Rèn kỹ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trường THCS Hoàng Hoa Thám - Hoàng Thị Thùy Liên

pdf24 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 10/03/2026 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Rèn kỹ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trường THCS Hoàng Hoa Thám - Hoàng Thị Thùy Liên, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ 
 TRƯỜNG THCS HOÀNG HOA THÁM 
 ****** 
 BÁO CÁO 
 BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI 
 GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤ P TỈNH CHU KỲ 2020-2024 
Tên biện pháp: Rèn kỹ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào 
lớp 10 THPT môn Ngữ văn trườ ng THCS Hoàng Hoa Thám. 
 Họ và tên: Hoàng Thị Thuỳ Liên 
 Môn giảng dạy: Ngữ Văn 
 Trình độ chuyên môn: Đại học 
 Chức vụ: Tổ phó chuyên môn 
 Đơn vị công tác: Trường THCS Hoàng Hoa Thám – Yên Thế - Bắc Giang. 
 Yên Thế, tháng 10 năm 2022 
 1 
 MỤC LỤC 
 Nội dung Trang 
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1 - 2 
PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 
I. Thực trạng công tác giảng dạy môn Ngữ văn trường THCS 2 - 4 
Hoàng Hoa Thám 
II. Biện pháp rèn kĩ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 4 - 20 
THPT môn Ngữ văn trường THCS Hoàng Hoa Thám 
PHẦN C. MINH CHỨNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP. 20 - 21 
PHẦN D. CAM KẾT 22 
 2 
 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ 
 Tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua 
Nghị quyết 29 - NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu 
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội 
chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế”. Xác định được nhiệm vụ quan trọng đó nên trong những 
năm qua Bộ Giáo dục đã không ngừng đưa ra những giải pháp mang tính cải tiến trong 
đó có yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp dạy học Thực hiện lộ 
trình từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới cách đánh giá, kiểm tra, việc đánh 
giá chất lượng giáo dục ngày càng thực chất, hiệu quả. Cách tiếp cận chuyển từ phương 
thức truyền đạt kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Những thay 
đổi đó nhằm mở ra một hướng đổi mới toàn diện cho hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam, 
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu hội nhập Quốc tế của đất nước. 
 Từ cơ sở thực tiễn và lí luận trên, bắt đầu từ năm học 2018 - 2019, Bộ GD&ĐT 
đã ra chủ trương đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở môn Ngữ 
văn THCS nói riêng và các môn học nói chung theo định hướng phát triển năng lực, 
phẩm chất của người học; Lấy học sinh làm trung tâm. Qua đó phân hóa được các mức 
độ tiếp nhận, lĩnh hội kiến thức của HS để từ đó điều chỉnh các phương pháp dạy học 
phù hợp, nâng cao chất lượng dạy học trong thời kì đổi mới. Thực hiện định hướng trên 
Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang yêu cầu các Phòng Giáo dục triển khai đến toàn thể 
giáo viên trên địa bàn thành phố cũng như các huyện. Đồng thời cũng yêu cầu các trường 
lưu ý việc ra đề phải phù hợp với đối tượng học sinh. Riêng môn Ngữ văn, yêu cầu đề 
thi cuối kì, cuối năm học và thi vào THPT gồm có hai phần: Đọc hiểu và làm văn. Cụ 
thể là đề thi, kiểm tra tập trung đánh giá hai kỹ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn 
bản và kĩ năng tạo lập văn bản, trong đó tỷ lệ điểm của phần tạo lập văn bản nhiều hơn 
phần đọc hiểu. Đây là hướng đổi mới kiểm tra đánh giá từ sự ghi nhớ những kiến thức 
của học sinh một cách thụ động, máy móc chuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực đọc 
hiểu của học sinh (tự mình khám phá văn bản ngoài chương trình). Nếu ở cách ra đề 
truyền thống thì chỉ có thể kiểm tra học sinh sự tái hiện kiến thức nên học sinh sa vào 
học lệnh, học tủ, thậm chí sao chép bài làm mẫu, văn mẫu thì ở cách ra đề dạng câu hỏi 
đọc hiểu lấy ngữ liệu ngoài sách giáo khoa yêu cầu học sinh ở 4 mức độ nhận biết, thông 
 3 
 hiểu, vận dụng và vận dụng cao. Học sinh phải vận dụng năng lực để giải quyết vấn đề. 
Như vậy có thể thấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc ôn tập 
và rèn kỹ năng làm dạng câu hỏi phần đọc hiểu là điều cần thiết phải trang bị cho học 
sinh. 
 Đọc hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi vào lớp 10 
THPT. Phần này tuy số điểm phân bố không cao (3/10 điểm) nhưng lại có vị trí rất quan 
trọng bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi. Nếu học sinh làm phần này 
không tốt thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũng sẽ không cao. Ngược 
lại nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em sẽ có nhiều cơ hội đạt điểm văn 7,0 điểm 
8,0 (với học sinh đại trà) thậm chí là điểm 9,0 (HS khá giỏi). Như vậy phần đọc hiểu 
góp phần không nhỏ vào kết quả thi môn Ngữ văn. 
 Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâm huyết với 
nghề, mong muốn nâng cao chất lượng kết quả thi vào lớp 10 THPT, đồng thời góp phần 
đáp ứng được những yêu cầu trên tôi đã nghiên cứu đưa ra giải pháp: “Rèn kỹ năng làm 
phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trường THCS Hoàng Hoa 
Thám”. (Dành cho học sinh lớp 9A2, 9A3 trường THCS Hoàng Hoa Thám). 
 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 
 I. Thực trạng công tác dạy và học môn Ngữ Văn ở trường THCS Hoàng Hoa Thám. 
 1. Ưu điểm 
 Năm học 2018- 2019 là năm học đầu tiên Sở GD&ĐT Bắc Giang có hướng dẫn 
áp dụng cấu trúc đề thi mới trong đó cấu trúc đề thi có phần đọc hiểu lấy ngữ liệu ngoài 
chương trình sách giáo khoa. Như vậy có thể nói đến thời điểm này vấn đề đổi mới kiểm 
tra, đánh giá thể hiện qua việc đưa ngữ liệu mới ở phần đọc hiểu để kiểm tra, đánh giá 
năng lực phẩm chất của các em không còn là vấn đề quá xa lạ, thậm chí đã có những 
kết quả, tín hiệu đáng mừng. 
 Ở thời điểm khi Sở GD&ĐT thông báo và hướng dẫn, các trường THCS thực hiện 
đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong kì thi học sinh giỏi, thi khảo sát chất lượng 
cuối học kì, kì thi vào lớp 10 THPT. Ban giám hiệu trường THCS Hoàng Hoa Thám đã 
 4 
 xây dựng kế hoạch về chương trình, phạm vi kiến thức, xây dựng ngân hàng đề, phân 
công giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy nhằm phục vụ cho việc rèn kĩ năng nâng cao 
chất lượng bài thi của học sinh. Bên cạnh đó, việc Sở GD&ĐT ban hành tài liệu ôn thi 
vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn cũng là những định hướng về mặt nội dung kiến thức 
để các thầy cô giáo hướng dẫn các em ôn tập hiệu quả. 
 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế. 
 2.1. Giáo viên 
 * Hạn chế 
 - Khi nhận phân công giảng dạy Ngữ Văn lớp 9A2, 9A3, năm học 2021 -2022, 
bản thân tôi vô cùng băn khoăn, lo lắng, lúng túng và hoang mang vì nhiệm vụ dạy lớp 
9 và ôn thi vào lớp 10 THPT là nhiệm vụ cao cả nhưng gắn với trách nhiệm nặng nề. 
Trong khi bản thân tôi không giảng dạy các em từ lớp 6. Vì vậy việc đánh giá đúng 
năng lực, kĩ năng của học sinh nhằm đưa ra giải pháp ôn luyện cụ thể sẽ không chính 
xác. 
 - Từ trước đến nay khi giảng dạy tôi chủ yếu là luyện đề theo tài liệu ôn thi vào 
THPT của sở, sưu tầm đề trên mạng. 
 * Nguyên nhân của những hạn chế trên 
 - Do kinh nghiệm giảng dạy và ôn luyện lớp 9 thi vào THPT của bản thân chưa có 
nhiều. 
 - Bản thân tôi còn tham kiến thức với suy nghĩ chữa được nhiều bài, nhiều đề học 
sinh sẽ làm tốt bài mà không chú ý đến việc, xác định kiến thức trọng tâm, đưa ra phương 
pháp, yêu cầu về kiến thức để rèn kĩ năng làm bài cho học sinh. 
 2.2 . Học sinh 
 *Hạn chế 
 - Ý thức tự giác, chủ động trong học tập không cao, học sinh tiếp thu một cách 
thụ động chưa phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo. 
 - Nhiều học sinh lúng túng, bài làm không đạt yêu cầu về cả kiến thức và kĩ năng, 
áp lực khi làm bài kiểm tra bài thi. 
 5 
 - Khi luyện đề học sinh chưa có kĩ năng thành thạo, giáo viên chữa đề nào các em 
biết đề đó, không hình thành được kĩ năng dẫn đến kết quả chung toàn bài thấp. 
 * Nguyên nhân của những hạn chế trên 
 - Trong các năm học trước các em phải học trực tiếp kết hợp với trực tuyến do 
dịch Covid -19 xảy ra. Khi học trực tuyến nhiều em học sinh không tự giác học bài. Học 
sinh chưa được cung cấp kiến thức, rèn kĩ năng một cách có hệ thống, bài bản, liền mạch. 
 - Việc chấm, chữa, trả bài cho học sinh khi phải học trực tuyến phần nào hạn chế 
so với trực tiếp. 
 - Chưa được hướng dẫn bằng các giải pháp cụ thể, tuần tự, theo hệ thống. Các em 
chưa được rèn làm bài đọc hiểu theo các mức độ khác nhau như cấu trúc đề thi của sở. 
 Từ những nhược điểm, hạn chế của phương pháp ôn luyện cũ dẫn đến kĩ năng 
cũng như kết quả của học sinh khi làm bài kiểm tra, bài thi không cao đặc biệt là với 
những học sinh trung bình, yếu, kém. Trong khi nhiều thầy cô, học sinh vẫn đang lúng 
túng khi ôn luyện phần đọc hiểu thì giải pháp này có thể là một giải pháp hữu ích tháo 
gỡ những khó khăn trên. Giải pháp của bản thân tôi sẽ cung cấp phương pháp ôn luyện 
với một hệ thống kiến thức lý thuyết, bài tập minh họa dễ hiểu, thiết thực sẽ giúp các em 
học sinh lớp 9 tự tin và đạt kết quả cao khi làm bài thi. 
