Giúp học sinh làm tốt bài tập về các góc ở vị trí đặc biệt trong chương III Hình học 7

pdf11 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 12/02/2026 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung Giúp học sinh làm tốt bài tập về các góc ở vị trí đặc biệt trong chương III Hình học 7, để tải tài liệu về máy bạn hãy click vào nút TẢI VỀ
 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ 
 TRƯỜNG THCS XUÂN LƯƠNG 
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI 
 GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2024-2026 
Tên biện pháp: “Giúp học sinh làm tốt bài tập về các góc ở vị trí 
 đặc biệt trong chương III Hình học 7” 
 Họ và tên: Lý Văn Hưng 
 Môn giảng dạy: Toán 
 Trình độ chuyên môn: ĐHSP Toán 
 Chức vụ: TTCM 
 Đơn vị công tác: Trường THCS Xuân Lương 
 Xuân Lương, ngày 26 tháng 2 năm 2025 1 
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ 
1. Lý do chọn giải pháp 
 Toán học là bộ môn khoa học quan trọng có nhiều ứng dụng trong cuộc 
sống. Trong Toán học có nhiều phân môn, mỗi phân môn có nét đặc trưng riêng 
của nó. Ở cấp THCS hiện nay, học sinh được học các phân môn Số học, Đại số, 
Hình học, thống kê và xác suất. Riêng Hình học là một phân môn khó với lứa 
tuổi học sinh cấp hai, vì tính trừu tượng của Hình học khá cao, một số em tiếp 
thu kiến thức một cách thụ động, trực quan chứ không đi sâu vào tư duy. 
 Đối với toán Hình ở THCS nói chung và môn Hình học lớp 7 nói riêng, 
thì môn Hình học 7 là sự tiếp nối và phát triển các kiến thức mở đầu của hình 
học lớp 6. Lâu nay theo đánh giá chung thì hình học 7 là “nặng” nhất và cũng có 
vai trò quan trọng nhất đối với môn hình cấp THCS. 
 Do đó việc chứng minh một bài toán hình học càng khó hơn khi các em 
bước đầu làm quen với các bước suy luận chứng minh hình học. Các em phải 
tìm tòi, phải tưởng tượng, phải tìm lời giải trên cơ sở hình vẽ, bằng suy luận, 
kiểm nghiệm tính đúng đắn bằng các tính chất, định lí, chứ không bằng quan sát 
trực quan. Từ đó chất lượng học tập ở phần hình còn thấp. 
 Kết quả tự khảo sát khi học xong chương III của hình học 7 năm học 
2024– 2025 của 2 lớp đại trà còn thấp: 
 Điểm < 5 Điểm 5 Điểm 7 
 STT TSHS 
 SL % SL % SL % 
 7A 44 12 27,3 23 52,3 9 20,4 
 7B 44 25 56,8 17 38,6 2 4,6 
 Tổng 88 37 42 40 45,5 11 12,5 
 Kết quả khảo sát cho thấy các em chưa biết vận dụng các góc ở vị trí đặc 
biệt vào giải các bài toán liên quan. 
 Qua kinh nghiệm nhiều năm dạy học tôi nhận thấy các góc ở vị trí đặc 
biệt khá là quan trọng đối với học sinh khi học Toán hình, vì nó thường xuyên 
sử dụng trong phần chứng minh 2 tam giác bằng nhau và lên lớp 8, lớp 9. 
 Chính vì lí do trên nên tôi lựa chọn giải pháp:"Giúp học sinh làm tốt bài 
tập về các góc ở vị trí đặc biệt trong chương III hình học 7" 
2. Mục đích nghiên cứu của giải pháp 
 - Giúp học sinh khái quát được các kiến thức cơ bản về các góc ở vị trí đặc biệt 
 2 
 - Biết vận dụng các góc ở vị trí đặc biệt khi trình bày lời giải một số bài 
toán liên. 
