Một số giải pháp nâng cao kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4

docx27 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 12/02/2026 | Lượt xem: 11 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số giải pháp nâng cao kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
 I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn biện pháp
Như chúng ta đã biết, phân môn Tập làm văn giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong 
dạy và học môn Tiếng Việt. Phân môn Tập làm văn của lớp 4 bao gồm các thể loại như 
viết thư, kể chuyện, đơn từ trong đó văn miêu tả được học và chiếm thời gian nhiều 
nhất. Văn miêu tả là thể loại văn dùng lời nói, chữ viết có hình ảnh và có cảm xúc làm 
cho người nghe người đọc hình dung một cách cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc 
như nó vốn có trong đời sống. Khi viết một bài văn miêu tả không chỉ thể hiện rõ nét, 
chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc 
và đánh giá của người viết với đối tượng được miêu tả. Giáo viên cần định hướng cho 
học sinh viết bài: viết theo trình tự thời gian, không gian hay từ toàn thể đến bộ phận, 
từ bao quát đến cụ thể Từ đó, các em sẽ vận dụng để viết được một bài văn miêu tả 
hoàn chỉnh có hình ảnh sinh động, sáng tạo và giàu cảm xúc.
Qua thực tế giảng dạy và chấm bài tôi nhận thấy, đa số các em viết bài văn miêu tả 
thành văn kể, liệt kê một cách khô khan, nghèo nàn về từ, diễn đạt rườm rà, tối nghĩa, 
câu văn chỉ mang tính chất thông báo chứ chưa có hình ảnh, chưa biết sử dụng biện 
pháp nghệ thuật tu từ nên bài văn chưa có cảm xúc. Học sinh hay viết lan man, viết 
không đúng trọng tâm đề bài yêu cầu, dùng từ chưa chính xác, lặp từ ngữ, kiểu câu đơn 
điệu Phần lớn, các em lười suy nghĩ chỉ biết sao chép văn mẫu có sẵn. Để hoàn thành 
bài văn miêu tả học sinh lớp 4 thường gặp rất nhiều khó khăn. Với giáo viên, đây cũng 
là dạng bài khó dạy. Khi vận dụng phương pháp chưa thực sự sáng tạo trong việc tổ 
chức các hoạt động học tập của học sinh. Vì vậy, không phải giờ dạy văn miêu tả nào 
cũng đạt hiệu quả như mong muốn. Bên cạnh đó, việc tìm tòi phương pháp để hướng 
dẫn học sinh quan sát, tìm ý, lập dàn ý, tưởng tượng,... còn nhiều hạn chế. Từ những lí 
do trên, tôi rất băn khoăn, trăn trở và mạnh dạn đề ra giải pháp: “Một số giải pháp nâng 
cao kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4” với hy vọng góp phần nâng cao trình 
độ chuyên môn cho bản thân, nâng cao chất lượng dạy - học văn miêu tả ở lớp 4 cho 
học sinh 2. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích của giải pháp này là làm thay đổi thực trạng, khắc phục nhược điểm của học 
sinh trong giờ tập làm văn, góp phần nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh 
lớp 4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
- Thực trạng, nguyên nhân về việc dạy văn miêu tả lớp 4 từ đó tìm ra các giải pháp phù 
hợp với từng đối tượng học sinh. 
- Các giải pháp nhằm rèn cho học sinh các kĩ năng tư duy, phát triển ngôn ngữ, luyện 
tập kĩ năng viết văn, đồng thời cũng giúp cho học sinh kỹ năng tự học, tự giải quyết vấn 
đề để hoàn thành tốt bài văn miêu tả nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 
Đối tượng nghiên cứu:
- Thực trạng viết văn miêu tả của học sinh lớp 4.
- Một số giải pháp nâng cao kỹ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 4.
Phạm vi nghiên cứu:
- Học sinh lớp 4A.
5. Phương pháp nghiên cứu 
5.1. Phương pháp điều tra 
5.2. Phương pháp quan sát
5.3. Ứng dụng sơ đồ tư duy.
5.4. Phương pháp thực hành, phân tích, tổng hợp.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
1. Cơ sở lí luận 
Như chúng ta đã biết, văn miêu tả là một trong những thể loại văn rất quen thuộc, gần 
gũi và phổ biến trong cuộc sống cũng như trong các tác phẩm văn học nghệ thuật. Việc dạy văn miêu tả ở tiểu học là giúp học sinh hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc 
quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; biết truyền 
những cảm xúc chân thật của mình vào đối tượng miêu tả; biết sử dụng vốn từ ngữ có 
giá trị biểu cảm, những câu văn rõ ràng về nội dung, chân thực về tình cảm con người. 
