Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo chương trình giáo dục phổ thông 2018
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
1 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Như chúng ta đã biết, trong chương trình toán ở Tiểu học thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh và khó khăn hơn đối với học sinh lớp 3. Do học sinh lớp Ba: Vốn hiểu biết, vốn từ ngữ, khả năng đọc hiểu văn bản, khả năng tư duy toán học của các em còn hạn chế. Thực tế là còn một số em học sinh chưa chủ động học tập, chưa học tập tích cực, ngại phát biểu, còn rụt rè, chưa mạnh dạn trước lớp. Với bài toán có lời văn một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra cách giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải hoặc có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy. Thực trạng hiện nay cho thấy, khi giải bài toán có lời văn các em còn lúng túng và gặp nhiều khó khăn, kỹ năng tính toán, ngôn ngữ toán học còn hạn chế, trình bày bài giải còn thiếu chính xác. Một số em còn dập khuôn, bắt chước, chưa có biện pháp học toán và giải toán. Vì vậy, nếu các em được hướng dẫn cách giải bài toán có lời văn một cách chủ động, tích cực và sáng tạo ngay từ lớp 3 sẽ là bước tạo đà vững chắc để các em giải toán có lời văn ở các lớp tiếp theo được tốt hơn. Nhận thức được tầm quan trọng của việc giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3, tôi đã mạnh dạn chọn và đưa ra: “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo chương trình giáo dục phổ thông 2018”. 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đưa ra một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo chương trình 2018. Từ đó áp dụng, nhân rộng các biện pháp hướng dẫn giải toán có lời văn cho học sinh khối 3 cũng như học sinh toàn trường. 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu để làm rõ một số nội dung sau: - Thực trạng chất lượng giải toán có lời văn của học sinh lớp 3. - Yêu cầu về giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 3. - Biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 3 giải toán có lời văn. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Thực trạng chất lượng giải toán có lời văn của học sinh lớp 3. Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo chương trình giáo dục phổ thông 2018. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 3A năm học 2022 - 2023. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp quan sát - Phương pháp điều tra - Phương pháp phân tích tổng hợp II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Năm học 2022 - 2023 là năm học thứ ba thực hiện chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và cũng là năm đầu tiên thực hiện đổi mới chương trình đối với lớp 3. Theo CT GDPT 2018, môn Toán cấp tiểu học nhằm giúp học sinh đạt các mục tiêu: Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần đạt: Thực hiện được các thao tác tư duy ở mức độ đơn giản; nêu, trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề đơn giản; lựa chọn được các phép toán và công thức số học để trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, cách thức giải quyết vấn đề. Ngoài ra, còn sử dụng ngôn ngữ toán học kết 3 hợp với ngôn ngữ thông thường, động tác hình thể để biểu đạt các nội dung toán học ở những tình huống đơn giản trong