng học tập” cấp xã 57 
1. Xã tổ chức tự đánh giá “Cộng đồng học tập” cấp xã như thế nào?.................. 57 
2. Ủy ban nhân dân huyện tổ chức kiểm tra, đánh giá “Cộng đồng học tập” cấp 
xã như thế nào?.................................................................................................... 63 
Chương 5: GIỚI THIỆU QUY TRÌNH XÉT KHEN THƯỞNG CHO CÁC 
TẬP THỂ, CÁ NHÂN TIÊU BIỂU, XUẤT SẮC TRONG CÔNG TÁC 
XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP . 68 
I. Quy định chung .. 68 
II. Quy định cụ thể . 68 
III. Tổ chức thực hiện 70 
PHỤ LỤC ... 71 
Phụ lục 1: MỘT SỐ THUẬT NGỮ, KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN HỌC 
TẬP SUỐT ĐỜI, XÃ HỘI HỌC TẬP . 71 
Phụ lục 2: VĂN BẢN CHỈ ĐẠO ĐÁNH GIÁ CÁC MÔ HÌNH HỌC TẬP GIAI 
ĐOẠN 2021-2030 . 78 
Phụ lục 3: KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC 
XÂY DỰNG VÀ NHÂN RỘNG MÔ HÌNH HỌC TẬP . 109 
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH................................................................... 114 
 7 
 Chương 1 
 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỌC TẬP SUỐT ĐỜI VÀ 
 XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 
I. HỌC TẬP SUỐT ĐỜI, XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP VÀ MỘT SỐ THUẬT 
NGỮ, QUAN NIỆM LIÊN QUAN 
Học tập suốt đời và xã hội học tập là những lĩnh vực có phạm vi bao phủ rộng, mang 
tính liên ngành, đa ngành, và có mối quan hệ chặt chẽ với các quá trình giáo dục, học 
tập cả trong và ngoài nhà trường. Có nhiều thuật ngữ, khái niệm có mối quan hệ với 
HTSĐ và XHHT, như học tập và giáo dục của người lớn, học tập chính qui, học tập 
không chính qui, học tập phi chính qui, giáo dục thường xuyên (xin xem thêm Phụ 
lục 1 - Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến HTSĐ, XHHT). Phần này đề cập tới 
hai thuật ngữ giáo dục chính qui và giáo dục không chính qui, với tư cách là hai trong 
số những trụ cột quan trọng, có tính bao trùm của HTSĐ và xây dựng XHHT, trước khi 
làm rõ về bản chất các quan niệm HTSĐ, XHHT và xây dựng XHHT. 
1. Giáo dục chính quy và không chính quy 
Giáo dục chính qui 
Khái niệm ‘giáo dục chính qui’ (formal education) nói tới hệ thống giáo dục có tổ chức, 
được cấu trúc theo thứ bậc chặt chẽ, theo các năm học từ tiểu học cho đến đại học, bao 
gồm cả các chương trình giáo dục, đào tạo kĩ thuật và chuyên nghiệp toàn thời gian, và 
thường dẫn tới văn bằng, chứng chỉ. Giáo dục chính qui trong nhà trường là một trong 
những thành tố quan trọng của quá trình HTSĐ, xây dựng XHHT. 
Giáo dục không chính qui 
‘Giáo dục không chính qui’ (nonformal education) bao gồm các hoạt động giáo dục có 
tổ chức, được tiến hành bên ngoài hệ thống giáo dục chính qui, nhằm phục vụ các nhu 
cầu học tập khác nhau của nhiều nhóm đối tượng đa dạng trong xã hội, có thể dẫn tới 
hoặc không dẫn tới văn bằng, chứng chỉ. 
Như vậy, giáo dục không chính qui (GDKCQ) bao gồm tất cả các chương trình giáo dục 
cho những đối tượng ngoài nhà trường, từ xoá mù chữ, sau xoá mù chữ, bổ túc văn hoá 
cho đến cao đẳng, đại học tại chức và các chương trình giáo dục không cấp lớp, giáo 
dục chuyên đề nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi người dân trong cộng 
đồng như giáo dục dân số, đời sống gia đình, sức khoẻ, dinh dưỡng, kĩ năng sống, 
Các chương trình GDKCQ có thể do nhiều đơn vị, lực lượng đa dạng trong xã hội như 
các ban, ngành, đoàn thể, dự án, các phương tiện thông tin đại chúng tiến hành... nhằm 
đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu học tập đa dạng của các nhóm thanh thiếu niên và người 
lớn khác nhau. 
 8 
Ở Việt Nam, khái niệm GDKCQ được sử dụng theo phạm vi hẹp hơn, và thường được 
đồng nhất với giáo dục thường xuyên (GDTX), chủ yếu gồm các chương trình giáo dục 
do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lí, chỉ đạo (như chương trình xóa mù chữ, giáo dục tiếp 
tục sau khi biết chữ, bổ túc văn hóa, chương trình giáo dục tương đương trong các Trung 
tâm GDTX, chương trình đáp ứng nhu cầu người học ), phần lớn hướng đến các nhóm 
đối tượng không có điều kiện đi học hoặc phải bỏ học hệ chính quy (xin xem thêm về các 
khái niệm khác liên quan đến HTSĐ và XHHT trong Phụ lục 1). 