Một bài văn mà khi đọc, người đọc thấy hiện ra trước mắt mình: cảnh vật, đồ vật, con 
người cụ thể, sống động như nó đang tồn tại trong thực tế cuộc sống đó chính là một 
bài văn hay. Văn miêu tả là một bức tranh về sự vật bằng ngôn từ. Để làm tốt một bài 
văn miêu tả, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của các môn học kết 
hợp với vốn sống thực tế sẽ giúp học sinh trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch 
lạc, đầy đủ và sống động. Qua đó, bồi dưỡng cho các em tình yêu thiên nhiên đất nước. 
Các em biết quý trọng và biết bảo quản những sự vật xung quanh cuộc sống, biết yêu 
quý và chăm sóc các con vật nuôi, cây cối thiên nhiên. Từ đó, các em có thể tích lũy vốn 
sống, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp của mình cho phù hợp với mọi hoàn cảnh 
trong cuộc sống. Đó chính là mục tiêu mà phân môn Tập làm văn lớp 4 cần hướng tới. 
2. Cơ sở thực tiễn 
Năm học 2022 - 2023 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4A. 
Quan thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy:
2.1. Thuận lợi
- Nhà trường quan tâm đầu tư cơ sở vật đảm bảo cho dạy học hai buổi/ngày. 100% các 
lớp có ti vi, bảng thông minh kết nối mạng phục vụ cho việc dạy và học.
- Giáo viên có năng lực, có phương pháp dạy học đảm bảo giảng dạy có hiệu quả. 
- Học sinh có tâm hồn trong sáng, thơ ngây, ham học tập.
2.2 Khó khăn 
- Một số giáo viên còn ngại khi phải dạy phân môn tập làm văn nên khi dạy còn lúng 
túng về phương pháp. Ít dạy chuyên đề tập làm văn trong các buổi sinh hoạt chuyên 
môn. - Việc chấm chữa bài còn chung chung, chưa sửa ý, câu hay cách dùng từ đặt câu, chưa 
chú trọng việc chữa bài trong tiết trả bài.
- Một số học sinh còn hiếu động, mải chơi, chưa tập trung trong việc học tập. Khả năng 
cảm thụ văn học còn hạn chế dẫn đến kết quả các bài viết chưa cao.
- Vốn từ ngữ của học sinh còn hạn hẹp. Phần lớn các em chưa có thói quen đọc sách, 
chưa ham đọc sách nên ít có sự say mê, hứng thú với các tác phẩm văn học. Mặt khác 
Tập làm văn là môn học khó nên các em ngại học, ngại viết và không mấy hứng thú. 
2.3. Thực trạng viết văn miêu tả của học sinh lớp 4
Trong thực tế, việc viết văn miêu tả ở học sinh lớp 4 còn chưa thực sự hiệu quả. Phân 
môn Tập làm văn lớp 4 là một phân môn khó với học sinh, mang tính trừu tượng cao 
nên đa phần học sinh không hào hứng với tiết học này. Vì vậy, có rất ít học sinh viết 
được bài văn miêu tả hay. 
Khả năng quan sát đối tượng miêu tả còn sơ sài, chưa thực sự linh hoạt khi sử dụng các 
giác quan, quan sát chưa theo trình tự, thấy gì tả đó nên những bài văn của các em 
mang đậm văn nói.
Vốn từ của học sinh còn hạn chế.
Học sinh gặp khó khăn khi xây dựng dàn ý của bài văn do HS chưa biết cách quan sát 
đối tượng, lựa chọn hình ảnh, nội dung miêu tả, tìm ý và sắp xếp ý.
Khi viết bài, câu văn rườm rà chưa gọn, dùng từ chưa chọn lọc, chưa sát với đối tượng 
tả, cảnh tả do vốn từ và cách viết câu văn giàu hình ảnh còn hạn chế.