thực tế đời sống. Toán học hiện nay còn chú trọng tính ứng dụng gắn kết với thực tiễn. Dạy học toán học ở tiểu học là hoàn thiện những gì vốn có trong học sinh. Chương trình GDPT mới quán triệt tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, chú ý nhu cầu, năng lực nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân học sinh. Trong chương chương môn Toán lớp 1 và lớp 2, các em đã được làm quen với giải toán có lời văn. Lên lớp 3 các em tiếp tục thực hiện giải toán có lời văn nhưng yêu cầu kiến thức ở mức độ cao hơn. Các em phải tìm hiểu đề toán, tìm câu lời giải, tìm các phép tính phù hợp. Trong quá trình dạy và học, thầy cô giáo chỉ là người đóng vai trò tổ chức các hoạt động học tập, giúp các em đi đúng hướng để tiếp thu kiến thức một cách chủ động và sáng tạo nhằm phát triển một số năng lực, phẩm chất cơ bản của người học. Giải toán có lời văn góp phần củng cố, nâng cao kiến thức toán học, rèn luyện khả năng diễn đạt, góp phần phát triển tư duy toán học cho học sinh. Tôi thiết nghĩ, nếu học sinh lớp 3 làm tốt các bài tập về giải toán có lời văn thì không chỉ kiến thức toán học được củng cố mà còn giúp các em nâng cao khả năng tư duy và lập luận, giải quyết vấn đề của bản thân, giải quyết các bài toán trong thực tế cuộc sống một cách hiệu quả. 2. Cơ sở thực tiễn Trong năm học 2022 - 2023 được sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường, tôi nhận nhiệm vụ giảng dạy và chủ nhiệm lớp 3A, qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: 2.1 Thuận lợi 2.1.1. Đối với giáo viên Đội ngũ giáo viên khối lớp 3 đều có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn. Các giáo viên trong khối, tổ luôn tận tình hướng dẫn, hỗ trợ, trao đổi chuyên môn. Giáo viên dạy lớp 3 được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn. 4 Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo hướng dẫn tạo mọi điều kiện giúp đỡ giáo viên trong quá trình giảng dạy. Các phòng học được trang bị đầy đủ bàn ghế đúng quy định, 100% ti vi có kết nối mạng internet thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. 2.1.2. Đối với học sinh Đặc biệt với phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm hiện nay giúp các em có cơ hội học tập và chủ động nắm chắc kiến thức. Các bài toán có lời văn ở lớp 3 đa dạng và phong phú các dạng bài, có nhiều cách giải nên kích thích sự tìm tòi chủ động nghiên cứu của các em học sinh. 2.2 Khó khăn 2.2.1 Đối với giáo viên Là năm đầu tiên thực hiện thay sách đối với lớp 3 nên khi tổ chức các hoạt động học tập của học sinh còn lúng túng. 2.2.2 Đối với học sinh Với một bài toán có lời văn một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra cách giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải hoặc có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy. Một số em chưa được bố mẹ quan tâm do đi làm ăn xa nên việc học tập của các em cũng bị ảnh hưởng. Các em ngại phát biểu, rụt rè, chưa mạnh dạn trước lớp. Thói quen tự đánh giá bài, chia sẻ kết quả với bạn của một số em còn hạn chế. 2.3 Kết quả của thực trạng Để nắm bắt được thực trạng giải toán có lời văn của học sinh lớp 3A, tôi đã thực hành khảo sát, kết quả như sau: 5 Kết quả kiểm tra năng lực giải toán có lời văn Kết quả đánh giá Nội dung đánh giá Tổng số học sinh Số lượng Tỉ lệ (%) Giải toán thành