 II. Biện pháp rèn kỹ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT 
môn Ngữ văn trường THCS Hoàng Hoa Thám 
 1. Biện pháp 1: Xác định những yêu cầu chính trong cấu trúc của phần đọc hiểu 
 - Theo ma trận đề thi, phần đọc hiểu sẽ cho 1 ngữ liệu ngoài chương trình và các 
câu hỏi theo các mức độ như sau: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao. 
Thang điểm tương ứng thường là: 0.5 - 0.5 - 1 - 1 điểm. 
 - Câu hỏi nhận biết, đề thường ra câu hỏi có mệnh lệnh: Tìm/chỉ ra/xác định/ các 
nội dung yêu cầu về các nội dung kiến thức về phương thức biểu đạt; phép liên kết; biện 
pháp tu từ; thể thơ. 
 - Ở câu hỏi thông hiểu, đề bài thường đưa ra yêu cầu có mệnh lệnh: Theo tác giả 
“ ” là gì; chỉ ra từ ngữ, hình ảnh “ ” trong đoạn ngữ liệu đã cho; Chỉ ra và phân tích 
tác dụng của biện pháp tu từ; xác định nội dung chính của văn bản 
 6 
 - Ở câu hỏi vận dụng, đề thường yêu cầu như sau: Em hiểu thế nào về câu/từ 
ngữ/hình ảnh/ trong văn bản; theo em vì sao tác giả cho rằng 
 - Ở câu vận dụng cao có các cách hỏi như: Yêu cầu rút ra ý nghĩa/bài học từ văn 
bản; bày tỏ suy nghĩ/cảm nhận về câu văn/câu thơ trích từ ngữ liệu đã cho; anh/chị có 
đồng ý hay không, vì sao? 
 2. Biện pháp 2. Nghiên cứu tài liệu xác định các kiến thức trọng tâm trong 
phạm vi kiến thức kiểm tra của phần đọc hiểu. 
 Giáo viên nghiên cứu tài liệu và hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được những 
dạng kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi đọc hiểu trong đề thi. Bao gồm các đơn 
vị kiến thức như sau: 
 a. Kiến thức từ vựng: Phân loại từ gồm: 
 - Phân loại theo cấu tạo của từ: Từ đơn, từ phức, từ láy. 
 - Phân loại theo nguồn gốc của từ: Từ thuần việt, từ mượn. 
 - Phân loại theo nghĩa của từ: Từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ trái 
nghĩa, từ tượng hình, từ tượng thanh. 
 - Phân loại theo phạm vi sử dụng: từ ngữ toàn dân, từ ngữ địa phương, biệt ngữ 
xã hội, thuật ngữ. 
 - Phân loại theo theo khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp: danh từ, động từ, tính 
từ, đại từ, số từ, lượng từ, chỉ từ, phó từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ, tình thái từ. 
 b. Kiến thức ngữ pháp gồm: Các thành phần câu, các kiểu câu, dấu câu. 
 * Các thành phần câu. 
 - Thành phần chính: Chủ ngữ và vị ngữ. 
 - Thành phần phụ: Trạng ngữ và khởi ngữ. 
 - Thành phần biệt lập: Thành phần tình thái, thành phần cảm thán, thành phần gọi 
– đáp, thành phần phụ chú. 
 * Các kiểu câu. 
 - Xét theo cấu tạo ngữ pháp: Câu đơn, câu ghép, câu rút gọn, câu đặc biệt. 
 7 
 - Xét theo ý nghĩa: Câu khẳng định và câu phủ định, câu chủ động và câu bị động. 
 - Xét theo mục đích nói: Câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần thuật. 
 * Dấu câu gồm: Dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu chấm lửng, dấu 
phẩy, dấu chấm phẩy, dấu gạch ngang, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu hai chấm. 
 c. Kiến thức về hoạt động giao tiếp: Liên kết câu, đoạn trong văn bản; các biện 
pháp tu từ thường gặp; các phương châm hội thoại; Vai xã hội, lượt lời trong hội thoại 
và hành động nói; Nghĩa tường minh và hàm ý; cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp; 
kiểu văn bản và phương thức biểu đạt. 
 * Liên kết câu, đoạn trong văn bản. 
 - Liên kết nội dung: Liên kết chủ đề, liên kết logic. 
 - Liên kết hình thức: Phép lặp từ ngữ, phép thế, phép liên tưởng, phép nối. 
 * Các biện pháp tu từ thường gặp. 
 - Các biện pháp tu từ thường gặp là: So sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, nói quá, 
nói giảm nói tránh, điệp ngữ, chơi chữ, liệt kê, đảo ngữ, câu hỏi tu từ, tương phản (đối 
lập). 
 * Các phương châm hội thoại. 
 - Các phương châm hội thoại gồm: Phương châm về lượng, phương châm về chất, 
phương châm quan hệ, phương châm cách thức, phương châm lịch sự. 
 * Vai xã hội, lượt lời trong hội thoại và hành động nói. 