 - Trên cơ sở đó các em biết phát huy khả năng sáng tạo, củng cố, khắc sâu, 
mở rộng kiến thức và phát huy được tính tích cực của học sinh, từ đó hình thành 
niềm say mê học toán và yêu thích môn toán. Qua đó các em học sinh sẽ có 
những cách nhìn nhận, tự xây dựng và hình thành phương pháp học toán, phương 
pháp chứng minh các kiến thức khác như: chứng minh hai tam giác bằng nhau, 
chứng minh một tam giác là tam giác cân, tam giác đều, tam giác vuông, .... 
 - Giúp học sinh biết cách tự học môn hình như: biết chuẩn bị trước bài 
mới ở nhà thông qua phiếu giao bài của giáo viên. Giáo viên có thể đặt vấn đề 
vào bài mới để gây hứng thú học tập của học sinh... 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 - Hướng dẫn học sinh củng cố kiến thức co bản về các góc ở vị trí đặc 
biệt, xây dựng và làm tốt các bài tập liên quan về các góc ở vị trí đặc biệt trong 
hình học 7. Biết cách trình bày hoặc trình bày thành hướng giải bài toán bằng 
cách hiểu, vận dụng các góc ở vị trí đặc biệt để giải quyết một số dạng bài tập. 
PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 
I. Thực trạng công tác dạy và học môn Toán 7 tại trường THCS Xuân Lương: 
1. Ưu điểm 
 - Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và động viên kịp thời, đáp ứng 
và tạo điều kiện đầy đủ cho giáo viên và học sinh những thiết bị dạy học hiện 
đại như: Trang bị toàn bộ các phòng lớp học hệ thống tivi và hệ thống mạng wifi 
phủ kín trường học. Nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập. 
 - Đội ngũ giáo viên bộ môn Toán ở trường hầu hết có kinh nghiệm giảng 
dạy nhiều năm, chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, đoàn kết và chịu khó học 
hỏi. 
 - Giáo viên chủ động trong việc học hỏi, tiếp thu phương pháp và kỹ năng 
dạy học tích cực để vận dụng trong quá trình dạy học và đổi mới phương pháp, 
ứng dụng CNTT trong công giảng dạy. 
 - Đa số các em đều có ý thức học tập tốt, ngoan ngoãn, trong giờ học đều 
chú ý và tích cực tham gia các hoạt động học tập mà giáo viên tổ chức hướng 
dẫn. 
2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 
2.1. Giáo viên 
 - Hiện nay, trong giảng dạy nói chung và đặc biệt môn Toán nói riêng, 
 3 
giáo viên thường nặng về lý thuyết, bài học trở nên kém hấp dẫn, không có sự 
lôi cuốn ngay từ hoạt động vào bài. Học sinh chưa phát huy được hết tính chủ 
động trong giờ học. 
 - Bên cạnh đó giáo viên còn ngại đổi mới phương pháp dạy học và thiết 
kế giáo án theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh đặc biệt là đối với 
hoạt động khởi động, tổ chức chơi các trò chơi. 
 - Giáo viên dạy nhằm mục tiêu học sinh đạt được về kiến thức, kỹ năng 
chưa chú ý đến phát huy tính tích cực, phát triển năng lực của học sinh. Điều đó 
dẫn đến việc học sinh thấy môn Toán khó và không thích học. 
2.2. Học sinh 
 - Học sinh chưa tự giác và chưa có hứng thú học, chưa có động cơ học 
tập, chưa có quyết tâm học tập. 
 - Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong 
học tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin. Khả năng chú ý 
và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền, lười suy nghĩ, còn trông chờ 
thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế, 
chưa biết phát huy khả năng của mình. 
 - Một số học sinh đi học còn mất tập trung, mải chơi, lười ghi chép bài. 
 - Học sinh chưa có phương pháp học tập khoa học, hầu hết là học thụ 
động, lệ 
thuộc vào các loại sách bài giải (chép bài tập vào vở nhưng không hiểu gì cả), 
học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức. 