thạo 21 8 38,1% Giải toán còn chậm 21 7 33,33% Chưa nắm được cách giải 21 6 28,57% toán Qua bảng thống kê trên, tôi thấy học sinh lớp tôi có kỹ năng giải toán còn chậm và nhiều em chưa biết giải bài toán có lời văn. 2.4. Nguyên nhân thực trạng Do các em có nhận thức không đồng đều, việc nắm bắt kiến thức còn chênh lệch. Lên lớp 3 lượng kiến thức mới sẽ nhiều hơn, đôi khi khiến các em học xong rồi chuyển sang dạng mới dễ quên hoặc dễ nhầm lẫn. Một số em nhút nhát, thiếu tự tin và lười đọc, lười phân tích khi thấy bài toán dài nhiều chữ. Từ những lí do trên, tôi nhận thấy rằng cần phải có biện pháp dạy học để hướng dẫn học sinh lớp 3 giải toán có lời văn hiệu quả. 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp thứ nhất: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu và tóm tắt bài toán. Sau khi cho học sinh đọc và tìm hiểu đề bài toán giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán: * Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng lời: 6 Tóm tắt bằng lời là việc dùng những kí hiệu và lời để lược bỏ những lời văn không còn giá trị về mặt lôgíc trong bài toán, để học sinh dễ nhận ra các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố đó hơn. Ví dụ: Ôn tập phép cộng, phép trừ trong phạm vi 1000 (SGK tập 1 - trang 8) Bài toán 3: Quyển sách có 148 trang. Minh đã đọc được 75 trang. Hỏi còn bao nhiêu trang sách Minh chưa đọc ? Khi tóm tắt bài toán này học sinh rất thuận lợi, thường không hay vướng mắc, không hay gặp sai sót. Tóm tắt: Quyển sách: 148 trang Minh đã đọc: 75 trang Còn: ..... trang sách Minh chưa đọc ? Tuy nhiên, tôi vẫn lưu ý nhấn mạnh cho học sinh biết khi tóm tắt bài toàn này, hai dòng đầu là những cái đã cho của bài toán, dòng thứ 3 là cái phải tìm nên cần phải đặt dấu chấm hỏi vào cuối câu. Với cách làm này học sinh rất nhớ dữ kiện của bài toán. Khi học sinh đã thành thạo với việc tóm tắt trên thì các dạng toán khác cũng có thể tóm tắt như vậy. * Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng Ví dụ: Gấp một số lên một số lần (SGK tập 1 - trang 22) Bài toán 2: Mẹ rót nước mơ vào hai chiếc bình. Bình nhỏ có 2l nước mơ, bình to có số lít nước mơ gấp 5 lần bình nhỏ. Hỏi bình to có bao nhiêu lít nước mơ ? Tôi đã hướng dẫn học sinh như sau: * Tìm hiểu, phân tích bài toán: - GV: Bài toán cho biết gì? - HS: Bình nhỏ có 2l nước mơ; bình to có số lít nước mơ gấp 5 lần bình nhỏ 7 - GV: Bài toán hỏi gì ? - HS: Bình to có bao nhiêu lít nước mơ ? * Hướng dẫn tóm tắt bài toán : - GV: Cô biểu diễn số lít nước mơ của bình nhỏ bằng một đoạn thẳng tương ứng với 2 ô li to (giáo viên vừa nói vừa vẽ). - GV: Theo đầu bài, biểu diễn số lít nước mơ ở bình to như thế nào? - HS: Vẽ đoạn thẳng dài gấp 5 lần đoạn thẳng trên (gồm 10 ô ly to) - GV: Vẽ đoạn thẳng biểu diễn số lít nước mơ ở bình to gồm 5 đoạn thẳng (mỗi đoạn có độ dài bằng nhau và bằng độ dài đoạn thẳng biểu diễn số lít nước mơ ở bình nhỏ) Từ đó, tôi cùng hướng dẫn học sinh hoàn thành sơ đồ tóm tắt bài toán như sau: Để giúp các em dễ thể hiện trên sơ đồ, tôi đã hướng dẫn học sinh biểu diễn cách kẻ dòng kẻ ô li trong vở hoặc kẻ theo ô vuông để các em dễ thao tác và thực hiện một cách nhanh nhất. Khi tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng, một đầu đoạn thẳng của cả hai đại lượng đó phải thẳng nhau. Có như vậy ta sẽ xác định được số liệu cần phải tìm dựa trên cái đã biết trên sơ đồ. Tóm tắt bài toán cần qua bước tìm hiểu kĩ đề bài (như đã trình bày ở trên) đồng thời, khi đã tóm tắt được bài toán thì học sinh còn có thể hiểu đề bài rõ hơn, nhìn đề bài một cách tập trung hơn, khái quát hơn. Dựa vào sơ đồ, các 8 em không chỉ tìm ra hướng giải đúng mà có thể còn giúp các em tìm ra hướng giải hay, có khi còn tìm ra nhiều cách giải khác nhau. 3.2. Biện pháp thứ hai: Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán và giải bài toán. + Bước 1: Tìm hiểu dạng bài toán. Để giải được bài toán trước hết tôi yêu cầu các em đọc và tìm hiểu bài toán đó xem thuộc dạng toán nào. Từ đó, các em sẽ phân tích được bài toán và tìm ra lời giải, tìm ra phép tính và thực hiện giải đúng bài toán. Trong chương trình toán lớp 3 của bộ sách Cánh Diều, các em được học thêm các dạng toán khác như: Các bài toán liên quan đến bảng nhân 6 cho đến bảng chia 9, gấp một số lên một lần, giảm một số đi một số lần, bài toán so sánh số lớn gấp mấy lần số bé, giải bài toán có đến hai bước tính, bài toán về tính chu vi, diện tích hình vuông, diện tích hình chữ nhật,... Đối với việc nắm bắt bài toán là rất quan trọng để hướng dẫn học sinh nắm được nêu được bài toán đó thuộc dạng toán nào? Toán thêm, bớt, hay tìm tất cả, ít hơn, nhiều hơn, gấp hoặc giảm một số đi một số lần, Giáo viên coi phân tích bài toán là một quá trình tách bài toán thành phần nhỏ, đơn giản để đi đến thiết lập cách giải. Từ đó giúp học sinh hiểu rõ bài toán, nhất là với học sinh chậm hiểu. *Ví dụ : Bảng chia 9 (SGK tập 1 - trang 50) Bài toán: Sau khi chế biến 81 kg nhãn tươi thành long nhãn, cô Yên thu được số ki-lô-gam long nhãn giảm đi 9 lần so với ki-lô-gam nhãn tươi. Hỏi cô Yên đã thu được bao nhiêu ki-lô-gam long nhãn ? Trước khi học sinh học đến bài bảng chia 9 thì bài học trước đó các em đã được học bài: “Giảm một số đi một số lần”. Khi tổ chức cho học sinh làm bài 9 toán trên giáo viên tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm cộng tác để cùng hỏi và trả lời các câu hỏi liên quan đến bài toán như sau: Bài toán cho biết gì? (Chế biến 81 kg nhãn tươi) Bài toán biết gì nữa? (Số kg long nhãn thu được giảm đi 9 lần so với kg nhãn tươi). Bài toán hỏi gì? (Cô Yên đã thu được bao nhiêu ki-lô-gam long nhãn ?) Đây là dạng toán gì? (Đây chính là dạng toán giảm một số đi một số lần: Giảm 81 kg đi 9 lần.) Khi học sinh đã nắm chắc hệ thống câu hỏi và gợi ý của giáo viên các em sẽ hiểu được yêu cầu của bài toán và xác định được cách giải của bài toán đó. Qua giải pháp này giúp các em hình thành và phát triển năng lực tư duy toán học, giao tiếp toán học: các em đọc, nhận biết được dạng toán, phát hiện và tập trung vào các dấu hiệu bản chất của bài toán. Đây cũng là một bước rất quan trọng trong các bước giải toán có lời văn. + Bước 2: Đưa ra phép tính và đơn vị phù hợp với bài toán Khi học sinh nắm được bản chất, dấu hiệu, tìm cái gì trong trong bài toán thì lúc này tư duy các em sẽ hình thành được phép tính. + Ví dụ từ bài toán trên: Khi học sinh nắm được dạng toán thì giáo viên có thể hỏi: - Để tìm ra được kết quả của bài toán thì ta thực hiện như thế nào? (Thực hiện phép tính: 81 : 9) Lúc này các em đã hiểu cách làm có thể tính nhanh, tính nhẩm hoặc đặt phép tính đối với các bài toán khác. Sau