Với những đặc điểm và tính chất như trên, có thể thấy cả GDCQ và GDKCQ đều là những 
thành tố quan trọng đóng góp vào quá trình xây dựng XHHT và thúc đẩy mỗi cá nhân, tổ 
chức tham gia HTSĐ. 
2. Học tập suốt đời, giáo dục suốt đời 
HTSĐ không đơn thuần nói đến một hoạt động cụ thể của mỗi cá nhân hay tổ chức, mà 
còn hàm ý một tư tưởng, một triết lí về việc học: Học tập là cả một quá trình liên tục, 
năng động, xuyên suốt mọi giai đoạn, mọi lứa tuổi trong đời mỗi con người, nhằm phục 
vụ cho nhu cầu của cá nhân, gia đình, đồng thời đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã 
hội. 
HTSĐ là xu thế phát triển tất yếu ở hầu hết các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. 
Kiến thức học trong nhà trường chính quy, kể cả đại học, sau đại học không đủ để dùng 
trong suốt cuộc đời. Để sống, làm việc và tồn tại trong thời đại ngày nay, học thường 
xuyên, học suốt đời là cần thiết và cấp bách. Học tập ngày nay không chỉ diễn ra một 
lần, trong một giai đoạn nào đó, mà diễn ra trong suốt cuộc đời dưới nhiều hình thức, 
phương thức khác nhau: chính qui, không chính qui và phi chính qui. Việc học một lần 
trong đời hoặc chỉ học chính qui chỉ thích hợp với xã hội khép kín, ít thay đổi. Trong 
thời đại ngày nay, ranh giới giữa học tập và lao động ngày càng mờ dần, giữa thời gian 
học và thời gian làm việc không còn sự phân biệt rạch ròi: vừa làm, vừa học, học thông 
qua công việc, học để làm việc ngày càng hiệu quả hơn. 
Theo định nghĩa của UNESCO: HTSĐ bao gồm tất cả các hoạt động học tập xuyên suốt 
cuộc sống của một cá nhân từ khi chào đời đến lúc lìa đời, được thực hiện dưới hình 
thức GDCQ, không chính quy và phi chính quy. Nói cách khác, HTSĐ là việc học dưới 
bất kể hình thức nào diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi người, từ lúc mới sinh cho tới khi 
về già. 
Trong bối cảnh mới của thời đại, HTSĐ thế kỉ XXI có nhiều thay đổi, nhiều đặc trưng 
mới, trong đó phải kể tới 3 đặc trưng cơ bản sau đây: 
Một là, HTSĐ thế kỉ XXI là nhu cầu của tất cả mọi người, ở mọi độ tuổi, chứ không chỉ 
là nhu cầu của một số người hay ở một độ tuổi nhất định nào đó. 
Hai là, mục đích HTSĐ thế kỉ XXI có nhiều thay đổi - ngày càng đi theo hướng hành 
dụng và thiết thực hơn. HTSĐ ngày nay không phải vì mục đích tự thân, không phải chỉ 
 9 
để biết, chỉ để có bằng cấp, chứng chỉ. HTSĐ ngày nay chủ yếu học để có kiến thức, có 
năng lực thực sự, để đáp ứng “nhu cầu cần gì học nấy”, học để làm việc, kiếm sống, để 
có thể tồn tại/thích nghi trong một xã hội luôn thay đổi và để có thể cùng chung sống 
trong gia đình, cộng đồng trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập; học để nâng cao thu 
nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và cộng đồng. HTSĐ phải 
có tác dụng thực sự đối với mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. 
Ba là, HTSĐ thế kỉ XXI có phạm vi bao phủ rộng, được hiểu là bất cứ quá trình, hoạt 
động nào đem lại sự thay đổi về kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi của cá nhân. 
HTSĐ có thể diễn ra ra ở mọi lúc, mọi nơi, dưới nhiều nội dung, hình thức và phương 
thức khác nhau miễn là đem lại sự thay đổi về kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi của 
cá nhân. HTSĐ có thể diễn ra trong trường/ lớp, tại gia đình, tại nơi làm việc, tại thư 
viện, bảo tàng, nhà văn hoá, qua tham quan, xem triễn lãm HTSĐ có thể diễn ra qua 
cuộc sống, qua lao động thực tiễn, qua giao tiếp, trao đổi, qua đọc sách, báo, nghe đài, 
xem tivi, qua mạng, qua các buổi họp, các buổi sinh hoạt nhóm, câu lạc bộ, các buổi nói 
chuyện, các buổi mít tinh, v.v... HTSĐ có thể có hoặc không có sự hướng dẫn; có hoặc 
không có mục đích trực tiếp đến việc học tập; có hoặc không có kế hoạch - miễn là hoạt 
động đó đem lại sự thay đổi về kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi của cá nhân. Như 
vậy, HTSĐ không có nghĩa chỉ là đi học, chỉ là đến một ngôi trường, một lớp học cụ 
thể, không có nghĩa chỉ đi học cao đẳng, đại học hay học nghề. 
Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và sự hỗ trợ của công nghệ hiện nay, mọi người 
có thể học tập gần như mọi nơi, mọi lúc, trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Nói cách khác, 
các khía cạnh nội dung, phương thức, phương tiện, địa điểm, thời gian trong HTSĐ 
đều rất linh hoạt và đa dạng. 
- Nội dung HTSĐ thế kỉ XXI ngày càng phong phú, không chỉ học chữ, học văn hoá, 
 học đại học, mà chủ yếu học kiến thức, học nghề, học kĩ năng sống cần thiết để 
 làm việc, tồn tại và nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và cộng 
 đồng. 
- Phương thức HTSĐ thế kỉ XXI ngày càng mềm dẻo, linh hoạt: học tập trung – học 
 tại chức; học chính quy – học không chính quy – học phi chính quy; học trực tiếp 
 tại lớp – học từ xa (trực tuyến/e-learning, học qua đài, tivi; tự học có hướng dẫn 
- Phương tiện HTSĐ ngày càng đa dạng, hiện đại và thuận tiện nhờ sự phát triển 
 mạnh mẽ của KHKT-CN, đặc biệt là công nghệ thông tin. 
- Địa điểm HTSĐ có thể là bất cứ nơi nào, không chỉ ở trường lớp, ở các cơ sở giáo 
 dục hay ở TTHTCĐ. HTSĐ có thể diễn ra tại các thiết chế văn hóa-giáo dục khác, 
 qua các buổi tham quan, du lịch, nói chuyện, tọa đàm ngẫu nhiên, qua các hoạt 
 động lao động sản xuất, vui chơi, văn hóa, thể dục thể thao; tại cơ quan, tại nhà, 
 10 
- Thời gian HTSĐ là bất cứ lúc nào miễn là thuận tiện, phù hợp với thời gian và 
 công việc của từng cá nhân. 
Với quan niệm rộng như vậy về HTSĐ thì việc xây dựng được mô hình “Gia đình học 
tập”, “Dòng họ học tập” và “Cộng đồng học tập”, “Thành phố học tập” nói riêng và xây 
dựng XHHT nói chung mới trở thành hiện thực. Ngược lại, nếu chỉ khuyến khích, công 
nhận những người đến trường, đến lớp, đi học cao đẳng, đại học và chỉ những người đến 
học chuyên đề tại TTHTCĐ thì việc bảo đảm cho tất cả mọi người được HTSĐ sẽ khó 
khăn và không khả thi về cơ sở vật chất (trường, lớp ), về kinh phí tổ chức lớp, cũng 
như về đội ngũ báo cáo viên/giảng viên. 
Từ phạm vi HTSĐ rộng lớn và nội dung HTSĐ đa dạng như vậy, đồng thời diễn ra trong 
suốt cuộc đời, việc tạo cơ hội HTSĐ không chỉ là trách nhiệm của ngành giáo dục, mà 
là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các lực lượng, các tổ chức, đơn vị, doanh 
nghiệp, của gia đình và cộng đồng. Kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế 
giới, kể cả các nước có kinh tế phát triển cho thấy không một ngành nào, tổ chức nào có 
thể đủ sức tạo các cơ hội học tập đa dạng như vậy cho tất cả mọi người, trong suốt cuộc 
đời. 
Giáo dục suốt đời 
Một khái niệm đôi khi được dùng với ý nghĩa tương tự hoặc thay thế cho HTSĐ là ‘giáo 
dục suốt đời’ (GDSĐ). GDSĐ có một số điểm tương đồng với HTSĐ ở khía cạnh nhấn 
mạnh vào tính chất thường xuyên, liên tục, mọi nơi, mọi lúc của việc học, hoặc ở vai 
trò, tác động của học tập trong suốt đời người Tuy nhiên, nếu như HTSĐ chú trọng 
tới vị trí trung tâm, chủ động của người học, thì GDSĐ quan tâm hơn đến vai trò, trách 
nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân cung cấp cơ hội và môi trường, điều kiện học 
tập cho người học. HTSĐ chủ yếu là quá trình và trải nghiệm mang tính cá nhân, hướng 
đến sự tiến bộ và phát triển của cá nhân, còn GDSĐ hàm ý quá trình tổ chức học tập – 
đào tạo, các mục tiêu, sự thay đổi mang tính thể chế và vĩ mô của nhà cung cấp giáo 
dục, hướng tới đạt được những mục đích lớn lao cho cả một cộng đồng, xã hội1. Như 
vậy, để mỗi người có thể HTSĐ một cách thuận lợi, thì cần có các tổ chức, thể chế 
GDSĐ sẵn sàng cung cấp các cơ hội học tập phù hợp nhất cho mọi người học. 