 - Vai xã hội được xác định bởi các quan hệ xã hội. 
 - Lượt lời trong hội thoại: mỗi lần nói được xác định là một lượt lời, đôi khi im 
lặng khi đến lượt lời của mình cũng là cách biểu thị thái độ. 
 - Hành động nói: Một số kiểu hành động nói thường gặp: hỏi, trình bày, điều 
khiển, hứa hẹn, đe doạ, bộc lộ cảm xúc. 
 * Nghĩa tường minh và hàm ý 
 * Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp. 
 8 
 * Kiểu văn bản và phương thức biểu đạt. 
 - Các phương thức biểu đạt gồm: Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, nghị luận, thuyết 
minh, hành chính công vụ. 
 d. Kiến thức về trình bày đoạn văn, kết cấu của đoạn văn. 
 - Các cách thức trình bày đoạn văn: Diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc xích, 
song hành. 
 e. Kiến thức về các thể thơ thường gặp. 
 - Các thể thơ dân tộc: Thơ lục bát, song thất lục bát. 
 - Các thể thơ đường luật: Ngũ ngôn tứ thuyệt, ngũ ngôn bát cú, thất ngôn bát cú, 
thất ngôn tứ tuyệt. 
 - Thể thơ hiện đại: thể thơ tự do, thơ bốn tiếng, năm tiếng, thơ bảy tiếng 
 3. Biện pháp 3. Phân chia các dạng câu hỏi và cách trình bày các câu hỏi phần 
đọc hiểu theo các mức độ. 
 a. Mức độ nhận biết có các dạng câu hỏi sau đây: 
 a.1 Dạng 1: Ở mức độ nhận biết câu hỏi nhận biết ở các nội dung xác định 
phương thức biểu đạt, thể thơ của đoạn trích. 
 GV hướng dẫn học sinh cách nhận biết phương thức biểu đạt như sau: 
 Các 
 phương 
 STT Khái niệm Cách nhận biết 
 thức biểu 
 đạt 
 - Trình bày theo diễn biến sự - Đặc trưng của văn bản tự 
1 Tự sự vật, sự việc hay một chuỗi sự: Có cốt truyện, có nhân 
 các sự việc có quan hệ nhân vật, sự việc, có ngôi kể, có 
 quả dẫn đến kết quả. tư tưởng, chủ đề. 
 - Tái hiện các tính chất, - Từ ngữ gợi tả, từ tượng 
 thuộc tính sự vật, hiện hình, tượng thanh; các từ 
 9 
 2 tượng, giúp con người cảm láy, hình ảnh so sánh, câu 
 nhận và hiểu được chúng. văn giàu sức gợi. 
 Miêu tả 
 - Các bài văn tả cảnh, tả 
 người, vật; đoạn văn miêu tả 
 trong tác phẩm tự sự. 
 - Sử dụng các yếu tố tình - Các từ ngữ biểu cảm, thái 
 cảm, cảm xúcđể bày tỏ cách độ, bộc lộ cảm xúc, tâm 
 nhìn nhận, đánh giá về một trạng trước những vấn đề tự 
3 
 Biểu cảm sự vật, hiện tượng, con nhiên, xã hội, sự vật... 
 người trong cuộc sống. - Các văn bản: thơ trữ tình, 
 tùy bút.. 
 - Là phương thức chủ yếu - Trình bày các khái niệm, 
 được dùng để bàn bạc tư tưởng, chủ trương, quan 
 nhằm bộc lộ rõ quan điểm, điểm của con người đối với 
4 Nghị luận: ý kiến, thái độ của người tự nhiên, xã hội, qua các 
 nói, người viết - nêu ý kiến luận điểm, luận cứ và lập 
 đánh giá, bình luận. luận thuyết phục. 
 - Giới thiệu, cung cấp, - Các văn bản giới thiệu sản 
 những tri thức về một sự phẩm, giới thiệu di tích, 
5 Thuyết 
 vật, hiện tượng nào đó cho thắng cảnh, nhân vật; trình 
 minh: 
 người đọc, người nghe, bày tri thức và phương pháp 
 giới thiệu đặc điểm tình trong khoa học . 
 chất, cấu tạo, công dụng. 
 Sau khi hướng dẫn cụ thể cách nhận biết các phương thức biểu đạt, giáo viên 
khích lệ học sinh hệ thống bằng bản đồ tư duy theo cách của mình, theo trình độ học 
sinh để ghi nhớ, giúp khắc sâu kiến thức. 
 => Giáo viên đưa ra lưu ý: học sinh cần phân biệt giữa hai kiểu hỏi 
 - Phương thức biểu đạt chính (chủ yếu): chỉ nêu lên DUY NHẤT 01 phương thức 
biểu đạt chính 
 10 
 - Những phương thức biểu đạt hoặc không có từ “Những”: HS phải nêu tất cả các 
phương thức biểu đạt của văn bản. (Ưu tiên từ 02 phương thức biểu đạt trở lên) 
 a.2 Dạng 2: Với dạng câu hỏi xác định thể thơ của đoạn trích. 
 - HS qua việc học tập trên lớp nhận diện các thể thơ bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, 
lục bát, song thất lục bát, thơ tự do, để xác định cho chính xác qua các đặc điểm về số 
chữ, số câu trong khổ thơ và số câu thơ trong cả bài. 
