Đổi mới phương pháp giảng dạy các tiết thực hành trong môn Công nghệ nông nghiệp ở trường THCS
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đổi mới phương pháp giảng dạy các tiết thực hành trong môn Công nghệ nông nghiệp ở trường THCS, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
A.MỞ ĐẦU Giáo dục từ lâu đã được coi là quốc sách hàng đầu. Đặc biệt là trong những năm gần đây giáo dục càng trở nên quan trọng. Xã hội càng phát triển, nhu cầu về nguồn lực con người càng tăng càng đòi hỏi chất lượng dạy và học cần phải được nâng cao để có được sản phẩm con người phát triển một cách toàn diện cả về trí tuệ lẫn nhân cách - đó là nguồn nhân lực lao động sáng tạo, là chủ thể để xây dựng đất nước. Bởi vậy việc chuẩn bị cho học sinh những phẩm chất, kiến thức và kỹ năng gắn liền với thực tiễn cuộc sống là hết sức cần thiết trong nhà trường phổ thông hiện nay. Thời đại ngày nay, nhiều thành tựu khoa học và công nghệ xuất hiện một cách hết sức bất ngờ và cũng được đổi mới một cách cực kì nhanh chóng. Hệ thống giáo dục theo đó cũng đặt ra những yêu cầu mới. Từ việc thi thố tài năng bằng sự thuộc lòng những hiểu biết “uyên thâm”, chuẩn mực người giỏi là “thông kim bác cổ”, hiểu biết “thiên kinh vạn quyển” đã dần thay thế bởi năng lực ra những quyết định sáng tạo trong các tình huống không ngừng biến động của cuộc sống. Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, đặc biệt đánh giá năng lực vận dụng kiến thức các môn học vào cuộc sống; coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục. 1 Trước đòi hỏi thực tiễn của Việt nam trên con đường hội nhập và phát triển thì đổi mới phương pháp dạy học trong đó có dạy học phổ thông là hết sức cần thiết. Luật giáo dục năm 2005, điều 28.2 nêu rõ “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Nền giáo dục mới đòi hỏi không chỉ trang bị cho học sinh kiến thức mà nhân loại đã tìm ra mà còn phải bồi dưỡng cho học tính năng động, óc tư duy sáng tạo và thực hành giỏi, tức là đào tạo những con người không chỉ biết mà phải có năng lực hành động. Trong dạy học, phương pháp dạy học được hiểu với nhiều khái nhiệm khác nhau. Tuy nhiên với quan điểm dạy học tích cực, có thể hiểu như sau “Phương pháp dạy học là cách thức, là con đường, là hệ thống và trình tự các hoạt động mà giáo viên sử dụng để tổ chức, chỉ đạo và hướng dẫn học sinh tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức, hình thành kĩ năng, rèn luyện thái độ để đạt được mục tiêu học tập đã định”. Như vậy phương pháp dạy học có quan hệ mật thiết với mục tiêu và nội dung dạy học. Với những mục tiêu và nội dung khác nhau, người giáo viên cần lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp thì mới đạt kết quả mong muốn. Hiển nhiên để hình thành cho học sinh một kỹ năng thực hành nào đó giáo viên cần sử dụng phương pháp khác với khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu và lĩnh hội một kiến thức. Mặt khác phương pháp dạy học cũng có quan hệ mật thiết với phương tiện dạy học vì những cách thức, con đường và trình tự hoạt động khác nhau đòi hỏi những phương tiện, công cụ khác nhau. Do vậy việc lựa chọn phương pháp dạy học hợp lý phụ thuộc một phần lớn vào khả năng về phương tiện dạy học mà giáo viên có thể có được. Ví dụ: không thể dạy học sinh thực hành nhận biết và phân loại các loại phân bón thông thường khi không có các mẫu