3. Xã hội học tập và xây dựng xã hội học tập 
XHHT và xây dựng XHHT là vấn đề ngày càng được đề cập rộng rãi ở Việt Nam trong 
những năm gần đây, nhất là sau Đại hội IX (2001). Tuy nhiên, ý tưởng về XHHT đã 
được UNESCO nêu lên lần đầu tiên từ đầu những năm 70 thế kỉ XX trong báo cáo nổi 
tiếng “Học tập để tồn tại” (1972) của Faure. 
1 Theo “Phân biệt HTSĐ và GDSĐ”, S. Billett, Tạp chí Adult Learning, Knowledge and Innovation, 2 (1), 2018. 
 11 
 Một xã hội được coi là XHHT bao gồm rất nhiều đặc trưng, tiêu chí, trong đó có 3 đặc 
 trưng cơ bản sau đây: 
 Trước hết đó là xã hội trong đó mọi người đều học, học thường xuyên, học suốt đời dưới 
 nhiều hình thức và phương thức khác nhau. “Mọi người đều học” không có nghĩa là 
 “Mọi người đều đến trường, đến lớp”. “Mọi người đều học” không có nghĩa là “Mọi 
 người đều đi học cao đẳng hoặc đại học”. Để có thể HTSĐ mỗi người cần phải có kỹ 
 năng tự học, tự tìm kiếm thông tin, tri thức bằng nhiều hình thức, phương thức khác 
 nhau, chứ không chỉ có nhu cầu, ham muốn học tập, chỉ có thái độ hiếu học, tôn trọng 
 sự học. 
 Tuy nhiên, nếu nói về XHHT chỉ với đặc trưng là “Mọi người học, học thường xuyên, 
 học suốt đời”, hoặc chú ý tới học tập chính quy trong trường/lớp hoặc tại các cơ sở giáo 
 dục khác thì chưa đầy đủ. Đây mới chỉ là một trong các đặc trưng, tiêu chí quan trọng 
 của một XHHT. 
 XHHT còn là một xã hội tạo điều kiện thực sự cho mọi người có cơ hội được HTSĐ, 
 một xã hội có sự cam kết chính trị của các cấp lãnh đạo; có cơ sở pháp lý và các chính 
 sách khuyến khích HTSĐ cụ thể, phù hợp; có cơ sở hạ tầng và các phương tiện phong 
 phú phục vụ cho HTSĐ và đặc biệt có sự tham gia, vào cuộc, cùng làm giáo dục, cùng 
 có trách nhiệm tạo cơ hội HTSĐ khác nhau cho mọi người của toàn xã hội, của tất cả 
 các ban ngành, đoàn thể, tổ chức, doanh nghiệp, các chương trình, dự án, của gia đình, 
 dòng họ, cộng đồng và của tất cả mọi người. Ở đây muốn nhấn mạnh sự “cùng tham 
 gia”, “cùng có trách nhiệm”, chứ không phải chỉ là sự ủng hộ, hỗ trợ ngành giáo dục. 
 Thiếu đặc trưng quan trọng này thì sẽ không thể nào hình thành được một XHHT thực 
 sự. 
 Cuối cùng, một xã hội được công nhận là một XHHT phải là một xã hội phát triển bền 
 vững, có sự phát triển cân đối và hài hòa về kinh tế, văn hóa-xã hội và bảo vệ môi 
 trường. HTSĐ phải có tác dụng thực sự đối với cải thiện chất lượng cuộc sống của bản 
 thân người học, của gia đình người học và của cộng đồng nơi người học sống và làm 
 việc. XHHT mà trong đó mọi người đều HTSĐ không thể là xã hội không có sự tăng 
 trưởng về kinh tế, còn nhiều người mù chữ, thất học, còn nhiều dịch bệnh, còn nhiều tệ 
 nạn xã hội; còn bất bình đẳng giới; còn bạo lực gia đình, trẻ em; môi trường bị khai thác 
 cạn kiệt, bị ô nhiễm v.v... 
 Tóm lại, XHHT là: 
- Một xã hội trong đó mọi người đều học, học thường xuyên, học suốt đời dưới nhiều hình 
 thức và phương thức khác nhau. 
- Một xã hội tạo điều kiện thực sự cho mọi người có cơ hội được HTSĐ (Cơ sở pháp lý; 
 Chính sách; Cam kết chính trị; Cơ sở hạ tầng, phương tiện, tài liệu ) 
 12 
- Một xã hội phát triển bền vững, cân đối và hài hòa về kinh tế, văn hóa-xã hội và môi 
 trường. 
 Như vậy, xây dựng XHHT chính là quá trình huy động mọi nguồn lực, tiềm năng của 
 xã hội để bảo đảm cơ hội học tập thường xuyên, suốt đời cho mọi người; tạo điều kiện 
 về mọi mặt như khung pháp lý, chính sách, cơ sở hạ tầng, tài liệu và có cơ chế khuyến 
 khích để ai cũng có thể học mọi nơi, mọi lúc; và bảo đảm sự phát triển bền vững, hài 
 hòa của tất cả các phương diện kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường. Đồng thời, xây 
 dựng XHHT không phải là một đích đến cố định, mà là quá trình liên tục với các giai 
 đoạn khác nhau, đòi hỏi định hướng nhất quán, sự phấn đấu, nỗ lực bền bỉ và lâu dài của 
 tất cả các thành phần liên quan. 