 Năm học 2024 – 2025 khi được nhận dạy môn toán lớp 6, ngay từ khi dạy 
những bài đầu phân môn hình học, tôi nhận thấy một số học sinh chưa hứng thú 
trong tiết học, chưa tích cực và chủ động trong quá trình học tập. 
 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, một phần lớn là do nội dung môn 
Toán thường khô khan, khó học đối với học sinh, phương pháp giảng dạy của 
giáo viên còn chưa phù hợp với học sinh, các hình thức tổ chức dạy học chưa 
phong phú. 
 Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, khi chất lượng của học sinh còn rất thấp 
như vậy nên tôi cũng rất trăn trở, do đó việc “Rèn kỹ năng làm bài tập hình học 
cho học sinh lớp 7” đối với giáo viên và việc học toán hình đối với học sinh là một 
nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đặc biệt, trong chương trình hình học lớp 7 thì các 
góc ở vị trí đặc biệt là một nội dung rất quan trọng, vì các góc này sẽ có xuyên 
suốt trong chương trương trình hình học từ lớp 7 đến lớp 9 với một hệ thống 
chặt chẽ từ đơn giản đến phức tạp. Xuất phát từ thực tế trên, tôi xây dựng và 
 4 
triển khai giải pháp: “Giúp học sinh làm tốt bài tập về các góc ở vị trí đặc biệt 
trong chương III hình học 7” 
II. BIỆN PHÁP 
 Trong giải pháp: “Giúp học sinh làm tốt bài tập về các góc ở vị trí đặc 
biệt trong chương III hình học 7”. Tôi trình bày những nội dung cụ thể như 
sau: 
1. Biện pháp 1: Biện pháp giúp học sinh có khả năng tư duy trí tưởng tượng 
về các góc ở vị đặc biệt thông qua một số hình ảnh thực tế. 
 - Giáo viên cho học sinh quan sát một số hình ảnh về các góc đặc biệt 
trong thực tế. Từ đó giúp học sinh khắc sâu hơn về các góc ở vị trí đặc biệt 
Ví dụ 1: Khi đặt những dây lạt để cắt bánh chưng, các dây lạt tạo ra những cặp 
góc đặc biệt. 
 a) 
 Ví dụ 2: Hai chân chống AB và CD của cái bàn xếp ở hình b cho ta hình 
ảnh hai góc đối đỉnh; Con dao và bàn cắt ở hình c cho ta hình ảnh về hai góc kề 
bù. 
 b) 
 c) 
Theo tôi, để giúp học sinh học hình tốt thì phải có trí tưởng tượng các hình trong 
đầu. Khi vẽ hình ra rồi vẫn phải tưởng tượng, quan sát một cách rõ nét trong 
đầu, từ đó giúp học sinh phát hiện ra được nhiều mối quan hệ hình, có nhiều 
đường để giải quyết bài toán. 
2. Biện pháp 2: Biện pháp giúp học sinh nhớ lý thuyết 
 5 
 - Giáo viên hướng dẫn học sinh hệ thống và khắc sâu các kiến thức cơ bản 
theo cách vẽ sư đồ tư duy về các định nghĩa, tính chất: 
=> Các lý thuyết trên chính là cơ sở, là căn cứ để giải thích cho các khẳng định 
trong quá trình giải các bài tập liên quan đến các góc ở vị trí đặc biệt. 
3. Biện pháp 3: Biện pháp giúp học sinh tìm được cách giải và trình bày lời 
giải 
 - Giáo viên cho học sinh làm các bài tập từ dễ đến khó 
 + Cho học sinh làm bắt đầu từ những bài tập dễ để giúp học sinh nhớ và 
hiểu sâu hơn lý thuyết. Khi làm bài tập, nên cho học sinh để vở ghi lý thuyết bên 
cạnh (không bắt học sinh học thuộc lý thuyết một cách máy móc), khi làm xong 
bài tập thì học sinh sẽ hiểu, nhớ phần lý thuyết đó. Đây là cách giúp học sinh 
hiểu sâu và nhớ lâu lý thuyết nhất. 