phân hóa học (NPK), phân vô cơ, 2 phân vi sinh.... Điều này rất quan trọng đối với môn Công nghệ vì thực hành chiếm một tỉ lệ khá lớn trong nội dung dạy học của môn học. Môn Công nghệ ở trường THCS là môn học chính thức trong chương trình giáo dục phổ thông, là sự tiếp nối của các môn Khoa học, Thủ công, Lao động kĩ thuật ở cấp Tiểu học. Đặc biệt Công nghệ là một môn khoa học thực nghiệm lấy phương pháp thực hành là phương pháp chủ yếu, chúng phải được phản ánh vào giảng dạy của từng lớp, từng đối tượng. Bởi vậy đổi mới phương pháp dạy học môn Công nghệ là vô cùng quan trọng. Qua thực tế của bản thân và bạn bè đồng nghiệp dạy môn Công nghệ tôi nhận thấy: “Giảng dạy tiết thực hành Công nghệ đã bước đầu đổi mới nhưng còn nhiều băn khoăn, trăn trở... trong khi soạn các tiết thực hành, đặc biệt khi thực thi các tiết thực hành đó hiệu quả không cao. Từ đó gây cho học sinh sự nhàm chán, không có ý thức trong các giờ thực hành. Việc áp dụng các kiến thức đã học trong môn Công nghệ vào sản xuất ở gia đình, địa phương còn nhiều hạn chế các em chưa nắm rõ được ý nghĩa quy trình kỹ thuật công việc mình làm, mình thực hiện nó. Khi học hết chương trình học sinh bị hẫng hụt so với yêu cầu và nhiệm vụ bộ môn”. Vì vậy phương pháp đổi mới dạy học môn Công nghệ là làm sao để đảm bảo “ Tích cực hoá hoạt động của học sinh, trong giờ học, học sinh suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, thực hành nhiều hơn....”. Theo hướng đó người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ, bổ sung kiến thức, còn học sinh tự chủ động tìm tòi, khám phá, khai thác kiến thức và rèn kỹ năng thực hành Công nghệ. Trên những cở sở đó tôi mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu và đổi mới phương pháp dạy các tiết thực hành trong môn Công nghệ nông nghiệp và ghi lại kết quả thành công bước đầu của mình. Tôi hy vọng nhận được sự đóng góp của bạn bè đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn chỉnh hơn, vận dụng trong phạm vi rộng rãi hơn và có hiệu quả hơn. Kinh nghiệm nhỏ của tôi mang tên là: “Đổi mới 3 phương pháp giảng dạy các tiết thực hành trong môn Công nghệ nông nghiệp ở trường THCS”. 1. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN 1.1. Lý do khách quan Thứ nhất: Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả KTĐG kết quả học tập với KTĐG trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục. Thứ hai: Nước ta là một nước có nền sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế quốc dân lấy sản xuất lúa nước làm chính, với hơn 70% số dân sống ở nông thôn, và tỷ lệ hộ nghèo chiếm khoảng 23%. Từ chỗ không đủ lương thực đến chỗ là nước đứng thứ nhì về xuất khẩu gạo; hàng đầu về xuất khẩu nhiều nông phẩm nhiệt đới như cao su, cà phê, tiêu, điều... và gần đây thủy sản cũng chiếm vị trí rất cao trên thị trường thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và tiến bộ khoa học đang tiếp tục thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đang ngày càng mở cửa để hòa nhập với thế giới, tích cực tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực như khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế. Khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là lúc chúng ta đón nhận một cơ hội vàng, đồng 4 thời cũng là những thách thức mà chúng ta phải tận dụng và vượt qua bằng chính khả năng của mình. Cụ thể trong