 II. XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP VỚI BỐN TRỤ CỘT GIÁO DỤC THẾ KỶ 21 
 VÀ CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (SDG) 
 1. Xã hội học tập và bốn trụ cột giáo dục thế kỷ 21 
 Xây dựng XHHT có mối quan hệ chặt chẽ với việc hiện thực hóa các trụ cột giáo dục 
 của thế kỷ 21 mà báo cáo “Học tập – kho báu nội tại” của Delors (1996) đã khẳng định. 
 Các chương trình học tập của GDCQ, không chính quy và phi chính quy đều thể hiện ở 
 4 trụ cột giáo dục trong thế kỷ 212, đó là: 
 Học để biết 
 Học để biết có thể coi vừa là phương tiện, vừa là kết quả của quá trình học tập trong 
 cuộc sống. Với vai trò là phương tiện, những tri thức tiếp thu được trong học tập sẽ giúp 
 cho cá nhân có thêm hiểu biết mới về bản thân, cuộc sống, môi trường xung quanh, biết 
 sống vui vẻ, hữu ích hơn, biết cách làm việc hiệu quả hơn. Với vai trò là kết quả, những 
 tri thức và lợi ích có được qua học tập giúp cho con người ngày càng tăng hứng thú với 
 việc học hỏi, tạo thêm động lực để học tập, khám phá. 
 Những người lớn quan tâm đến sự tích lũy kiến thức và kỹ năng hoạt động thông qua 
 học để biết thường có sự phát triển hứng thú nghiên cứu, khám phá, năng lực phê phán 
 và đánh giá độc lập. Tuy nhiên, tri thức ngày càng đa dạng và ngày càng phong phú, lại 
 luôn luôn phát triển nên ý tưởng học để biết tất cả sẽ không thể nào thành hiện thực. Do 
 vậy, học để biết cần tập trung vào những kiến thức chung nhất, liên quan nhất đến cuộc 
 sống và công việc của chính mình, đồng thời cũng cần có hiểu biết đủ để đi sâu và phát 
 triển hơn nữa về chuyên môn - nghiệp vụ. 
 Học để làm 
 Học để biết thường gắn kết với học để làm, nhưng học để làm gắn chặt hơn với vấn đề 
 đào tạo nghề nghiệp, đến khả năng biến kiến thức thành kĩ năng cụ thể, phục vụ cho 
 2 Theo báo cáo của Delors: Learning – the treasure within (UNESCO, 1996) 
 13 
công việc. Trong một xã hội tri thức, học để làm là việc tiếp nhận kiến thức mới, chuyển 
hóa những kiến thức đó thành kết quả cụ thể thông qua các sản phẩm, dịch vụ, hay sáng 
kiến có giá trị để tạo ra việc làm mới cho chính mình, cho người khác. 
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, yếu tố thông tin và tri thức luôn được coi trọng. 
Những tiến bộ của kỹ thuật, sự ứng dụng công nghệ đòi hỏi con người phải thay đổi kỹ 
năng lao động, chủ yếu là phải có những kỹ năng trí tuệ trong điều khiển quá trình lao 
động, sản xuất. Máy móc ngày càng thông minh thì lao động chân tay ngày càng giảm 
đi, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng. Học để làm trong điều kiện đó không chỉ là làm 
tăng thêm kiến thức và kỹ năng lao động, mà còn phải học để giao tiếp tốt hơn, hợp tác 
trong công việc với người khác nhịp nhàng hơn, hình thành được năng lực quản lý và 
giải quyết xung đột trong công việc cũng như cuộc sống nói chung. 
Học để cùng chung sống 
Thế giới ngày càng phát triển, sự đa dạng ngày càng mở rộng ở nhiều chiều kích phức 
tạp hơn. Mặc dù mỗi đất nước đều coi trọng hòa bình của nhân loại, song thực tiễn cho 
thấy giữa các cộng đồng, các quốc gia vẫn còn tồn tại bất ổn, xung đột, và bạo lực. Điều 
này đòi hỏi mỗi cá nhân phải biết tôn trọng sự khác biệt, học được cách chung sống hòa 
hợp với người khác, biết xử lý mâu thuẫn và xung đột mà không cần sử dụng bạo lực. 
Vì vậy, giáo dục phải hướng tới giải quyết các quan hệ xã hội bằng các giải pháp phi 
bạo lực, xây dựng những môi trường xã hội nhân văn, các quan hệ bình đẳng, tôn trọng 
lẫn nhau giữa con người với con người. Mỗi con người cần được học để hiểu và trân 
trọng giá trị của sự khoan dung, sự đa dạng, biết chấp nhận và khai thác điểm mạnh của 
sự khác biệt. Học để cùng chung sống không chỉ hướng tới xây dựng các cộng đồng thân 
thiện, lành mạnh, mà còn nhằm mục đích hóa giải xung đột, tăng cường hiểu biết lẫn 
nhau giữa các cá nhân, các nền văn hóa. 