 * Ví dụ minh hoạ: Đề 4 tài liệu ôn thi vào lớp 10 – môn Ngữ Văn, tr 74. 
 Câu 1. Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu: 
 Quê hương tôi có con sông xanh biếc 
 Nước gương trong soi tóc những hàng tre 
 Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè 
 Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng 
 Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng 
 Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi? 
 Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi! 
 Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ 
 Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ 
 Sông của miền Nam nước Việt thân yêu. 
 (Tế Hanh, Nhớ con sông quê hương, thơ Tế Hanh, NXB Văn học, 2008, tr58) 
 * Câu hỏi: Xác định thể thơ, phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn 
thơ. 
 * Gợi ý: 
 - Thể thơ: Tự do. 
 - Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu cảm. 
 a.3 Dạng 3. Dạng câu hỏi xác định từ ngữ hoặc hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể 
trong văn bản. 
 11 
 - Phần này trong đề thi thường hỏi em hãy chỉ ra các từ ngữ, hình ảnh, một câu 
văn, câu thơ nào đó có sẵn trong văn bản. Vì thế học sinh đọc kĩ ngữ liệu, đọc kĩ yêu 
cầu của câu hỏi đề, phải bám sát vào văn bản để trả lời 
 - Cách làm 
 + Xác định rõ yêu cầu, nội dung của câu hỏi. 
 + Tìm, gạch chân từ ngữ/ hình ảnh/ chi tiết. (đáp án nằm trong văn bản) 
 + Các từ ngữ thể hiện ..trong văn bản là: . (chỉ ra chính xác từ ngữ, hình ảnh, 
chi tiết - liệt kê ra cho bằng hết.) 
 * Ví dụ minh hoạ: 
 Tự trọng nghĩa là biết coi trọng mình, nhưng không phải theo nghĩa vị kỷ (chỉ biết 
đến danh lợi của bản thân mình) mà là coi trọng phẩm giá/đạo đức của mình. Một người 
có tự trọng hay không cũng thường được thể hiện qua câu trả lời hay qua hành xử của 
anh ta cho những câu trả lời như: “Điều gì khiến tôi sợ hãi/ xấu hổ?” “Điều gì khiến tôi 
tự hào /hạnh phúc?”... 
 (Trích: Đúng việc - Giản Tư Trung, NXB Tri thức, 2016, tr.27) 
 * Câu hỏi: Theo tác giả, tự trọng là gì? 
 * Gợi ý: 
 - Theo tác giả, tự trọng là biết coi trọng mình, nhưng không phải theo nghĩa vị kỷ 
(chỉ biết đến danh lợi của bản thân mình) mà là coi trọng phẩm giá/đạo đức của mình. 
 b. Mức độ thông hiểu có các dạng câu hỏi sau đây: 
 b.1.Dạng 1: Xác định/ chỉ ra và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ. 
 Đề thi vào lớp 10 thường xuyên có dạng câu hỏi này đó, nên các em sử dụng sơ 
đồ tư duy để hệ thống các biện pháp tu từ đã học trong chương trình từ lớp 6 - 9. Sau đó 
làm theo 3 bước xác định biện pháp tu từ như sau 
 Bước 1: Gọi tên biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản: , dấu hiệu nhận 
biết của biện pháp tu từ đó thể hiện ở từ ngữ, hình ảnh . 
 12 
 Bước 2: BPTT này làm cho lời thơ/văn/ lời diễn đạt trở nên sinh động, gợi hình 
gợi cảm, hấp dẫn, ấn tượng, thú vị, dễ hiểu, có hồn, tăng nhạc tính - tạo âm hưởng nhịp 
nhàng, nhấn mạnh vào điều tác giả muốn thể hiện .. 
 Bước 3. Qua BPTT đó đã thể hiện cảm xúc của tác giả. 
 * Ví dụ minh hoạ. 
 “Người có tính khiêm tốn thường hay cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm, 
trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa. Người có tính khiêm tốn không 
bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc 
nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn luôn tìm cách 
để học hỏi thêm nữa. 
 Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu 
tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những 
giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so 
sánh với mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến đâu cũng luôn 
luôn phải học thêm, học mãi mãi. 
 Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không 
tự đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp 
nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người. 
 Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên đường đời”. 
 (Trích Tinh hoa xử thế, Lâm Ngữ Đường, Ngữ văn 7, tập 2, NXB Giáo dục, 2015) 
 * Câu hỏi: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn 
văn thứ nhất? 
 * Gợi ý. 
 - Biện pháp liệt kê: Liệt kê các biểu hiện của khiêm tốn: tự cho mình là kém, phải 
phấn đấu thêm, trau dồi thêm, học hỏi thêm 
 - Tác dụng của biện pháp liệt kê: diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những biểu 
hiện của lòng khiêm tốn. Qua đó nhấn mạnh sự đồng tình của tác giả với sự cần thiết 
phải rèn cho mình đức tính khiêm tốn. 
 13 
 b.2. Dạng 2. Câu hỏi xác định nội dung chính của văn bản 
 - Muốn xác định được nội dung của văn bản học sinh cần căn cứ vào tiêu đề của 
văn bản. Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc, câu văn câu thơ được nhắc đến nhiều lần. 