Trong bài văn việc phát triển các đoạn văn còn hạn chế do học sinh chưa luyện tốt tiết 
xây dựng đoạn văn, mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng. Bài viết của học sinh khi chưa áp dụng giải pháp
 2.4. Kết quả khảo sát, nguyên nhân
 Để tìm hiểu kĩ năng viết văn miêu tả của học sinh lớp 4, tôi đã tiến hành kiểm tra để 
 đánh giá các mức độ của học sinh khi viết văn miêu tả. Tôi đã khảo sát kĩ năng viết văn 
 miêu tả của 21 học sinh lớp 4A - lớp tôi chủ nhiệm.
 Đề bài: Tả cái cặp sách của em.
 Kết quả khảo sát
 Thời điểm khảo sát/Số học sinh đạt
 Đầu Giữa học kì II
Nội dung cần đạt
 năm học
 SL TL SL TL Bài viết đúng yêu cầu, từ ngữ giàu hình ảnh, sử 
dụng biện pháp nghệ thuật, bài văn giàu cảm 2 9,5%
xúc.
Bài viết đủ bố cục, câu diễn đạt đủ ý, từ ngữ còn 
 16 76,2%
thiếu hình ảnh so sánh, nhân hóa.
Bài viết chưa đạt yêu cầu 3 14,3% 
 Qua bảng tổng hợp kết quả khảo sát cho thấy chất lượng viết văn miêu tả của học sinh 
 còn thấp, nhiều học sinh chưa biết dùng từ ngữ gọi tả.
 Nguyên nhân thực trạng
 Nhiều học sinh chưa có khả năng quan sát, phân tích, tổng hợp đối tượng được miêu tả 
 của học sinh còn hạn chế.
 Học sinh đã biết cách lập một dàn bài cho bài văn miêu tả nhưng cách sắp xếp các chi 
 tiết miêu tả hợp lý và chưa chi tiết.
 Phần lớn học sinh chưa quan tâm đến việc đọc nên vốn từ của các em còn chưa được 
 phong phú, khi viết chưa biết cách bộc lộ cảm xúc.
 Khi viết văn các em chưa biết lựa chọn từ ngữ, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn, nên kĩ 
 năng diễn đạt còn hạn chế. Học sinh chưa biết tưởng tượng, chưa biết vận dụng các 
 biện pháp nghệ thuật tu từ so sánh, nhân hoá khi viết văn. 
 Phần đông các em còn e ngại, lo sợ khi đến tiết trả bài, việc nhận ra lỗi và sửa lỗi của 
 các em còn chưa hiệu quả nên các em chưa thực sự cảm thấy yêu thích môn học.
 Xuất phát từ những lí do trên, để cải thiện chất lượng bài văn miêu tả cho học sinh lớp 
 4 cần thiết phải có những giải pháp phù hợp với thực tế. Giúp học sinh có kĩ năng viết 
 bài văn miêu tả sinh động và giàu cảm xúc.
 3. Các biện pháp 3.1. Giải pháp 1: Tăng cường vốn từ và lựa chọn từ ngữ miêu tả trong câu cho học sinh 
để viết tốt bài văn miêu tả.
Đối với học sinh, từ ngữ giống như những viên gạch góp phần xây dựng nền móng vững 
chắc đẻ tạo nên các sản phẩm là các câu văn, đoạn văn, bài văn. Để có được các sản 
phẩm ấy, đòi hỏi người học phải có vốn từ, biết kết nối các từ ngữ thành những câu văn, 
đoạn văn hay, có cảm xúc. Muốn vậy, các em phải hiểu nghĩa của các từ ngữ muốn dùng 
thì mới có thể sử dụng đúng, sử dụng hiệu quả trong việc diễn đạt tốt nội dung, ý kiến 
của mình. Tuy nhiên, thực tế vốn từ của các em còn rất nghèo nàn. Các em chưa hiểu 
hết ý nghĩa của các từ ngữ. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với giáo viên là làm sao bổ 
sung vào kiến thức của học sinh một số từ ngữ gợi hình, gợi tả âm thanh. Một cách làm 
nhanh nhất, hiệu quả là thông qua các bài đọc trong phân môn Tập đọc. Sau khi đọc 
thầm bài, tôi yêu cầu các em nêu các từ khó mà các em chưa hiểu nghĩa và tập giải thích 
theo ý hiểu của cá nhân của mình. Sau đó, tôi kết luận và đưa ra đáp án, yêu cầu các 
em ghi vào “Sổ tay”. Từ đó các em tập đặt câu với các từ vừa tìm được, làm như vậy các 
em sẽ hiểu và nắm chắc hơn.