Học để làm người 
Có thể hiểu đây là ý tưởng nói về mục tiêu học tập để phát triển mọi năng lực thể chất 
và tinh thần, tạo ra sự phát triển hài hòa giữa tính cách, phẩm chất mỗi con người với 
năng lực của họ, nhằm xây dựng một nhân cách có trình độ trí tuệ, tư duy phản biện và 
sáng tạo, tính nhạy cảm và tính thích ứng với hoàn cảnh bên ngoài luôn thay đổi, năng 
lực thẩm mỹ, tinh thần trách nhiệm, ý thức tôn trọng pháp luật, 
Bốn trụ cột trên của giáo dục trong thế kỷ 21 không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ 
mật thiết, tác động qua lại. Đây cũng có thể coi là những thành tố quan trọng của một 
XHHT – nơi mọi công dân, mọi thành phần, tổ chức đều hướng tới và coi trọng việc 
học. 
 14 
 Hình 1. XHHT và các trụ cột của việc học trong thế kỷ 21 
Ghi chú: 
 Phần mái nhà: Tác dụng, lợi ích của việc HTSĐ 
 Phần cột nhà: Các hình thức học và nội dung học 
 Phần nền móng ngôi nhà: Những điều kiện để xây dựng XHHT 
2. Xây dựng xã hội học tập và các mục tiêu phát triển bền vững 
Chương trình Nghị sự 2030 với 17 mục tiêu phát triển bền vững chính thức được thông 
qua ngày 25/9/2015 tại Hội nghị thượng đỉnh Liên Hợp Quốc với sự tham dự của 193 
nước thành viên. Chương trình Nghị sự 2030 có độ bao phủ chính sách phổ quát, rộng 
lớn, toàn diện, với mục tiêu hoàn tất công việc dang dở của Mục tiêu phát triển Thiên 
niên kỷ và Chương trình Nghị sự 21 để bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. 
 15 
Quá trình xây dựng XHHT là quá trình phức hợp, không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành 
giáo dục mà bao gồm sự tham gia, liên kết của tất cả các thành phần, ngành nghề khác 
nhau trong xã hội để cùng hương tới một mục đích chung là các cộng đồng thịnh vượng, 
luôn sẵn sàng học hỏi, chuyển đổi để tiến bộ hơn một cách bền vững nhất. Như vậy, có 
thể khẳng định xây dựng XHHT ở mỗi quốc gia đều gắn liền với 17 mục tiêu phát triển 
bền vững – đặc biệt là mục tiêu số 4 về giáo dục. Mục tiêu số 4 (SDG4) được diễn đạt 
như sau: “bảo đảm một nền giáo dục hoà nhập, bình đẳng và chất lượng, và thúc đẩy các 
cơ hội HTSĐ cho tất cả mọi người”. 
Mục tiêu SDG4 về giáo dục gồm 7 mục tiêu thành phần và 3 giải pháp thực hiện: 
 4.1: Đến năm 2030, đảm bảo tất cả bé gái và bé trai hoàn thành chương trình giáo 
dục tiểu học và trung học có chất lượng, bình đẳng một cách miễn phí, nhằm đạt được 
kết quả có hiệu quả tốt. 
 4.2: Đến năm 2030, đảm bảo tất cả bé trai và gái được tiếp cận giáo dục mầm non 
và giáo dục tiền tiểu học có chất lượng, chuẩn bị sẵn sàng cho các em vào Tiểu học. 
 4.3: Đến năm 2030, đảm bảo tất cả phụ nữ và nam giới đều có quyền tiếp cận một 
cách bình đẳng tới giáo dục kĩ thuật, dạy nghề có chất lượng, kể cả ở bậc Đại học. 
 4.4: Đến năm 2030, tăng đáng kể số thanh niên và người lớn có kĩ năng liên quan, 
kể cả kĩ năng nghề và kĩ thuật đủ để gia nhập thị trường lao động, có việc làm thỏa đáng 
và tham gia kinh doanh. 
 4.5: Đến năm 2030, xóa bỏ bất bình đẳng giới trong giáo dục, đảm bảo sự tiếp cận 
giáo dục một cách bình đẳng ở mọi cấp độ và đào tạo nghề các đối tượng dễ bị tổn 
thương bao gồm cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số/ các cộng đồng bản địa và 
trẻ em ở các hoàn cảnh khó khăn. 
 16 
 4.6: Đến năm 2030, đảm bảo tất cả các thanh niên và một tỷ lệ đáng kể người 
lớn gồm cả nam và nữ đạt được trình độ XMC. 
 4.7: Đến năm 2030, đảm bảo tất cả người học đạt được kiến thức và kỹ năng 
cần thiết để thúc đẩy phát triển bền vững thông qua giáo dục về sự phát triển bền 
vững và các lối sống bền vững, về quyền con người, bình đẳng giới, thúc đẩy một 
nền văn hóa hòa bình và không bạo lực, về công dân toàn cầu và tôn vinh sự đa 
dạng của văn hóa và sự đóng góp của văn hóa vào việc phát triển bền vững. 