Đây có thể là những từ khóa chứa đựng nội dung chính của văn bản. Xác định được kiểu 
trình bày đoạn văn học sinh sẽ xác định được câu chủ đề nằm ở vị trí nào. Thường câu 
chủ đề sẽ là câu nắm giữ nội dung chính của cả đoạn. 
 - Đọc nhan đề + đọc văn bản để tóm tắt thành một câu khái quát nội dung bề mặt 
(căn cứ vào nhan đề/cụm từ khóa, hình ảnh được lặp lại, câu chủ đề ) Qua đó tác giả 
bộc lộ/gửi gắm thông điệp .(nội dung ngầm mà em rút ra được) 
 * Ví dụ minh hoạ. 
 Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: 
 “Xin dạy cho cháu biết đến thế giới kì diệu của sách, nhưng cũng để cho cháu đủ 
thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên 
bầu trời, đàn ong bay lượn trong nắng, và những bông hoa nở ngát trên đồi xanh 
 Ở trường, xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian 
lận khi thi. Xin hãy tạo cho cháu có niềm tin vào ý kiến của bản thân, cho dù tất cả mọi 
người xung quanh đều cho rằng ý kiến ấy là không đúng 
 Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng với những người hòa nhã và cứng 
rắn đối với kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất 
cả mọi người chạy theo thời thế”. 
 (Trích thư của Tổng Thống Mĩ Lincon gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, 
trong Những câu chuyện về người thầy) 
 * Câu hỏi: Nêu nội dung chính của văn bản? 
 * Gợi ý. 
 Nội dung: Người cha mong thầy giáo hãy dạy cho con biết sự quý giá của sách, 
biết yêu quý cuộc sống, biết ứng nhân xử thế, có lòng trung thực, có sức mạnh, có niềm 
tin vào bản thân. 
 c. Mức độ vận dụng có các dạng câu hỏi sau đây: 
 14 
 - Dạng câu hỏi giải thích ý kiến của tác giả hoặc đưa ra cách hiểu/ suy nghĩa của 
bản thân về ý kiến của tác giả được trích dẫn trong ngữ liệu đã cho. 
 - Ở mức độ này câu hỏi thường có các mệnh lệnh: Tại sao tác giả lại nói “ ..”? 
em có suy nghĩ thế nào về /Em hiểu thế nào về Câu trả lời của dạng bài tập này cần 
kết hợp quan niệm của tác giả trong văn bản và trình bày ý hiểu của bản thân (kiến thức 
hiểu biết ngoài văn bản), có lý giải vì sao ? 
 - Cách làm: 
 + Học sinh hãy xem kĩ lại văn bản rồi giải thích: nếu câu có nhiều vế thì giải thích 
từng vế, nếu câu có một vế thì chọn những từ khóa để giải thích rồi rút ra ý nghĩa cả câu 
nói. 
 + Trả lời: Theo em tác giả cho rằng “ .” 
 + Vì . (trình bày ý trong văn bản trước) 
 + Cả câu muốn khuyên/nhắn nhủ/khẳng định/ phê phán điều gì Giúp em hiểu 
được điều gì ? 
 + Vì .(lật ngược lại vấn đề - nếu không như thế thì sao). 
 * Ví dụ. Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu: 
 Không có gì tự đến đâu con 
 Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa 
 Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa 
 Mùa bội thu trải một nắng hai sương. 
 Không có gì tự đến, dẫu bình thường 
 Phải bằng cả đôi tay và nghị lực. 
 Như con chim suốt ngày chọn hạt 
 Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ. 
 (Không có gì tự đến đâu con - Nguyễn Đăng Tấn) 
 15 
 * Câu hỏi: Em hiểu như thế nào về câu thơ: Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích 
nhựa? 
 * Gợi ý: 
 Em hiểu về câu thơ là: Muốn có được quả ngon, ngọt thì cần phải trải qua những 
ngày tháng vất cả, chăm sóc cây mới có được thành quả. Ở đây tác giả muốn nói đến sự 
kiên trì và quyết tâm. Khuyên con người để gặt hái được thành công trong cuộc sống 
chúng ta phải kiên trì, nỗ lực và cố gắng hết mình. 
 d. Mức độ vận dụng cao có các dạng câu hỏi sau đây: 
 d.1. Dạng câu hỏi đồng tình hay không đồng tình với một ý kiến, quan điểm. 
 - Dạng câu hỏi này trong đề thi sẽ đưa ra yêu cầu: Em có đồng tình với ý kiến/ 
quan điểm .? Tại sao? 
 - Với dạng câu hỏi này yêu cầu trong câu trả lời của học sinh phải đảm bảo các 
nội dung sau: 
 - Em đồng tình/ không đồng tình. 
 + Vì: Tìm ý kiến trong đề ghi ra. 
 + Vì: Ghi ý kiến suy nghĩ của em dựa vào ý kiến tác giả đã nêu trong ngữ liệu. 