 + Khi học sinh đã nhớ và hiểu rõ lý thuyết, giáo viên cho học sinh làm bài 
tập ở mức khó hơn. 
 + Đối với bài tập dạng “về các góc ở vị trí đặc biệt” trong chương III hình 
học 7, có thể được chia làm 2 dạng sau: 
 Dạng 1: Bài tập cho dưới dạng hình vẽ 
 Ví dụ: 
 Bài 1: 
 Cho hình vẽ sau, biết ̂ = 560. 
 a) Hãy kể tên các cặp góc về: Hai góc 
 đối đỉnh; hai kề bù. 
 b) Tính số đo ̂′ ′; ̂′ 
Hướng dẫn học sinh vẽ hình: Có rất nhiều cách vẽ khác nhau, ta có thể vẽ theo 
trình tự sau: 
 6 
 - Vẽ tia BA 
 - Vẽ tia BC tạo với tia BA sao cho ̂ = 560. 
 - Vẽ tia đối của tia BA, tia đối của tia BC 
Hướng dẫn học sinh giải bài toán: 
 + Phần a các em tự làm 
 + Phần b: Để Tính được góc ̂′ ′ ta dựa vào góc đặc biệt nào? 
 Trả lời: Dựa vào 2 góc đối đỉnh 
 GIẢI 
a) HS tự giải 
b) * Ta có: ̂ = ̂′ ′ = 560 ( 2 góc đối đỉnh) 
 * Ta có: ̂ + ̂′ = 1800 ( 2 góc kề bù) 
 ̂′ = 1800 - ̂ 
 ̂′ = 1800 - 560 
 ̂′ = 1240 
 Vậy ̂′ ′ = 560; ̂′ = 1240 
Bài toán 1: Có thể phát biểu thành bài toán tổng quát như sau: 
 Bài 2: Cho hình vẽ sau, biết ̂ = m 
 ( 0< m <1800). Hãy tính số đo 
 ̂′; ̂′ ′; ̂′ 
 Dạng 2: Bài tập cho dưới dạng lời văn 
 - Các kỹ năng cần thiết khi giải bài tập hình: 
 Bước 1: Rèn kỹ năng vẽ hình 
 a) Vẽ hình với dạng toán cho sẵn hình 
 - Yêu cầu học sinh: quan sát hình vẽ thật kỹ → phân tích tìm ra trình 
tự vẽ vẽ lại hình. 
 b) Vẽ hình theo yêu cầu bài toán: 
 - Đọc kỹ đề bài, nên vẽ hình theo thứ tự từ đầu đến cuối của bài tập 
 - Vẽ hình cần chính xác, rõ ràng, giúp ta dễ phát hiện các quan hệ hình 
học trong bài toán, từ đó để tìm ra hướng giải bài toán. 
 - Không nên vẽ hình rơi vào trường hợp đặc biệt, để tránh ngộ nhận những 
 7 
tính chất mà bài toán không có. 
 Bước 2: Rèn kỹ năng phân tích bài toán và trình bày lời giải một bài toán 
 - Phân tích đề bài: Xác định rõ cái gì phải tìm? Cái gì đã cho? Cái phải 
tìm cần phải thỏa mãn những điều kiện gì? Những điều kiện đó có đủ để xác 
định cái phải tìm không? Xuất phát từ phần kết luận của bài toán, yêu cầu học 
sinh phải tư duy, kết hợp với các giả thiết của bài toán và các kiến thức đã học 
để tìm cách giải. 
 - Để làm được điều này, phương pháp thường làm của tôi là cho học sinh 
suy luận ngược, tức là đi từ đề bài yêu cầu đến đề bài đã cho. 
 Trong bước này giáo viên yêu cầu mỗi học sinh phải luôn đặt ra cho mình 
câu hỏi là: Để giải được bài này ta phải cần cái gì? câu hỏi này đặt ra liên tục 
cho đến khi nối được với giả thiết. 