lĩnh vực nông nghiệp, người nông dân cần phải biết trồng cây gì, nuôi con gì thì được thị trường chấp nhận và tổ chức sản xuất, tiêu thụ như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất, cũng như các nhà tiêu thụ biết sẽ mua sản phẩm mình cần ở đâu, với tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao, chất lượng như thế nào để tiết kiệm thời gian nhất mà vẫn không ảnh hưởng đến công việc sản xuất kinh doanh của mình. Hơn bao giờ hết, ngay bây giờ, các em học sinh“các nhà nông nghiệp tương lai” cần phải có những kỹ năng thực hành cơ bản nhất về cách tiếp thu kiến thức thực tế sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở đó, bản thân tôi đã suy nghĩ và đã cải tiến phương pháp dạy, “học phải đi đôi với hành” nhằm nâng cao chất lượng và làm tư trang cho các em vào đời sau này. 1.2. Lý do chủ quan Trong môn Công nghệ có hai loại thực hành. Một loại thực hành nhằm giúp học sinh chủ động tìm hiểu, phát hiện kiến thức để lĩnh hội hoặc để khẳng định, củng cố các kiến thức đã được học. Ví dụ như thử nghiệm để phân biệt một số loại vải ở lớp 6; thực hành để xác định thành phần cơ giới của đất ở lớp 7. Một loại thực hành khác là để rèn luyện kĩ năng về một công việc nào đó, ví dụ như thực hành trộn dầu dấm rau xà lách ở lớp 6. Hai loại thực hành này tuy khác nhau về mục tiêu, nhưng đều giống nhau ở chỗ chúng đều phải được tiến hành theo những quy trình hợp lý nhất định và chúng đều đòi hỏi học sinh phải thực sự chủ động, nghiêm túc, khẩn trương trong học tập thì mới hoàn thành được bài học và mới đạt kết quả. Tôi nhận thấy tâm lý học và khả năng thực hành của một số em khá tốt; các em được coi như những “cột trụ” trong nhóm/lớp, có khả năng giúp đỡ các bạn khác thực hành. Tuy nhiên, đa số các em có tâm lý e ngại, rụt rè khi học, nhất là các em nữ; mặt khác chất lượng thực hành của các em cũng chưa cao; nhiều bài thực hành mới đảm đủ các bước kĩ thuật mà chưa có nhiều bài đáp ứng các yêu cầu về trình 5 bày, mĩ thuật, thời gian hoàn thành Đây là một trong những trăn trở của GV trong giảng dạy thực hành. Một thực tế cụ thể nữa ở trường THCS là số lượng, chất lượng các đồ dùng - thiết bị - vật liệu để thực hành đều giảm dần theo số lượng tiết học; mặc dù được bổ sung hàng năm nhưng với sĩ số học sinh luôn luôn cao cùng với tâm lý ai cũng muốn được thực hành một lần nên đồ dùng qua các tiết học đều cần chỉnh sửa, bổ sung thêm. Đồng thời với sự phân hóa môn học nên học sinh đã bước đầu coi trọng môn học này, xem nhẹ môn học khác; học sinh phải chăm lo nhiều bài tập của nhiều bộ môn nên việc tham gia chuẩn bị đồ dùng thực hành nhất là tham gia theo nhóm còn rất hạn chế. Nếu như giáo viên không chú ý hướng dẫn thì học sinh khó có thể chuẩn bị đúng đồ dùng theo yêu cầu của bảng dự trù vật liệu mà các em vẫn thường lập được. 2. MỤC TIÊU CỦA SÁNG KIẾN 2.1. Mục tiêu chung Bản thân tôi khi nêu và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này có mong muốn được một lần nữa tôi và các đồng nghiệp, các em học sinh xác định vai trò quan trọng của tiết học thực hành trong nhà trường, đặc biệt là trong bộ môn Công nghệ. Với quan điểm không xem nhẹ khả năng của học sinh và rất quan tâm đến tính thực tiễn của phân môn đồng thời qua đó giáo dục lòng yêu lao động và tâm lý vững vàng cho học sinh khi thao tác nghề; thì tôi tin chắc giáo viên và học sinh đều