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh học bài Sầu riêng. (Tiếng Việt lớp 4, tập 2, trang 34), tôi 
giúp các em bổ sung vào vốn từ của mình các từ ngữ và hình ảnh sau: thân khẳng khiu, 
quả lủng lẳng,...
Bài Con chuồn chuồn nước (Tiếng Việt lớp 4 tập 2 trang 127), tôi cho các em tìm hiểu và 
thêm vào vốn từ của mình các từ ngữ: lấp lánh, long lanh, mênh mông, thung thăng, 
cao vút, rì rào rồi có thể yêu cầu các em đặt câu với một trong các từ nêu trên.
Sau mỗi bài đọc trong phân môn Tập đọc giúp học sinh tích lũy được vốn từ khá lớn. 
Ngoài ra, tôi thường cho học sinh tự mình tìm những câu văn hay trong bài, những câu 
văn có hình ảnh đẹp... để các em có thể vận dụng vào bài viết của mình. Mỗi em có 
cách cảm nhận khác nhau nên việc lựa chọn các câu văn, hình ảnh của các em cũng rất 
phong phú và đa dạng. Hơn nữa, các em còn học được ở mỗi bài tập đọc cách dùng từ, 
đặt câu và cách viết văn hay, sinh động.
Ví dụ: - Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu.
 (Con chuồn chuồn nước)
- Thoắt cái, gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm 
quý. 
 (Đường đi Sa Pa) 
 - Nhưng hoa càng đỏ, lá càng xanh. Lá xanh um, mát rượi ngon lành như lá me non.
 (Hoa học trò) 
Có rất nhiều cách để tích lũy vốn từ cho học sinh, thông qua việc đọc sách, truyện, văn 
tham khảo, kết hợp với việc học tốt phân môn Luyện từ và câu, mở rộng vốn từ, theo 
sự hướng dẫn của giáo viên. Ở lớp tôi chủ nhiệm, đã xây dựng một thư viện nhỏ cho 
học sinh và ở thư viện trường cũng có hàng trăm đầu sách, báo, truyện rất phong phú. 
Đây là một điều kiện tuyệt vời giúp cả cô và trò tăng thêm vốn từ ngữ. Mỗi tuần hai 
buổi, tôi cùng các trò đến thư viện nhà trưởng để đọc sách, truyện. Các em đọc sách 
với tinh thần hứng thú, say mê. Cũng tại đây, cô trò cùng nhau trao đổi các nội dung 
liên quan đến các câu chuyện, từ đó vốn từ của các em đã trở nên phong phú hơn. 
 Học sinh tham gia đọc sách, truyện ở thư viện
Tham gia đọc sách cùng học sinh qua hoạt động Đọc to nghe chung
 - Tiết đọc thư viện
Qua các hoạt động tôi đã tổ chức, các em đã tích lũy được vốn từ rất phong phú. Từ đó, 
các em đã viết được những câu văn, đoạn văn, bài văn hay sinh động và giàu cảm xúc 
theo đúng yêu cầu của đề bài.
3.2. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả thông qua hoạt động 
“trải nghiệm.”
Kỹ năng quan sát rất cần cho học sinh khi văn miêu tả. Chính vì vậy để tăng hiệu quả 
quan sát cho học sinh tôi hướng tới việc thực hiện dạy học trải nghiệm, quan sát thực 
tế vật thật. Ở giải pháp này, tùy vào từng dạng bài mà tôi tổ chức những hoạt động trải 
nghiệm khác nhau.
Với dạng bài tả cây cối, tôi cho học sinh trực tiếp quan sát đối tượng định tả. Quan sát 
theo trình tự từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ tổng quát đến chi tiết, chú ý cả trạng 
thái động và tĩnh của đối tượng định tả. Ví dụ: Quan sát cây cối học sinh phải được nhìn, sờ, ngửi mùi hương, lắng nghe,... 
Học sinh quan sát cây bóng mát 
Bên cạnh việc cho học sinh quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả, tôi còn tổ chức cho 
các trò trải nghiệm trồng rau tại vườn trải nghiệm của trường. Khi các trò được trực tiếp 
làm thì sẽ có cái nhìn chính xác hơn về sự phát triển của cây rau từ nhỏ đến lớn, cách 
chăm sóc cũng như lúc thu hoạch sẽ như thế nào. Từ đó, các trò sẽ dễ miêu tả cây rau 
theo trình tự thời gian một cách dễ dàng. HS trải nghiệm trồng rau xanh
Để quan sát có hiệu quả, quan sát phải kết hợp sử dụng nhiều giác quan. Sau khi quan 
sát được các đặc điểm, tôi yêu cầu các em ghi lại thông tin. Trong quá trình các em ghi chép, tôi sẽ lưu ý định hướng các em lựa chọn điểm đặc biệt, tiêu biểu của đối tượng 
quan sát.