đó, các em phải xem ghi đơn vị sau phép tính là gì cho chính xác với bài toán. Khi đã tìm ra phép tính cùng đơn vị 10 tức là học sinh được rèn năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tính toán để học sinh thực hiện giải bài toán. + Bước 3: Trình bày bài giải Từ việc phân tích ví dụ trên học sinh có thể chủ động giải được bài toán: Bài giải Cô Yên thu được số ki-lô-gam long nhãn là: 81 : 9 = 9 (kg) Đáp số: 9 kg long nhãn. + Bước 4: Kiểm tra lại bài giải Sau khi học sinh trình bày được bài giải, tôi hướng dẫn các em kiểm tra lại cách trình bày về lời giải, phép tính đã tính đúng hay chưa, đơn vị chính xác, đầy đủ chưa? có thể có hướng giải nào khác nữa không ? Từ đó, các em sẽ tự chủ, nhận thức được cách thức làm. Từ bước kiểm tra lại bài giải, khi giải bài toán có lời văn, tôi đã chú trọng đến việc rèn kỹ năng trình bày bài giải theo nhiều câu lời giải khác nhau nhưng cùng một nội dung sao cho ngắn gọn, đầy đủ, súc tích. Ví dụ: Giải bài toán có đến hai bước tính (SGK tập 1 - trang 85) Bài toán 2: Anh sưu tập được 35 vỏ ốc, em sưu tập được ít hơn anh 16 vỏ ốc. Hỏi cả hai anh em sưu tập được bao nhiêu vỏ ốc ? Khi yêu cầu học sinh giải bài toán này, tôi đã hướng học sinh tìm ra một số câu lời giải thứ nhất của bài toán, có thể như sau : - Số vỏ ốc của em đã sưu tập được là: - Em đã sưu tập được số vỏ ốc là: - Số vỏ ốc mà em đã sưu tập được là: 11 Để viết được phép tính thứ nhất, tôi đặt câu hỏi giúp học sinh nhận ra từ “điểm tựa” và xác định dạng toán. Với bài toán trên, học sinh nhận biết từ điểm tựa là từ “ít hơn”. Câu lời giải khác nhau nhưng phép tính thứ nhất sẽ thực hiện: Lấy số lớn (số vỏ ốc của anh) trừ đi số ít hơn16, phép tính là : 35 – 16 = 19 Tiến hành tương tự, lời giải thứ hai của bài toán có thể là : - Cả hai anh em sưu tập được số vỏ ốc là: - Anh và em đã sưu tập được số vỏ ốc là: - Số vỏ ốc của cả hai anh em là: Để viết được phép tính thứ hai, tôi đặt câu hỏi giúp học sinh nhận ra từ “điểm tựa” và xác định dạng toán. Với bài toán trên, học sinh nhận biết từ điểm tựa là từ “cả”. Câu lời giải khác nhau nhưng phép tính thứ hai sẽ thực hiện: Lấy số vỏ ốc của anh cộng với số vỏ ốc của em vừa tìm ra, được phép tính: 35 + 19 = 54 Đối với học sinh lớp 3 khi học sinh đã có những lí giải, suy luận cho các câu lời giải là các em đã hiểu vấn đề, hiểu bài toán có sự tư duy, lập luận cho một bài toán dẫn đến việc các em giải bài toán một cách dễ hiểu, dễ thực hiện. 3.3. Biện pháp thứ ba: Vận dụng đặt một bài toán thực tế Trong toán học, các em sẽ phát triển kĩ năng phân tích, lập luận, tư duy logic và các kĩ năng tính toán thông qua ngôn ngữ toán học. Khi các em đã giải được một bài toán có lời văn thì chắc chắn các em đã hiểu được ngữ cảnh trong đề bài, từ ngữ, số liệu trong bài. Trong thực tế giảng dạy, tôi đã cho các em tự đặt ra một bài toán tương tự liên quan đến cách tính như vậy nhưng phải có tính ứng dụng thực tế để các em được chủ động, sáng tạo liên hệ với thực tế nhiều hơn. Ví dụ: Giải bài toán có đến hai bước tính (SGK tập 1 - trang 85) 12 Khi học sinh đã giải được các bài toán trong sách giáo khoa rồi, đối với các em học sinh khá, giỏi có thể nêu miệng hoặc viết nhanh bài toán của mình ra giấy để cùng giải quyết, thảo luận đi tìm cách giải. Học sinh vận dụng đặt một bài toán thực tế * Ví dụ: Bài: Bảng nhân 7 (SGK tập 1 - trang 24) Phần ứng dụng thực tế, các em học sinh cũng sẽ chủ động đặt một bài toán, như: Để vận dụng được nhu cầu vận dụng toán học vào thực tế nói cách khác là giúp học sinh thấy được tầm quan trọng, tính hữu ích của Toán học trong cuộc sống hàng ngày. Để làm được điều đó, nhằm kích thích hứng thú học tập cho học 13 sinh, làm cho việc học tập trở nên tự giác, tích cực, chủ động tôi sẽ bổ sung thêm những tình huống, bài tập có nội dung thực tế vào chương trình giảng. 3.4. Biện pháp thứ tư: Tổ chức dạy học theo nhóm cộng tác Trong quá trình dạy và học, mỗi em học sinh đều có sự nhận thức khác nhau, có thể không đồng đều. Và để học sinh hiểu bài từ đối tượng học sinh khá giỏi đến học sinh còn chậm còn yếu là cả một quá trình. Vậy nên cần theo sát đối tượng, theo từng cá nhân học sinh, kết hợp chia sẻ, giúp đỡ của học sinh trong nhóm bàn, cả lớp, để hiểu bài, học hỏi lẫn nhau về ý nghĩa, cách giải bài toán có lời văn. Tôi đã thực hiện: - Đối với học sinh khá giỏi phân tích giải được bài toán: Giáo viên khích lệ, tuyên dương tạo cơ hội cho các em phân tích bài toán trước lớp, đưa ra các cách giải bài toán cho cả lớp lắng nghe. Từ đó, học sinh nắm được phần nào cách giải bài toán. Hoặc cho các em học sinh đó hướng dẫn, hỗ trợ bạn trong nhóm đôi hay nhóm 4 sao cho có kết quả các bạn trong nhóm đều nắm được cách giải bài toán. - Đối với học sinh chậm chưa nắm được yêu cầu bài toán và cách giải: Giáo viên sẽ dành thời gian phân tích kĩ lưỡng dữ kiệu đề bài đặt ra câu hỏi gợi mở, hướng học sinh vào những dấu hiệu bản chất của bài toán để biết rõ được bài toán cần chúng ta đi tìm cái gì. Và tạo cơ hội cho các em suy nghĩ học hỏi các bạn theo nhóm cộng tác phát huy tối đa hiệu quả của “Đôi bạn cùng tiến”, tôi đã chủ động sắp xếp chỗ ngồi của học sinh có nhận thức nhanh, làm toán tốt sẽ hỗ trợ các bạn có tiếp thu chậm giúp học sinh có thói quen tương tác khi gặp khó khăn, tự học hỏi lẫn nhau để đạt hiệu quả trong giờ học. 14 Học tập theo nhóm cộng tác trong giờ toán Trong các giờ toán, tôi luôn hướng học sinh học tập theo hình thức này. Như giải quyết một bài toán lời văn hai học sinh sẽ tương tác: Bài toán này cho biết gì ? - Học sinh bên cạnh trả lời và hỏi lại về cách thực hiện phép tính, nêu ra dạng toán và giải bài toán đó ra vở hoặc ra nháp. Học tập cộng tác là điểm nhấn của hoạt động học tập theo nhóm nhưng đòi hỏi tính tự học cao của mỗi cá nhân học sinh. Sau đó đối tượng học sinh sẽ cùng trao đổi học tập theo nhóm (nhóm đôi, nhóm 4) và cuối cùng chia sẻ chung trước cả lớp. 15 Tích cực, chủ động chia sẻ trong giờ học toán Tôi sẽ luôn khuyến khích các em chủ động chia sẻ, học hỏi lẫn nhau. Bản chất của học tập cộng tác không phải để học sinh này dạy học sinh kia làm đúng bài toán hay đưa bài của mình cho bạn chép bài để cùng hoàn thành bài tập mà nhằm phát triển riêng mỗi cá nhân cả về kiến thức, kĩ năng và năng lực, phẩm chất. Những em học sinh có khả năng tiếp thu bài nhanh, vận dụng tốt sẽ hỗ trợ giúp đỡ bạn gặp khó khăn hiểu bài hơn vì các em dễ hiểu ngôn ngữ cùng trang lứa, phù hợp với phương châm “Học thầy không tày học bạn”. Mỗi lần được trình bày ý kiến hay hướng dẫn bạn là một lần học, củng cố kiến thức cho bản thân. Qua đó, học sinh sẽ hình thành, phát triển những năng lực, phẩm chất tốt đẹp