hứng thú và thực hành tốt; vai trò bộ môn Công nghệ được nâng cao đúng tầm của nó. Khi xác định như vậy thì cả giáo viên và học sinh cần chuẩn bị tốt cho mỗi bài học, điều này được đáp ứng bởi nhiều yếu tố trong đó cần có sự chủ động của người thầy trong việc tìm tòi, áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành của mỗi bài học. Bước đầu có những cơ sở lý luận, bước làm thực tế cho từng biện pháp cơ bản trong việc tìm hiểu, áp dụng các biện pháp giáo dục đặc thù cho phân 6 môn; những bước đi tiêu chuẩn trong thực hành trên lớp cho đến khi thực tế ở hộ gia đình mình. 2.2. Mục tiêu cụ thể Giúp các em học sinh vận dụng lí thuyết vào thực tế, học bằng cách làm, làm để học. Qua trải nghiệm thực tế sẽ khẳng định được sự đúng đắn của lí thuyết và tiếp thu kiến thức một cách vững chắc. Mặt khác, qua thực hành từng bước, từ làm theo, làm sai đến làm đúng và lặp đi lặp lại nhiều lần một hành động nào đó cho đến khi thuần thục sẽ hình thành được kĩ năng mình mong muốn. 3. GIỚI HẠN CỦA SÁNG KIẾN 3.1. Về đối tượng nghiên cứu Từ năm học 2017 - 2018 đến năm học 2018 - 2019, tôi đã chọn học sinh khối 7 trường TH&THCS Đồng Tâm xã Đồng Tâm - huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang làm đối tượng để áp dụng nghiên cứu đề tài: “Đổi mới phương pháp giảng dạy các tiết thực hành trong môn Công nghệ nông nghiệp ở trường THCS”. 3.2. Về không gian Đề tài được áp dụng tại trường TH&THCS Đồng Tâm - xã Đồng Tâm - huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang, tập trung vào nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy các tiết thực hành trong môn Công nghệ lớp 6, 7, 9. 3.3. Về thời gian Kế hoạch thực hiện đề tài: Bắt đầu từ tháng 9 năm 2018, được thử nghiệm trong 02 năm học 2018 - 2019, 2019 - 2020. Đề tài được tổng kết rút kinh nghiệm vào tháng 5 năm 2020 và tiếp tục áp dụng trong các năm học tiếp theo. 7 B. NỘI DUNG Chương I. Cơ sở viết sáng kiến 1. Cơ sở khoa học 1.1. Cơ sở lí luận Công nghệ là môn học ứng dụng, nghiên cứu việc vận dụng những quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm phục vụ đời sống con người. Khi tìm hiểu và nghiên cứu về bộ môn này, học sinh sẽ càng thấy yêu thiên nhiên, đất nước và con người hơn. Chương trình Công nghệ THCS gồm nhiều phần kiến thức khác nhau, với mỗi phần kiến thức đó đều có thể bắt gặp nhiều ví dụ, hình ảnh sinh động từ thực tế. Điều này muốn nói môn Công nghệ có sức hấp dẫn rất lớn đối với học sinh. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy ở các trường THCS, vị trí của bộ môn và tình yêu của học sinh đối với bộ môn còn rất hạn chế. Rất dễ thấy thực trạng học sinh thờ ơ với môn học. Đối với học sinh khối lớp 6, nguyên nhân là do các em bắt đầu làm quen với phương pháp học tập mới, số lượng môn học tăng lên nhiều dẫn đến sự kém thích nghi. Đối với những học sinh của các khối lớp còn lại, sự thờ ơ đến từ quan niệm xem bộ môn này là môn phụ, không giữ vai trò quan trọng, vì vậy các em không chú ý cũng như không đầu tư nhiều thời gian để học và tìm hiểu. Một lí do khác dẫn đến học sinh chưa thích học môn Công nghệ xuất phát từ phía giáo viên. Sự kém đầu tư về giáo án, phương pháp giảng dạy cũng như chưa tạo ra được môi trường học tập thân thiện càng làm tăng thêm sự nhàm chán trong mỗi tiết học. Những lí do trên đã góp phần giải thích cho kết quả chưa cao của bộ môn, sự thiếu