Các giải pháp thực hiện bảy mục tiêu thành phần trên bao gồm ba giải pháp liên quan 
đến bảo đảm cơ sở giáo dục cho nhóm người học yếu thế như trẻ em, người khuyết tật; 
tăng học bổng toàn cầu dành cho các quốc gia/vùng lãnh thổ kém phát triển và đang phát 
triển; và tăng nguồn cung giáo viên có trình độ. 
Bên cạnh đó, xây dựng XHHT còn liên quan đến nhiều mục tiêu SDG khác như: xóa 
nghèo (SDG1), xóa đói (SDG2), cuộc sống khỏe mạnh (SDG3), bình đẳng giới (SDG5), 
nước sạch và vệ sinh (SDG6), năng lượng sạch và bền vững (SDG7), việc làm và tăng 
trưởng kinh tế (SDG8), giảm bất bình đẳng (SDG10) - các mục tiêu này đều là đích 
đến, là tác động mong muốn của một XHHT. Mặt khác, việc thực hiện thành công các 
mục tiêu SDG trên cũng chính là góp phần xây dựng nên một XHHT theo định hướng 
phát triển bền vững. 
Như vậy, quá trình xây dựng XHHT của mỗi quốc gia cũng đồng thời là quá trình cụ 
thể hóa, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc, đặc biệt là 
mục tiêu số 4 về giáo dục. Nói cách khác, xây dựng XHHT và thực hiện các mục tiêu 
phát triển bền vững là hai lĩnh vực có mối quan hệ tương hỗ, gắn bó mật thiết, cùng 
nhằm đạt được mục tiêu chung về một xã hội thịnh vượng, tri thức, văn minh, sẵn sàng 
thích ứng với mọi thay đổi để phát triển bền vững. 
III. CÁC MÔ HÌNH HỌC TẬP SUỐT ĐỜI 
1. Một số mô hình học tập suốt đời trên thế giới 
1.1. Mô hình công dân học tập 
Xu hướng chung trong việc tìm mô hình CDHT ở nhiều quốc gia là xác định được những 
năng lực cốt lõi nhất thiết phải có để con người thích ứng được những đòi hỏi trong xã 
hội hiện đại. Người ta chọn lọc những năng lực cần thiết, không quá nhiều để khỏi tạo 
nên mẫu người rất đẹp nhưng không thực hiện được. 
Singapore chọn mô hình với các năng lực cốt lõi mà quốc gia này cho là cần có ở thế kỷ 
XXI như sau: 
 17 
 Hình 3. Mô hình CDHT của Singapore 
 (Nguồn: Những năng lực thế kỷ XXI, Bộ Giáo dục Singapore, 2014) 
Để tạo ra CDHT như vậy, Singapore có một khẩu hiệu xây dựng XHHT độc đáo: “Nhà 
trường tư duy, quốc gia học tập” 
Trong khi đó, các nước khối OECD lại tìm kiếm và xác định những năng lực chủ đạo 
như sau: 
 Hình 4. Mô hình CDHT khối OECD 
 (Nguồn: Xác định và lựa chọn những năng lực cốt lõi, OECD, 2005) 
 18 
Canada, lại đưa ra một cách nhìn nhận và xác định những năng lực cần cho công dân 
của họ theo hình dưới đây: 
 Hình 5. Mô hình CDHT của Canada 
 (Nguồn: Tầm nhìn thế kỷ 21 về giáo dục cộng đồng Canada, 2012) 
1.2. Mô hình tổ chức/đơn vị học tập 
Về thực chất, đơn vị học tập chính là những tổ chức học tập được xây dựng trước hết 
trong các doanh nghiệp hoặc cơ sở sản xuất. Đây không phải là trào lưu nhất thời, mà là 
một xu hướng lôi cuốn ngày càng nhiều tổ chức, doanh nghiệp, trường học, những tổ 
chức xã hội tiến dần đến việc HTSĐ để các thành viên học được những kiến thức, kĩ 
năng để phục vụ tốt hơn cho công việc của chính mình. Nếu như trước đây trong các 
công ty, trường học, tổ chức xã hội, cơ quan hành chính - sự nghiệp thường có những 
bộ phận phụ trách đào tạo, hiện nay đã và đang chuyển dần sang bộ phận “Học tập và 
Phát triển” (Learning and Development). Bộ phận này không chỉ tổ chức các khóa đào 
tạo hay những chương trình để tăng phúc lợi, mà còn nhiều chương trình khác về giáo 
dục, y tế, gia đình, chăm sóc con cái, tài chính, văn hóa Việc học này luôn đi đôi với 
làm, khuyến khích người học phát triển những năng lực, những kỹ năng, nhưng, tất 
nhiên việc học vì công việc của tổ chức vẫn là mục tiêu cơ bản. 