 Các trò muốn có một bài văn miêu tả không phải một bài văn kể, liệt kê thì khi học 
sinh quan sát tôi còn chú ý việc trau dồi kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho các em. So 
sánh chi tiết quan sát được với các đối tượng khác có ở xung quanh bằng sự liên tưởng 
hay quan sát trước đó. Hoặc quan sát hoạt động và những tác động của đối tượng đến 
các sự vật xung quanh.
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh quan sát cây hoa hồng, tôi có thể đặt ra hệ thống câu hỏi 
giúp học sinh liên tưởng và so sánh.
- Thân cây có gì đặc biệt ?
- Tán lá có đặc điểm gì ?
- Màu sắc của hoa hồng như thế nào ?
- Hương thơm của nó ra sao ?
- Tác dụng, lợi ích của hoa hồng là gì ?...
Từ đây, các em sẽ trao đổi, thảo luận, chia sẻ với bạn những điều mà mình cảm nhận 
được về đối tượng miêu tả. Hướng dẫn học sinh quan sát chi tiết từng bộ phận của cây
Với dạng bài tả đồ vật hoặc con vật tôi sẽ tổ chức cho mỗi em mang một đồ vật mà 
mình yêu thích đến lớp hoặc quan sát tranh trên ti vi. Sau đó, tôi tổ chức cho các em 
học tập theo nhóm cộng tác để thảo luận đưa ra những đặc điểm tiêu biểu, đặc sắc của 
đối tượng miêu tả.
Từ thực tế dạy học, tôi nhận thấy những gì học sinh được quan sát tận mắt, tận tay thì 
dễ đọng lại trong trí nhớ học sinh. Từ đó, các em dễ ghi nhớ và vận dụng vào miêu tả 
tốt hơn. 
Việc xử lý thông tin trong quá trình quan sát cũng vô cùng quan trọng. Tôi yêu cầu học 
sinh ghi chép lại những gì mình quan sát được (những chi tiết nổi bật) khoa học, ngắn 
gọn, sắp xếp các ý theo từng phần từ tả bao quát đến tả chi tiết từng bộ phận. Việc làm 
này rất thuận lợi cho học sinh khi lập dàn ý, viết bài văn miêu tả. Hướng dẫn học sinh ghi chép khi quan sát
3.3. Giải pháp 3: Bồi dưỡng, phát huy hiệu quả khả năng tìm ý và lập dàn bài của học 
sinh trong các tiết Tập làm văn.
Khi viết văn thì khâu lập dàn ý là vô cùng quan trọng nhưng không dễ đối với học sinh. 
Trước tiên, tôi yêu cầu các em phải đọc kĩ đề, xác định được thể loại, kiểu bài, xác định 
nội dung tả gì ? Và thể hiện tư tưởng tình cảm gì vào bài?
Để phát huy hiệu quả việc lập dàn ý, tôi hướng tới việc dạy học theo khả năng của từng 
học sinh, hỗ trợ các em lựa chọn phương pháp lập dàn ý phù hợp với bản thân mình. 
Tôi định hướng hai cách lập dàn ý cho học sinh như sau:
+ Cách thứ nhất: Hướng dẫn học sinh cách lập dàn ý chi tiết.
Dựa vào các chi tiết đã quan sát được từ thực tế, tranh ảnh Học sinh sẽ lựa chọn sắp 
xếp những chi tiết đó theo từng phần, từng ý, sắp xếp các ý thành các đoạn. Qua đó, 
khi học sinh hoàn thiện bài văn sẽ không bị thiếu, sót ý. Dàn ý bài văn miêu tả cây bàng
Qua quan sát tôi thấy các em chỉ động, tích cực để hoàn thành nhiệm vụ học tập. Dựa 
vào dàn ý đã lập, các em viết bài văn rất dễ dàng, trình bày mạch lạc với đầy đủ 3 phần, 
các nội dung miêu tả logic, không sợ thiếu ý, sót ý. Tùy thuộc từng đối tượng học sinh 
tôi lựa chọn các cách lập dàn ý phù hợp để phát huy hết khả năng của các em. 