nhiệt tình, thiếu tích cực và tự giác từ phía học sinh trong mỗi giờ học. 1.2. Cơ sở thực tiễn Trước tình hình chung hiện nay, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống ngày càng được quan tâm và mở rộng. Kinh tế phát triển, cuộc sống 8 của con người ngày một nâng cao. Do đó, việc trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về kĩ năng sống, sinh hoạt trong gia đình và thái độ tích cực trong việc xây dựng và bảo vệ môi trường xung quanh là điều rất cần thiết. Để đạt được mục tiêu đó thì mỗi giáo viên cần phải định hướng đào tạo và bồi dưỡng cho học sinh ý thức, thái độ tích cực trong nhiều môn học khác nhau. Môn Công nghệ là một trong những môn học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống, kiến thức của môn học này phục vụ cho nhiều chuyên ngành khác phát triển. Vì vậy, một việc rất cần thiết là ngay từ cấp cơ sở hệ thống trường THCS, giáo viên phải nghiên cứu khám phá để nâng cao phương pháp trong một giờ dạy đặc biệt là giờ thực hành, tạo cho các em có hứng thú, say mê và yêu thích bộ môn học này. 2. Cơ sở chính trị, pháp lý Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”; “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan. Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội”. 9 Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 qui định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”. Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế xác định “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục phát triển” Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp lý thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực người học. Xuất phát từ những cơ sở đó, tôi mạnh dạn lựa chọn và nghiên cứu về đề tài “Đổi mới phương pháp giảng dạy các tiết thực hành trong môn Công nghệ nông nghiệp ở trường THCS”. 10 Chương II. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết 1. Thuận lợi 1.1. Nhà trường Trong những năm qua, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công trực tiếp giảng dạy môn Công nghệ 6, 7, 9 nên có nhiều thuận lợi cho việc thực hiện đề tài “Đổi mới phương pháp giảng dạy các tiết thực hành trong môn Công nghệ nông nghiệp ở trường THCS” cho học sinh tại nhà trường. 1.2. Giáo viên Bản thân tôi tốt nghiệp Đại học khoa sư phạm kĩ thuật nông nghiệp được giảng dạy đúng chuyên ngành học, được tham dự các tiết chuyên đề của đồng nghiệp tại trường, được tham gia các lớp tập huấn và tham dự các đợt sinh hoạt chuyên môn tại trường, tại huyện về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. 1.3. Học sinh Đa phần các em là học sinh nông thôn nên các kiến thức trong môn Công nghệ lớp 6, 7, 9 rất gần gũi và thân quen với các em. Các em dễ tiếp thu và thực hiện các thao tác thực hành theo đúng quy trình, dễ vận dụng vào cuộc sống hàng ngày ở gia đình và địa phương. 2. Khó khăn Đội ngũ giáo viên dạy môn Công nghệ ở trường THCS chưa đầy đủ, giáo viên còn dạy trái ban dẫn đến việc truyền thụ kiến thức, rèn kĩ năng cho học sinh chưa sâu. Giáo viên đã chú ý nhiều đến việc dạy học theo phương pháp mới xong còn chưa mạnh dạn đưa nhiều phương pháp mới vào giảng dạy như sử dụng thí nghiệm, thực hành, thiết kế bài giảng trên vi tính..... Một thực tế về CSVC của nhà trường chưa có phòng học bộ môn, một số trường đã có và trang bị tương đối đầy đủ nhưng hiệu quả sử dụng còn nhiều hạn chế... Một