Một tổ chức học tập (đơn vị học tập) bao giờ cũng hướng việc học vào việc kiến tạo 
chính tương lai của nó, giúp cho những thành viên phát triển, đồng thời làm tổ chức luôn 
thích nghi và đáp ứng với những nhu cầu và khát vọng của người trong và ngoài tổ chức 
(Navran Associates Newsletter,1993). 
Tổ chức học tập luôn tìm cách làm cho nhân viên của mình được tự do. Họ sẽ không là 
biến phụ thuộc của một phương trình, mà là người cải tạo môi trường làm việc, thúc đẩy 
 19 
môi trường nơi người ta làm việc “tạo ra những kết quả mà họ thực lòng muốn có”; Họ 
học cách học cùng nhau vì sự tốt đẹp của toàn thể (Rheem, 1995). 
Cái khái niệm Đơn vị học tập được lý giải qua khái niệm tương đồng “Tổ chức học tập” 
trên đây. Chúng ta sẽ qua đó hiểu “Đơn vị học tập” có giá trị thế nào khi nó được tổ 
chức tại cơ quan, công sở, doanh nghiệp, bệnh viện, hợp tác xã, tổ chức quân đội và 
công an. 
Theo Peter Senge , đơn vị học tập có 5 đặc trưng: 
- Làm chủ bản thân (Personal mastery) để việc học trở thành thói quen; 
- Tư duy hệ thống (Systems thinking) để định hướng việc học tập; 
- Xây dựng các nhóm học tập (Team learning) để hợp tác và chia sẻ tri thức; 
- Xây dựng tầm nhìn chung (Building shared vision) để xây dựng chiến lược phát triển. 
- Tạo ra mô hình tinh thần (Mental models) để có được không gian dân chủ và đoàn 
 kết. 
1.3. Mô hình thành phố học tập của UNESCO 
Các thành phố học tập trong mạng lưới thành phố học tập do UNESCO điều hành được 
xây dựng theo một bộ tiêu chí gồm 42 khoản mục. Trong hướng dẫn các quốc gia đăng 
ký xây dựng thành phố học tập, UNESCO đưa ra mô hình sau: 
 Hình 6. Mô hình thành phố học tập của UNESCO 
 20 
Tư tưởng chủ đạo ở đây là trao quyền cho từng người dân với hàm ý việc HTSĐ sẽ phát 
triển được những năng lực sáng tạo của con người trên cơ sở cung ứng kiến thức, kỹ 
năng và hình thành thái độ cần thiết của con người đối với xã hội. Nội dung cơ bản trong 
khái niệm trao quyền là để người dân có đủ sức giải quyết những vấn đề về đời sống 
kinh tế và xã hội, dự báo được những khó khăn mà họ phải đương đầu và đối mặt được 
với những thách thức mới. 
2. Mô hình học tập suốt đời ở Việt Nam giai đoạn 2021-2030 
Theo Thông tư số 44/2014/TT-BGDĐT ngày 12/12/2014, cộng đồng học tập cấp xã là 
một mô hình HTSĐ ở cấp cơ sở, có liên quan tới hoạt động của tất cả các tổ chức, đơn 
vị ở cấp hành chính xã/phường/thị trấn. Mô hình Đơn vị học tập trực thuộc địa bàn 
huyện/tỉnh được qui định tại Thông tư số 22/2020/TT-BGDĐT ngày 06/8/2020 của Bộ 
GDĐT. 
Tại Quyết định số 244/QĐ-KHVN ngày 28/7/2022 và Quyết định số 242/QĐ-KHVN 
ngày 28/7/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Khuyến học về ban hành Bộ tiêu 
chí và hướng dẫn đánh giá một số mô hình HTSĐ, các mô hình Công dân học tập, Gia 
đình học tập, Dòng họ học tập, Cộng đồng học tập ở thôn bản/tổ dân phố, và Đơn vị học 
tập trên địa bàn cấp xã đã được mô tả và hướng dẫn triển khai đánh giá. 
Như vậy, tại thời điểm hiện tại, các mô hình HTSĐ chủ yếu của Việt Nam gồm: Công 
dân học tập, Gia đình học tập, Dòng họ học tập, Cộng đồng học tập ở thôn bản/ tổ dân 
phố, Đơn vị học tập trên địa bàn cấp xã, Đơn vị học tập trực thuộc địa bàn huyện/tỉnh, 
và Cộng đồng học tập cấp xã. 
2.1. Công dân học tập 
Công dân học tập là yếu tố cốt lõi của mọi mô hình học tập khác, bởi việc học trước hết 
đều phải xuất phát từ cá nhân mỗi thành viên của gia đình, đơn vị, cộng đồng, xã hội – 
với tư cách một công dân có trách nhiệm với sự tiến bộ của chính mình. 
Theo hướng dẫn đánh giá công dân học tập tại Quyết định số 244/QĐ-KHVN ngày 
28/7/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam, công dân học tập 
cần có những năng lực cơ bản sau: 

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_huong_dan_xay_dung_xa_hoi_hoc_tap.pdf