 - Trình bày lời giải thì dùng phương pháp tổng hợp: Từ giả thiết đến kết 
luận, trong bước trình bày lời giải thì mỗi một khẳng định được đưa ra đều phải 
có căn cứ (tức là có phần giải thích kèm theo). 
 Bước 3: Rèn kĩ năng tổng quát hóa (với học sinh khá giỏi): 
Trong nhiều bài toán sau khi giải quyết xong thì giáo viên có thể tổng quát hoá 
bài toán nhằm nâng cao tư duy hình học cho học sinh như: 
 - Thay hằng số bởi biến. 
 - Thay điều kiện trong bài toán bằng điều kiện rộng hơn. 
 - Bỏ bớt một điều kiện của giả thiết để có bài toán tổng quát hơn ... 
 Ví dụ: 
 Cho góc bẹt AOB. Vẽ các tia OC, OD sao C
 0 0
 cho ̂ = 80 , ̂ = 10 và tia OD D
 ̂ 80°
 nằm trong góc . Hỏi tia OC và OD 10°
 có vuông góc với nhau không? Tại sao ? A O B
Gợi ý chứng minh: 
 ̂
+ Hai tia và có vuông góc với nhau không ta có thể tính số đo góc . 
 0 0
+ Nếu COD̂ = 90 thì hai tia và có vuông góc với nhau, còn khác 90 thì hai 
tia không vuông góc với nhau. 
 Lời giải 
 * Ta có AOĈ + COB̂ = 1800 (2 góc kề bù) 
 COB̂ = 1800 - AOĈ = 1800 - 800 = 1000 
 * Vì OD nằm giữa hai tia OC và OB suy ra 
 8 
 COD̂ + DOB̂ = COB̂ 
 COD̂ = COB̂ - DOB̂ 
 ̂ 0 0 0
 COD = 100 - 10 = 90 
 0
 COD̂ = 90 
 Suy ra tia OC vuông góc với tia OD 
4. Biện pháp 4: Biện pháp giúp học sinh biết cách tự học, tự nghiên cứu. 
 - Trong quá trình dạy học, để phát huy triệt để khâu chuẩn bị bài trước ở 
nhà của học sinh thì giáo viên cần: 
 + Đầu tư soạn giáo án thật chi tiết, chuẩn bị phiếu giao bài tập về nhà cho 
học sinh, các câu hỏi gợi mở liên quan đến bài mới tiết sau thật chi tiết, đầy đủ, 
dễ hiểu đối với học sinh. 
 + Đối với học sinh, thông qua các câu hỏi hoặc phiếu giao bài tập để tự 
đọc, tự nghiên cứu, tự tìm tòi kiến thức mới. 
PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP 
1. Kết quả thu được từ việc vận dụng các biện biện pháp 
- Sau khi áp dụng giải pháp trên tôi thấy, học sinh nắm vững lý thuyết tốt hơn, 
nhớ lâu hơn. Biết vẽ hình chính xác hơn, trình bày bài giải hình học logic và 
chặt chẽ hơn, các em có hứng thú học hơn và không còn cảm giác sợ môn hình 
như trước nữa. Do đó có nhiều em tiến bộ hơn về điểm số qua các bài kiểm tra. 
Cụ thể điểm khảo sát HK I năm học 2024 – 2025 của các em như sau: 
 Điểm < 5 Điểm 5 Điểm 7 
 STT TSHS 
 SL % SL % SL % 
 7A 44 1 2,3 22 50 21 47,7 
 7B 44 6 13,6 28 63,7 10 22,7 
 Tổng 88 7 8 50 56,8 31 35,2 
 - Sản phẩm của học sinh: Có trong file PowerPoint phần thuyết trình 
 - Với giải pháp này, tôi đã áp dụng cho học sinh và tôi nhận thấy giải pháp 
này cũng phù hợp với thực tiễn của trường THCS Xuân Lương. 
 - HS được rèn phương pháp tự học, tự phát hiện vấn đề, nắm vững lý 
thuyết, biết vẽ hình, biết trình bày lời giải khoa học. 