phần do đồ dùng dạy học còn để tồn đọng trong kho, một phần do giáo 11 viên bộ môn ngại sử dụng, hơn nữa năng lực sử dụng đồ dùng dạy học còn hạn chế. Giáo viên chưa mạnh dạn khai thác các mẫu vật đa dạng và phong phú trong thiên nhiên như sâu, bệnh hại cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật ... Hơn nữa giáo viên chưa rèn cho học sinh có thói quen sưu tầm và sử dụng các mẫu vật có trong thiên nhiên, chưa khai thác hết trí tò mò của học sinh với thế giới xung quanh... Chương III. Các giải pháp thực hiện 1. Nghiên cứu phương pháp dạy học thực hành 1.1. Bản chất của phương pháp dạy học thực hành Vận dụng lý thuyết vào thực tế, học bằng cách làm, làm để học. Qua trải nghiệm thực tế khẳng định được sự đúng đắn của lý thuyết và tiếp thu kiến thức một cách vững chắc. Qua thực hành từng bước, từ làm theo, làm sai đến làm đúng và lặp đi lặp lại nhiều lần một hành động nào đó cho đến khi thuần thục sẽ hình thành được kỹ năng mình mong muốn. Dạy học thực hành yêu cầu học sinh phải trải qua kinh nghiệm thực tế, mà những kinh nghiệm thực tế này sẽ làm thay đổi cách suy nghĩ và hành động của học sinh. Từ đó học sinh không những chỉ nhận được cách suy nghĩ và những kỹ năng mới của giáo viên qua việc quan sát, nghe ngóng mà phải cố gắng thực hiện và vận dụng vào thực tiễn, biến những điều đang học thành của mình. 1.2. Mục đích của dạy thực hành Nhằm hình thành cho học sinh một số kỹ năng nào đó tới mức độ cần thiết. Một kỹ năng được xác định các tiêu chí sau đây: Là sự thuần thục để có thể thực hiện một đơn vị của một công việc hoàn chỉnh, kết quả cuối cùng là 1 sản phẩm, một dịch vụ hoặc một quyết địn; Được thực hiện theo một quy trình riêng không thể tuỳ tiện; Được thực hiện trong một khoảng thời gian có giới hạn; 12 Được thực hiện với những điều kiện: Phương tiện, công cụ, vật liệu... cần thiết cho trước; Có điểm khởi đầu và điểm kết thúc rõ ràng; Có thể quan sát, đo đếm, đánh giá được. VD: Tiết 7, 8: Thực hành chiết cành - Công nghệ 9: Modul trồng cây ăn quả. QUY TRÌNH CHIẾT CÀNH Quy trình riêng theo trình tự không thể tuỳ tiện thay đổi bao gồm các bước như: chọn cành chiết, khoanh vỏ, trộn hỗn hợp bó bầu, bó bầu, cắt cành chiết. Kết quả: Học sinh hoàn thành một cành chiết cây ăn quả. 1.3. Phân loại bài thực hành Trong môn Công nghệ có 2 loại bài thực hành: * Loại 1: Thực hành nhằm giúp học sinh chủ động tìm hiểu, phát hiện kiến thức để lĩnh hội hoặc khẳng định, củng cố các kiến thức đã học 13 VD1: Công nghệ 6 - Tiết 2, Bài 1(mục II) thử nghiệm để phân biệt một số loại vải. Giáo viên chuẩn bị các mẫu vải, cốc nước, bật lửa. Sau khi học sinh được học nguồn gốc và các tính chất của các loại vải điền vào bảng. Học sinh thử nghiệm để phân biệt một số loại vải bằng cách thực hành theo nhóm dùng tay vò để xác định độ nhàu, đốt vải trên ngọn lửa sau đó bóp tro để phân biệt. Qua đó học sinh khẳng định tính chất đã học. VẢI SỢI VẢI SỢI HOÁ HỌC Loại vải THIÊN NHIÊN Vải Visco, xatanh Lụa Nilon, polyeste Vải bông, (vải sợi nhân tạo) (vải sợi tổng hợp) Tính chất vải tơ tằm Độ nhàu Dễ nhàu ít nhàu Không nhàu Tro vón cục, bóp Độ vụn của tro Tro bóp dễ tan Tro bóp dễ tan không tan VD2: Công nghệ 7, Tiết 3 - Bài 4. Thực hành: Xác định thành phần cơ giới của đất bằng phương pháp đơn giản (vê tay). Mục tiêu Hoạt động của học sinh Củng cố kiến thức đã học về tính chất các