+ Cách thứ hai: Lập dàn ý bằng Sơ đồ tư duy.
Một điều khẳng định rằng, sơ đồ tư duy là một công cụ ghi nhận và sắp xếp các ý tưởng 
một cách lô-gic, đa chiều, tăng khả năng ghi nhớ thông tin khi nội dung được trình bày 
dưới dạng từ khoá và hình ảnh. Khi lập dàn ý bằng sơ đồ tư duy, các em sẽ phác thảo 
được đầy đủ những chi tiết cần miêu tả theo trình tự logic, trực quan, sinh động, khoa 
học. Giúp cho học sinh có cơ hội sắp xếp các ý tưởng và nâng cao khả năng ghi nhớ, khái 
quát được các nội dung.
Khi lập dàn ý theo sơ đồ tư duy, tôi yêu cầu các em chuẩn bị bút màu, giấy sa cho phù 
hợp với từng bài. Sau đó, tôi tiến hành như sau: - Yêu cầu học sinh xác định yêu cầu (từ khóa, chủ đề, đề bài).
- Tập hợp các ý liên quan đến chủ đề.
- Lựa chọn từ ngữ ngắn gọn để đưa vào các nhánh chính và nhánh phụ.
- Tô màu để phân biệt các nhanha, các mạch kiến thức.
- Đánh số thứ tự từng chi tiết xuất hiện trong bài.
Ví dụ: Khi tả một chú gà, giáo viên cho hai em lên sắm vai, một em là “Chú gà”, một em 
là “Người tả”. Cùng lúc đó, giáo viên cho học sinh vễ sơ đồ trên vở nháp.
- “Người tả” sẽ nói một câu để giới thiệu chú gà: “Nhà em có nuôi một chú gà”. Còn 
“Chú gà” thì vừa nói vừa diễn tả: “Tôi có bộ lông nhiều màu sắc. Tôi có cái mào đỏ chót 
trên đầu. Tôi gáy vang vào buổi sáng sớm ”
- Người tả lúc này nói về tình cảm của mình đối với chú gà: “Em thường rải thóc cho gà 
ăn ”
- Hoặc có thể chỉ cần một em sắm vai “Chú gà”. 
Dưới đây là một số hình ảnh bài cá nhân của các em khi lập dàn ý bằng sơ đồ tư duy:
 Một số dàn ý lập bằng sơ đồ tư duy của HS lớp 4A
Qua phương pháp này tôi nhận thấy học sinh học tập hứng thú, tăng sự sáng tạo, kích 
thích tư duy logic và lôi cuốn các em vào trong các hoạt động học tập hiệu quả hơn.
3.4. Giải pháp 4: Bồi dưỡng cách viết mở bài gián tiếp và kết bài mở rộng.
Trong các bài văn nói chung và bài văn miêu tả nói riêng thì phần mở bài là phần vô 
cùng quan trọng. Nó sẽ tạo ra ấn tượng đầu tiên cho người đọc. Mở bài càng hay, càng 
tự nhiên thì càng cuốn hút người đọc. Vậy để học sinh biết cách viết mở bài thật ấn 
tượng và tự nhiên tôi không hướng dẫn các em một cách chung chung mà tùy từng đối 
tượng học sinh để hướng dẫn mở bài trực tiếp hay gián tiếp. Mở bài trực tiếp là cách 
mở bài học sinh hay dùng đặc biệt là đối tượng học sinh học lực ở mức hoàn thành.
Ví dụ: Nhà em có trồng rất nhiều loại cây ăn quả, trong đó em thích nhất là cây xoài do 
bố em trồng.
Đối với những em có có năng khiếu trong học tập, tôi khuyến khích các em viết mở bài 
theo kiểu gián tiếp bằng các cách như:
- Mở bài bằng một âm thanh nào đó để gây chú ý đến đối tượng định tả. Ví dụ: “Meo Meo” Các bạn có nghe thấy không đó là tiếng kêu của chú mèo nhà tớ đó. 
Nó vừa tròn 2 tuổi tên là Ruby rất xinh xắn và đáng yêu.
- Giới thiệu bằng cách thông qua các sự vật, sự việc khác có liên quan đến đối tượng 
định tả.
Ví dụ: Có nhiều con vật gắn bó với cuộc sống của con người. Nếu như con trâu được xem 
là đầu cơ nghiệp của người nông dân, con chó là người bạn trung thành, canh giữ nhà 
cửa thì con gà chính là cái đồng hồ báo thức của mỗi người. Bởi vậy, em rất thích con 
gà trống nhà em.