cho trong cuộc sống, biết quan tâm, yêu thương, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau. Qua học tập cộng tác, các em học sinh có được trau dồi nhiều năng lực, phẩm chất cần có của một cá nhân tích cực. Thực tế cho thấy, những em gặp khó khăn về nhận thức sẽ luôn được cô giáo và các bạn quan tâm giúp đỡ. Các em không bị lãng quên, không bị bỏ lại phía sau mà có thêm động lực, niềm tin phấn đấu vươn lên trong học tập. 16 3.5. Biện pháp thứ năm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán Trong giảng dạy, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các bài học đã được đẩy mạnh thực hiện các trường học, cấp học. Ở trường tôi, các lớp đã được trang bị 100% ti vi có kết nối mạng internet nên việc khai thác và sử dụng để dạy học đã đem lại rất nhiều hiệu quả. Những kênh, phần mềm, học liệu mà tôi đã ứng dụng vào dạy học toán hằng ngày như: Youtube, học 10, Microsoft Power Point, OLM, Việc dùng tranh ảnh, sơ đồ, video sẽ kích thích trí nhớ, tưởng tượng của các em thêm phong phú giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đặc biệt với giải toán có lời văn, khi dạy học tôi thường xuyên trình chiếu Powerpoint và khai thác trực tiếp trên “Hoc 10” để học sinh có thể làm bài trực tiếp và kiểm tra bài một cách nhanh chóng hiệu quả, dễ hiểu. Giáo viên khai thác phần mềm “Học 10” 17 Học sinh thực hành làm bài tập trên phần mền “Học 10” Nhờ ứng dụng CNTT trong dạy học, môn Toán trở nên thú vị, hấp dẫn hơn bao giờ hết sẽ kích thích phát triển về kỹ năng và tư duy. Bằng việc kết hợp đa phương tiện, giờ học Toán sẽ được tích cực hóa, giáo viên không phải mất thời gian để sưu tầm và làm đồ dùng dạy học như trước. Chỉ cần mở máy tính và ti vi thì giáo viên sẽ đưa được rất nhiều hình ảnh trực quan để học sinh quan sát giúp các em học tập một cách hiệu quả hơn. Tuy nhiên, giáo viên không nên lạm dụng CNTT mà lựa chọn sử dụng phù hợp với thực tế nội dung bài học để phát huy tối đa tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh. 3.6. Biện pháp thứ sáu: Tạo hứng thú cho học sinh thông qua hoạt động trò chơi Tổ chức trò chơi toán, những bài tập vui và nhẹ nhàng trong giờ học toán. Học sinh tự học hoặc tham gia vào các trò chơi cùng bạn theo tinh thần “Học mà chơi, chơi mà học” một cách hứng thú và bổ ích. Việc tổ chức trò chơi học tập ở môn Toán đối với học sinh lớp 3 là một trong những yêu cầu cần thiết nhằm khắc sâu kiến thức cho các em, góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Đối với 18 lứa tuổi tiểu học, các em có tính hiếu động, ít chịu ngồi yên. Nếu các em được tham gia vào các trò chơi bổ ích và lý thú thì đó là điều kỳ diệu đối với các em. Tạo hứng thú học tập có tác dụng to lớn trong việc giúp học sinh học tập một cách tích cực, tự giác, sáng tạo. Ở một số tiết học, tôi tổ chức cho học sinh cả lớp chơi trò chơi: “Ai nhanh, ai đúng?; dạng bài Đ/S; dạng bài điền khuyết ... Giáo viên sẽ chiếu bài toán lên ti vi, kèm theo các đáp án A, B, C, D để học sinh lựa chọn... hoặc cho sẵn đáp án để chọn Đ/S ... * Ví dụ: Bài toán 4 (SGK tập 1 - trang 81) Chú Lộc chia đề 800g cá cơm thành 2 phần bằng nhau. Hỏi mỗi phần có bao nhiêu gam cá cơm? A. 350g cá cơm B. 400g cá cơm C. 450g cá cơm D. 500g cá cơm Hoạt động Trò chơi trong giờ học toán Qua trò chơi học sinh được trải nghiệm, làm việc cá nhân, rèn tính nhanh nhẹn thi đua giữa các cá nhân, các nhóm, tổ với nhau. Tạo hứng thú cho các em 19 tiếp thu bài một cách tự nhiên, chính xác. Học sinh vui mà học sẽ nhớ kiến thức lâu hơn. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Học sinh lớp 3A, sau khi được áp dụng các biện pháp của tôi cùng sự cố gắng nỗ lực của các em. Kết thúc học kì I, tôi cho các em khảo sát giải bài toán có lời văn và đã cho kết quả như sau: Kết quả kiểm tra năng lực giải toán có lời văn: Tổng Kết quả đánh giá đầu Kết quả đánh giá cuối Nội dung đánh số học năm học kì I giá sinh Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Giải toán 21 8 38,1% 17 80,95% thành thạo Giải toán còn 21 7 33,33% 4 19,05% chậm Chưa nắm được cách giải 21 6 28,57% 0 0% toán Qua bảng số liệu, tôi nhận thấy kỹ năng giải toán có lời văn của học sinh tiến bộ rõ rệt, không còn trường hợp học sinh chưa nắm được cách giải toán. Học sinh giải chậm giảm đáng kể và học sinh giải thành thạo đã tăng lên nhiều so với đầu năm là 9 em chiếm 42,85%. Đó là kết quả của cả quá trình vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp đã nêu. Học sinh đã yêu thích học môn Toán hơn, không còn cảm thấy ngại học toán đặc biệt là giải toán có lời văn. Các bài toán có lời văn trở lên gần gũi, thân thuộc với các em. 2. Ứng dụng 20 Biện pháp của tôi có thể áp dụng cho học sinh khối lớp 3 cũng như áp dụng cho học sinh các khối lớp khác trong nhà trường, trong việc dạy học nội dung giải toán có lời văn ở lớp 3 theo Chương trình GDPT 2018. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Qua quá trình áp dụng các biện pháp khoa học vào việc hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp mình, tôi thấy học sinh đón nhận giờ học hào hứng say mê hơn. Số học sinh giải thành thạo bài toán có lời văn được tăng lên rõ rệt. Các em tự tin hơn trong mỗi giờ học toán, các em cảm thấy học toán mà vui, học mà chơi, được chơi mà học. Các em đã có kỹ năng thực hiện giải được bài toán có lời văn cũng như hiểu bản chất của các bài toán có lời văn. Nội dung các bài toán gắn liền với thực tế đã giúp các em giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. Từ đó, các em sẽ phát triển năng lực toán học như giải quyết vấn đề, tư duy lập luận, giao tiếp toán học,... được phát huy chủ động hơn. Để có được kết quả như trên, người giáo viên phải có lòng yêu nghề, mến trẻ kiên trì vượt mọi khó khăn trong công tác bởi vì nhận thức của học sinh không đồng đều thái độ tâm lý có sự khác biết ở mỗi học sinh. Chính vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải hết sức nhiệt tình bảo ban hướng dẫn tạo cơ hội, dành thời gian cho các em tự chủ, tự chiếm lĩnh kiến thức, để các em dần dần hình thành nền nếp, thói quen học tập tốt. Người giáo viên không ngừng học hỏi, bồi dưỡng năng lực, để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Vận dụng linh hoạt sáng tạo những nguồn trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm, sách mềm, ... vào giảng dạy sao cho hiệu quả. Ngoài ra, người giáo viên cần phối hợp với phụ huynh học sinh thường xuyên hơn qua nhóm zalo, điện thoại thông minh, ... để hỗ trợ tạo điều kiện cho con em mình học tập một cách hứng thú và hiệu quả nhất.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_huong_dan_hoc_sinh_lop_3_giai_toan_co_loi_v.doc