loại đất trồng. Biết cách và xác định được thành phần Chuẩn bị các mẫu đất theo yêu cầu, cơ giới của đất bằng phương pháp đơn nước. giản (vê tay) Quan sát các bước thực hiện trên tranh, Vận dụng vào thực tế ở gia đình và địa giáo viên thực hiện mẫu. phương để có biện pháp cải tạo đất Học sinh thực hành và phân loại các hợp lý. mẫu đất. * Loại 2: Rèn kỹ năng về một công việc nào đó VD1: Công nghệ 6 - Tiết 51, 52, 53. Bài 19 - Thực hành: Trộn dầu giấm - Rau xà lách 14 Chuẩn bị: Nguyên liệu (rau xà lách, Thịt bò,cà chua, hành tây, gia vị) Mục tiêu: Học sinh nắm được các bước tiến hành: Chuẩn bị, chế biến, trình bày, thực hiện theo các bước đó, hiểu được ý nghĩa công việc mình vừa thực hiện. Vận dụng làm món ăn tại gia đình. Hoạt động của học sinh: quan sát cách làm khi giáo viên làm mẫu và cùng làm: Giai đoạn 1: Chuẩn bị Rau xà lách: nhặt rửa sạch, ngâm nước muối nhạt khoảng 10 phút, vớt ra vẩy cho ráo nước (ý nghĩa diệt khuẩn tránh nhiễm trùng thực phẩm); Thịt bò: Thái lát mỏng ngang thớ, ướp tiêu, xì dầu, xào chín; Hành tây: bóc lớp vỏ khô, rửa sạch, thái mỏng, ngầm giấm, đường (2 thìa súp giấm + 1 thìa súp đường); - Cà chua: Cắt lát, trộn giấm, đường (2 thìa súp giấm + 1 thìa súp đường); (ý nghĩa làm cho hành tây và cà chua giảm vị hăng, cay, ngấm gia vị). Giai đoạn 2: Chế biến * Làm nước trộn dầu giấm: Cho 3 thìa súp giấm + 1 thìa súp đường + 1/2 thìa cà phê muối, khuấy tan; nếm có vị chua, ngọt, hơi mặn. Cho tiếp vào hỗn hợp trên 1 thìa súp dầu ăn, khuấy đều cùng với tiêu + tỏi phi vàng; Giáo viên lưu ý học sinh: Lượng hạt tiêu khi cho vào nước trộn dầu giấm; Cách phi tỏi vàng: Cho lượng mỡ khá nhiều vào chảo đun già sau đó cho tỏi đã dập nát đảo đến khi tỏi vàng mùi thơm là được. * Trộn rau Cho xà lách + hành tây + cà chua vào một khay to, đổ hỗn hợp dầu giấm vào trộn đều, nhẹ tay (ý nghĩa để hỗn hợp đều ngấm gia vị và không nát). Giai đoạn 3: Trình bày Giáo viên hướng dẫn: Xếp hỗn hợp xà lách vào đĩa, chọn một ít lát cà chua bày xung quanh, trên để hành tây và trên cùng là thịt bò sắp vào giữa đĩa rau; 15 Học sinh: tuỳ sự sáng tạo của mỗi nhóm; Kết quả: Hoàn chỉnh một đĩa trộn dầu giấm - Rau xà lách. MÓN DẦU GIẤM TRỘN XÀ LÁCH VD2: Công nghệ 7 - Tiết 19, bài 17 - Thực hành: Xử lý hạt giống bằng nước ấm Học sinh phải chuẩn bị các vật liệu và dụng cụ sau: Mẫu hạt giống, nhiệt kế, phích nước nóng, chậu. Mục tiêu Hoạt động của học sinh Giải thích được ý nghĩa của việc Quan sát hình vẽ minh hoạ và giải thích ý xử lý hạt giống bằng nước ấm. nghĩa của công việc ngâm hạt trong nước Biết cách xử lý hạt giống bằng muối, rửa sạch hạt, kiểm tra nhiệt độ của nước ấm. nước, ngâm hạt trong nước ấm. Làm được các thao tác xử lý hạt Quan sát giáo viên làm mẫu. giống đúng quy trình. Thực hành theo nhóm đúng các bước trong Vận dụng kiến thức đó về xử lý quy trình ngâm hạt trong nước muối, rửa hạt giống tại địa phương. sạch hạt, kiểm tra nhiệt độ của nước, ngâm hạt trong nước ấm. Xử lý được hạt giống đúng quy định. 16 VD3: Công nghệ 9, Tiết 11- Bài 6: Thực hành: Ghép chữ T * Chuẩn bị: Dụng cụ: Dao, kéo cắt cành Dây buộc bằng ni lông rộng 1 - 2 cm, dài 20 - 30 cm Túi PE trong để bọc ngoài. Vật liệu: Cây làm gốc ghép( Chanh, bưởi hoặc táo) gieo từ hạt được 6 - 8 tháng tuổi. Đường kính thân( cách mặt đất 20 cm) khoảng 0,6 - 1, 0 cm. Cành để lấy mắt ghép: là những giống tốt của các loại