 - Qua đó, có nhiều học sinh rất thích học môn hình, không còn cảm giác 
sợ môn hình, có hứng thú giải bài tập phần “chứng minh hai đường thẳng song 
 9 
song” nói riêng và bài tập hình học 7 nói chung. 
 + Các em đã tích cực hơn trong học tập bộ môn Toán đặc biệt là trong các 
tiết hình học, từ đó đã tạo được sự hứng thú, kích thích học tập của học sinh. 
 + Do tính trực quan cao nên học sinh yếu, kém cũng đã tham gia phát biểu 
và tạo cảm hứng ham mê môn học. 
 + Học sinh hình thành việc tự học để hoàn thiện bản thân góp phần phát 
triển phẩm chất và năng lực của học sinh. 
 Để đánh giá lợi ích thu được sau khi áp dụng biện pháp tôi tiến hành kiểm 
tra chất lượng học sinh và chấm điểm bài kiểm tra, tôi có đánh giá kết quả thực hiện ở 
những góc độ như sau: 
* Về định tính: 
 Để đánh giá kết quả, tôi đã tiến hành thăm dò ý kiến của học sinh trong 2 
lớp 7A, 7B và thu được kết quả như sau: 
 Bảng kết quả khảo sát về mức độ hứng thú của học sinh giữa tháng 
12/2024 
 STT Mức độ hứng thú Số HS Tỉ lệ (%) 
 1 Rất hứng thú 30 34.09 
 2 Hứng thú 37 42.05 
 3 Trung bình 18 20.45 
 4 Chán nản và mệt mỏi 3 3.41 
 Tổng 88 100% 
2. Đánh giá điểm mới, tính khả thi áp dụng giải pháp. 
2.1 Điểm mới: 
 - Thay đổi hình thức tổ chức dạy học môn Toán. 
2.2. Tính khả thi: 
 - Hình thành kĩ năng tự học, kĩ năng sử dụng dụng cụ học tập, kĩ năng trình 
bày lời giải. 
PHẦN D. CAM KẾT 
Tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; các biện pháp đã triển 
khai thực hiện và minh chứng về sự tiến bộ của học sinh là trung thực. Nếu sai 
tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. 
 Xuân Lương, ngày 26 tháng 02 năm 2025 
 GIÁO VIÊN 
 Lý Văn Hưng 
 10 
PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG 
1. Đánh giá, nhận xét của tổ/nhóm chuyên môn 
Giải pháp mà giáo viên đề xuất mang tính thực tiễn cao, bám sát với yêu cầu đổi 
mới giáo dục hiện nay. Nội dung giải pháp thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, tâm 
huyết và sáng tạo trong quá trình giảng dạy. Giáo viên đã vận dụng linh hoạt các 
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, phát huy được tính tích cực, chủ 
động và sáng tạo của học sinh. Đồng thời, giải pháp có tính khả thi, có thể áp 
dụng rộng rãi trong thực tế giảng dạy, góp phần nâng cao hiệu quả học tập của 
học sinh cũng như chất lượng giáo dục tại đơn vị. 
 TỔ PHÓ CHUYÊN MÔN 
 Thân Cao Cường 
2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng 
 Báo cáo biện pháp “Giúp học sinh làm tốt bài tập về các góc ở vị trí đặc 
biệt trong chương III Hình học 7”của đ/c Lý Văn Hưng được xây dựng và thực 
hiện tại trường THCS Xuân Lương, Yên Thế đã mang lại hiệu quả rất tích cực. 
Giải pháp cần được nhân rộng trên phạm vi toàn huyện. 
 THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ 
 (ký và đóng dấu) 
 HIỆU TRƯỞNG 
 Đoàn Đình Nghĩa 

File đính kèm:

  • pdfgiup_hoc_sinh_lam_tot_bai_tap_ve_cac_goc_o_vi_tri_dac_biet_t.pdf
Bài giảng liên quan