 + Vì: Lật ngược lại quan điểm ý kiến đã nêu ở trên (nếu không có nó, không làm 
như vậy thì điều gì xảy ra, để lại hậu quả gì) 
 * Ví dụ minh hoạ. Đọc ngữ liệu và trả lời các câu hỏi sau: 
 Trên đường đời bạn cũng có lúc vấp ngã. Tôi cũng vậy. Ngay cả người tài giỏi, 
khôn ngoan nhất cũng có lúc vấp ngã. Vấp ngã là điều bình thường, chỉ có những người 
không bao giờ đứng dậy sau vấp ngã mới là người thực sự thất bại. Điều chúng ta cần 
ghi nhớ là, cuộc sống không phải là một cuộc thi đó - trượt... Cuộc sống là một quá trình 
thử nghiệm các biện pháp khác nhau cho đến khi tìm ra một cách thích hợp. Những 
người đạt được thành công phần lớn là người biết đứng dậy từ những sai lầm ngớ ngẩn 
của mình bởi họ coi thất bại, vấp ngã chỉ là tạm thời và là kinh nghiệm bổ ích. Tất cả 
những người thành đạt mà tôi biết đều có lúc phạm sai lầm. Thường thì họ nói rằng sai 
lầm đóng vai trò quan trọng đối với thành công của họ. Khi vấp ngã, họ không bỏ cuộc. 
 16 
 Thay vì thế, họ xác định các vấn đề của mình là gì, cố gắng cải thiện tình hình và tìm 
kiếm giải pháp sáng tạo hơn để giải quyết. Nếu thất bại năm lần, họ cố gắng đứng dậy 
năm lần, mỗi lần một cố gắng hơn, Winston Churchill đã nắm bắt được cốt lõi của quá 
trình này khi ông nói: “Sự thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác 
mà không đánh mất nhiệt huyết và quyết tâm vươn lên”. 
 (Trích Cuộc sống không giới hạn, Nick Vujicic, chương VII, trang 236) 
 * Câu hỏi: Em có đồng ý với quan điểm của Winston Churchill: “Sự thành công 
là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không đánh mất nhiệt huyết và quyết 
tâm vươn lên.”? Vì sao? 
 * Gợi ý. 
 Ví dụ: Đồng tình vì: 
 - Thất bại là một phần của cuộc sống và đó là điều rất bình thường, không ai 
không thành công mà không trải qua những thất bại. 
 - Thất bại thử thách sự kiên nhẫn của con người. Con người biết theo đuổi đam 
mê, chắc chắn sẽ thành công. 
 - Thất bại cho con người những bài học kinh nghiệm quý báu để nuôi dưỡng đam 
mê của chính mình. 
 d.2. Dạng câu hỏi rút ra bài học hoặc thông điệp cho bản thân 
 - Dạng này trong đề thi sẽ hỏi là: Rút ra bài học sâu sắc nhất/ một thông điệp ý 
nghĩa nhất với em sau khi đọc xong đoạn trích? 
 - Để rút ra được bài học, học sinh cần thực sự hiểu rõ văn bản cung cấp thông tin 
gì, tác giả muốn truyền đạt điều gì. Học sinh nên rút ra một (hoặc nhiều hơn) bài học/ 
thông điệp có tầm khái quát hơn là những thông điệp nhỏ. Ghi ngắn gọn không cần giải 
thích dài dòng. 
 - Câu trả lời gồm 3 ý 
 + Thông điệp sâu sắc nhất mà em rút ra được sau khi đọc văn bản là: chúng ta 
cần ; nên ; phải .; đừng .. 
 + Thông điệp này đã giúp em hiểu rằng /nhận ra rằng . 
 17 
 + Thiết nghĩ, thông điệp này không chỉ có ý nghĩa với riêng em mà tin rằng còn 
hữu ích với tất cả mọi người. 
 * Ví dụ: THỜI GIAN LÀ VÀNG 
 Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian 
không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá. Thật vậy, thời gian là 
sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì sống, 
để chậm là chết. Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, 
biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, dễ mất thời cơ là thất bại... 
(Phương Liên - Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục) 
 * Câu hỏi: Thông điệp nào trong văn bản có ý nghĩa nhất với em? 
 * Gợi ý. 
 Thông điệp có ý nghĩa nhất mà em rút ra được sau khi đọc văn bản là: Thời gian 
là vô giá. Thông điệp này đã giúp em nhận ra thời gian có giá trị lớn như thế nào, không 
thể mua bán hay trao đổi, đã trôi qua là mất đi mãi mãi. Vậy nên phải biết trân trọng 
từng phút từng giây để sống, học tập, làm việc sao cho hiệu quả và ý nghĩa; không nên 
phung phí thời gian vào những việc làm vô ích. Thiết nghĩ thông điệp này không chỉ có 
ý nghĩa với riêng em mà còn hữu ích với tất cả mọi người. 
 4. Biện pháp 4. Hướng dẫn học sinh luyện đề 
 - Sau khi đưa ra kiến thức phần lí thuyết và cách làm, cách nhận diện các dạng 
câu hỏi, tôi dành nhiều thời gian nhất có thể để cho học sinh luyện tập làm bài tập ở các 
dạng câu hỏi đã phân chia theo các mức độ. Các bài tập đưa ra với mức độ từ khó đến 
dễ, từ quen thuộc đến mới lạ với học sinh. 
 - Sau khi học sinh đã thành thạo với các dạng câu hỏi khác nhau, thì bản thân tôi 
ghép các dạng câu hỏi đã luyện tập đó thành một đề bài cụ thể, lúc này tôi cho học sinh 
luyện đề đầy đủ của phần đọc hiểu với các cách hỏi ở các mức độ vận dụng, thông hiểu, 
vận dụng, vận dụng cao để các em luyện kĩ năng làm đề. 