- Trích dẫn những câu hát, câu thơ, câu văn, câu ca dao hay về đối tượng định tả.
Ví dụ: “ Mùa xuân là tết trồng cây
 Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”
Thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ kính yêu, trong những năm vừa qua trường e trồng rất 
nhiều cây xanh, cây nào cũng đẹp, cây nào xũng đáng yêu, nhưng em thích nhất là cây 
phượng vĩ trồng giữa sân trường. Học sinh viết đoạn mở bài gián tiếp
Nếu như mở bài tạo ra ấn tượng thì một kết bài hay để lại dư âm lắng đọng sâu sắc 
trong lòng người đọc. Trong quá trình dạy tùy vào từng đối tượng học sinh mà tôi linh 
hoạt các kiểu kết bài. Đối với học sinh năng khiếu tôi thường định hướng kết bài mở 
rộng theo kiểu bày tỏ cảm xúc đối với đối tượng miêu tả, hay có ý thức chăm sóc, giữ 
gìn, biết ơn, kiểu ý niệm hoặc trích dẫn những câu văn, câu thơ.....
Ví dụ: Thời gian cứ thế trôi đi, cây đa như một chứng nhân lịch sử cùng ngôi làng nhỏ 
của em trải qua bao thăng trầm của thời đại, cây đa vẫn sừng sững đứng đó lặng lẽ chở 
che cho ngôi làng. Cây đa là người bạn tuổi thơ đã cùng chúng em tạo nên nhiều kỉ niệm 
đẹp đẽ. Trong quá trình dạy học tôi luôn lưu ý các em dù chọn mở bài, kết bài bằng cách 
nào thì điều quan trọng các em phải viết một cách chân thực và giàu cảm xúc. Như vậy 
mới khiến người đọc cảm nhận được cái hay cái đẹp và tình cảm thực sự của các em với 
đối tượng miêu tả. Sau nhiều lần viết mở bài gián tiếp và kết bài mở rộng các em rất 
thích thú được thể hiện bài viết của mình trước tập thể lớp. Từ đây các em có thể hoàn 
thiện được bài văn có miêu tả sáng tạo và giàu cảm xúc.
3.5. Giải pháp 5: Bồi dưỡng khả năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong viết văn 
miêu tả.
Một bài văn miêu tả hay thì trong bài văn không thể thiếu tính nghệ thuật. Khi viết văn 
miêu tả tôi luôn định hướng học sinh sử dụng khéo léo các biện pháp nghệ thuật, các 
tính từ, các từ láy, để làm nổi bật được đối tượng miêu tả và bài văn thêm sinh động.
 Ví dụ: Câu “Các bé sương tinh nghịch đang nhảy nhót trên những chiếc lá non. Ông 
mặt trời như lòng đỏ trứng gà được đặt trên chiếc mâm màu xanh dương” Tôi sẽ hướng 
dẫn học sinh chỉ ra hình ảnh so sánh trong câu trên là: "ông mặt trời" được ví "như lòng 
đỏ trứng gà". Hình ảnh nhân hóa là: "các bé sương tinh nghich nhảy nhót.'’ Từ đó, tôi 
đưa ra một số câu và yêu cầu học sinh tìm từ thích hợp điền vào chỗ chấm để tạo thành 
câu văn có hình ảnh so sánh.
- Nhìn từ xa, cây đa một vệ sĩ âm thầm bảo vệ làng em.
- Trái sầu riêng lủng lẳng trên cành. .những tổ kiến.
Ở dạng bài này,các em có thể lựa chọn một trong những từ ngữ sau để điền vào chỗ 
chấm cho phù hợp: như, giồng như, tựa, như là, giống hệt 
Trong quá trình tập diễn đạt nội dung, có thể gợi ý bằng các câu hỏi:
- Ta có thể tả lá của cây đa bằng từ nào? (chiếc quạt mo, quạt ba tiêu, cánh quạt)
- Cành cây trông giống gì? (giống cánh tay của người mẹ ôm ấp đàn con )
- Rễ cây đa như thế nào ? (trồi lên mặt đất như những con rắn khổng lồ)

File đính kèm:

  • docxmot_so_giai_phap_nang_cao_ky_nang_viet_van_mieu_ta_cho_hoc_s.docx
Bài giảng liên quan