cây cam, táo. QUY TRÌNH GHÉP MẮT CHỮ T 17 Mục tiêu Hoạt động của học sinh Giải thích được ý nghĩa của việc Quan sát hình vẽ minh hoạ và quy trình thực nhân giống cây ăn quả bằng hành ghép mắt chữ T. phương pháp ghép mắt chữ T Quan sát giáo viên làm mẫu. Biết cách ghép mắt chữ T Thực hành theo nhóm đúng các bước trong Làm được chọn gốc ghép, cành quy trình ghép mắt chữ T: lấy mắt ghép, cắt miệng mở ở Bước 1: Chọn và cắt mắt ghép gốc ghép, cắt mắt ghép chữ T và ghép mắt chữ T. Bước 2: Chọn vị trí ghép và cắt gốc ghép Vận dụng kiến thức đó để thực Bước 3: Ghép đoạn cành hiện ghép mắt, nhân giống cây Bước 4: Kiểm tra sau khi ghép. ăn quả ở gia đình Ghép mắt chữ T đúng quy trình. Hình ảnh: HS HỰC HÀNH GHÉP CHỮ T 18 1.4. Cách tiến hành Việc đầu tiên phải xác định được các kỹ năng cần dạy cho học sinh trong bài học là những kỹ năng gì? Cần phải phân chia các công việc phức tạp thành từng phần việc hợp lý để học sinh có thể hình thành từng kỹ năng nhỏ một cách chắc chắn và tự tin trước khi bước sang học một kỹ năng mới. Muốn hình thành một kỹ năng, học sinh phải lặp đi, lặp lại nhiều lần một số thao tác nào đó. Kỹ năng được hình thành qua các giai đoạn từ không thành thạo đến thành thạo. Đòi hỏi học sinh phải chủ động, nghiêm túc, khẩn trương . VD: Tiết 58 - 59, bài 23 - Công nghệ 6: Thực hành: Xây dựng thực đơn Mãn chÝnh : §Ëu phô r¸n C¬m Canh rau muèng ThÞt kho tµu Mãn tr¸ng miÖng : S÷a chua Giáo viên giúp học sinh tăng cường tính tích cực, chủ động sáng tạo và thực sự hứng thú. Giúp học sinh rèn luyện tính kỷ luật trong lao động, thói quen tiến hành các công việc theo đúng quy trình, không tuỳ tiện để hình thành tác phong công nghiệp, chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống và lao động trong một xã hội công nghiệp văn minh, hiện đại. 2. Quy trình dạy thực hành Bài dạy thực hành môn Công nghệ THCS được tiến hành theo các giai đoạn: chuẩn bị, thực hiện bài dạy và đánh giá kết quả. 19 2.1. Chuẩn bị Giai đoạn chuẩn bị hết sức quan trọng. Nếu chuẩn bị không tốt các điều kiện để dạy và học thực hành thì bài thực hành sẽ không đạt kết quả mong muốn. Giai đoạn này gồm các công việc chuẩn bị của giáo viên và học sinh. 2.1.1. Chuẩn bị của giáo viên Xem lại nội dung bài giảng, đọc các tài liệu tham khảo, soạn giáo án . Chuẩn bị các học liệu, điều kiện phục vụ cho dạy và học thực hành như dụng cụ, thiết bị, nguyên vật liệu, vật tư, . Chuẩn bị chia nhóm thực hành của lớp (nếu thực hành theo nhóm) Kiểm tra các điều kiện của địa điểm dạy thực hành như ánh sáng, nước, điều kiện an toàn lao động . 2.1.2. Chuẩn bị của học sinh Đọc trước nội dung bài thực hành, chuẩn bị phiếu báo cáo, dụng cụ, thiết bị, nguyên liệu cần thiết (theo yêu cầu của giáo viên) Ví dụ: Tiết 46, 47 - bài 51 (Công nghệ 7 - Phần thuỷ sản): Thực hành xác định nhiệt độ, độ trong và độ PH của nước nuôi thủy sản. * Chuẩn bị của giáo viên: Nhiệt kế, đĩa sếch xi, thang màu PH chuẩn Máy chiếu, máy tính Giấy đo PH * Chuẩn bị của học sinh: Chậu đựng nước ao có chiều cao tối thiểu là 60 - 70 cm, đường kính thùng 30 cm 2.2. Thực hiện bài thực hành Bài thực hành có thể được cấu trúc theo 2 phần, phần lý thuyết và phần thực hành hoặc tiếp nối theo bài lý thuyết đã học. Bài dạy thực hành thường được tiến hành theo trình tự sau: 20
File đính kèm:
doi_moi_phuong_phap_giang_day_cac_tiet_thuc_hanh_trong_mon_c.doc