 - Sau khi đã chữa được một số đề hoàn chỉnh, ôn luyện các đề trong tài liệu ôn thi 
vào 10 THPT do Sở GD&ĐT Bắc Giang cung cấp, bản thân tôi sưu tầm các đề bài từ 
 18 
 đồng nghiệp, từ mạng Internet và tiến hành cho học sinh ôn và luyện đề rèn kĩ năng làm 
bài. 
 5. Biện pháp 5. Làm đề kiểm tra, thi thử. 
 - Khi học sinh đã có các kĩ năng làm đề phần đọc hiểu, bản thân tôi nghiên cứu 
tài liệu và tra cứu trên mạng để soạn các đề cho học sinh thi thử. Đề bài thi thử bám sát 
với yêu cầu khung đề của Sở GD&ĐT qua các năm đã thi. Khung thời gian ban đầu các 
em mới làm bài phần đọc hiểu này là 20 - 25 phút, sau đó rút ngắn thời gian xuống 15-
20 phút để khi các em ngoài luyện kĩ năng làm bài còn luyện tốc độ làm bài. Bài làm 
của các em ngoài yêu cầu viết đúng, viết đủ phạm vi câu hỏi yêu cầu với học sinh đại 
trà thì với học sinh khá giỏi còn yêu cầu viết hay. 
 6. Biện pháp 6: Chấm, chữa bài. 
 - Vì đây là các bài thi thử của các em nên tôi cố gắng đọc bài, chấm chữa bài cẩn 
thận, tỉ mỉ, chi tiết để chỉ ra những lỗi các em hay gặp khi làm bài từ hình thức trình bày 
cho đến nội dung bài làm, rút kinh nghiệm cho từng em để khi làm bài thi các em đạt 
kết quả cao. 
 * Đề ôn luyện minh hoạ. 
 Đề 1. 
 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) 
 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: 
 Chúng ta luôn nghĩ rằng cha mẹ cần thấy được con cái thành công trong sự nghiệp, 
đạt nhiều thành tựu trong cuộc sống. Ta tin rằng mình càng giàu có giỏi giang thì cha 
mẹ càng vui vẻ. Kỳ thực không phải vậy. 
 Cha mẹ không ham hư vinh, tiền bạc. Tiền bạc với người lớn tuổi nhiều khi chỉ 
cần đủ chứ không cần dư thừa, họ đã ý thức sâu sắc về việc vật chất chỉ là phù du nên 
điều họ trận trọng là bình an và sức khỏe. Cha mẹ thường lo lắng cảm ràm nếu bạn ăn 
mặc phong phanh hay suốt ngày thức khuya dậy sớm...Có lẽ điều ấy đôi lúc làm bạn 
thấy phiền phức nhưng đó là vì họ rất quan tâm và yêu thương bạn. Càng lớn bạn sẽ 
càng hiểu rằng đối với cha mẹ việc bạn có vui vẻ hay không, sống có khoẻ mạnh hay 
 19 
 không, ngủ có ngon không... quan trọng hơn rất nhiều số tiền bạn kiếm được hay địa vị 
bạn có. 
 (Trích Hạnh phúc không khó định danh, Cá Chép, NXB Dân trí, 2021) 
 Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. 
 Câu 2 (0,5 điểm). Chi ra 01 phép liên kết trong những câu văn sau: 
 “Cha mẹ không ham hư vinh, tiền bạc. Tiền bạc với người lớn tuổi nhiều khi chỉ 
cần đủ chứ không cần dư thừa, họ đã ý thức sâu sắc về việc vật chất chi là phù du nên 
điều họ trận trọng là bình an và sức khỏe". 
 Câu 3 (1,0 điểm). Nêu nội dung chính của đoạn trích. 
 Câu 4 (1,0 điểm). Qua những chia sẻ của tác giả, em thấy mình cần làm gì để thể 
hiện lòng hiếu thảo? 
 * Gợi ý. 
 Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận 
 Câu 2. Phép liên kết: lặp - “tiền bạc” 
 Câu 3. Nội dung chính : Hạnh phúc đơn giản của cha mẹ là con cái được khỏe 
mạnh , bình an chứ không phải hư vinh, tiền bạc. 
 Câu 4. Qua chia sẻ của tác giả, em thấy điều mình cần làm những việc để thể hiện 
lòng hiếu thảo là: cố gắng chăm sóc tốt cho bản thân, chú ý tới sức khỏe của chính mình 
để bố mẹ có thể yên tâm khi nghĩ tới chúng ta. Cố gắng học tập tốt để cha mẹ vui lòng. 
Giúp đỡ cha mẹ những công việc trong khả năng của mình. 
 ĐỀ SỐ 2: 
 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3 điểm) 
 Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: 
 “Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều trên bãi thả, đám 
trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. 
Chúng tôi sung sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo 
đơn, rồi sáo kép, sáo bè như gọi thấp xuống những vì sao sớm. Ban đêm trên bãi thả 
 20 

File đính kèm:

  • pdfren_ky_nang_lam_phan_doc_hieu_trong_de_thi_vao_lop_10_thpt_m.pdf