Sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học môn Vật lí

docx22 trang | Chia sẻ: Đào Đào | Ngày: 12/02/2026 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học môn Vật lí, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
 MỤC LỤC
MỤC LỤC...............................................................................................trang 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT....................................................trang 2
PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................trang 3
PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ........................................................trang 3
 I. Thực trạng công tác dạy ...............................................................trang 3
 1. Ưu điểm 
 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 
 2.1: Giáo viên 
 2.2: Học Sinh 
 II: Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy ................................trang 6
 1: Biện pháp 1 ...................................................................................trang 6
 2: Biện pháp 2 ....................................................................................trang 6
 3. Thực nghiệm sư phạm ............................................................ trang 7-14
 3.1 Mô tả cách thực nghiệm .........................................................................
 3.2 Kết quả đạt được......................................................................................
 3.3 Điều chỉnh ,bổ sung sau thực nghiệm ........................................trang17 
 4. Kết luận .....................................................................................trang 18
 5. Kiến nghị ....................................................................................trang 18
 5.1 Đối với tổ,nhóm chuyên môn.....................................................trang 19
 5.2 Đối với lãnh đạo nhà trường ......................................................trang 19
PHẦN C: MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP.......trang 20
PHẦN D: CAM KẾT ...........................................................................trang 24 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SĐTD: Sơ đồ tư duy
PPDH: Phương pháp dạy học
CNTT: Công nghệ thông tin
HS: Học sinh
GV: Giáo viên
THCS: Trung học cơ sở PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ
 Dạy học nói chung, dạy Vật lý nói riêng, điều quan trọng nhất là làm 
thức dậy được tình yêu, niềm say mê đối với môn học của mình . Hiện nay, tri 
thức trong các môn học ở hầu hết các cấp học đang trở lên quá tải với cả giáo 
viên và học sinh, điều này đã tạo ra hàng loạt những áp lực và nghịch lý: Thời 
gian có hạn mà kiến thức thì vô cùng; môn học thì quá tải mà sức học của học 
sinh có hạn. Những nghịch lý trên là những rào cản làm người dạy và người học 
đều thấy nản lòng. Vậy làm thế nào để có thể hạn chế được các rào cản trên? 
Trong giờ giảng Vật lý, vấn đề không chỉ là thí nghiệm,giải thích của người thầy 
mà còn đòi hỏi phương pháp dạy học của người thầy. Phương pháp dạy học là 
một trong những yêu cầu quan trọng đối với sự thành công trong giờ giảng dạy 
của giáo viên, học tập của học sinh. Sơ đồ tư duy là một trong những phương 
pháp dạy học tương đối hiệu quả. Phương pháp dạy học bằng Sơ đồ tư duy 
không chỉ giải quyết được vấn đề quá tải đối với kiến thức, đơn giản hóa kiến 
thức của môn học mà nó còn giúp học sinh có khả năng nhớ kiến thức lâu hơn, 
tránh sự nhàm chán đối với môn học, đặc biệt là bộ môn Vật lý. 
 Vậy thế nào là phương pháp dạy học bằng Sơ đồ tư duy? Cần sử dụng 
Sơ đồ tư duy như thế nào để nâng cao chất lượng trong các giờ học Vật lý 7? Đó 
là những vấn đề tôi muốn cùng được chia sẻ với các đồng nghiệp trong báo cáo 
kinh nghiệm này.
 PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 1. Thực trạng công tác dạy và học môn Vật lý tại trường THCS Đồng Kỳ 
 1.1 Ưu điểm:
 - Cơ sở vật chất: Nhà trường trang bị đầy đủ phương tiện dạy học ở các 
lớp học đều có: Tivi màn hình to có kết nối intrnet,có phòng thực hành thí 
nghiệm riêng biệt 
 - Ban giám hiệu,đồng nghiệp: Tạo điều kiện, thường xuyên dự giờ, góp ý. 
 - Học sinh: Tuy sống trong làng quê còn nhiều khó khăn các em chưa 
chăm nhưng lại có khá nhiều em thông minh hợp tác và hứng thú trong học tập. Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map) là 
PPDH chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đào 
sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức... 
bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết 
với sự tư duy logic, tích cực. Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở, không yêu cầu 
tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, các em có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, 
mỗi em có thể vẽ một kiểu khác nhau, dùng những màu sắc, hình ảnh, chữ viết và 
các cụm từ diễn đạt khác nhau... Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể 
“thể hiện” nó dưới dạng Sơ đồ tư duy theo cách riêng của mình. Do đó, việc lập 
Sơ đồ tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
 Trong những năm qua, hầu hết đội ngũ giáo viên THCS trong cả nước nói 
chung, ở các trường trong tỉnh, trong huyện đã được tham dự các lớp tập huấn, 
bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới PPDH do Sở, Phòng GD&ĐT tổ 
chức, nội dung triển khai một số phương pháp, kĩ thuật dạy học mới. Trong đó 
có việc sử dụng Sơ đồ tư duy (SĐTD). Có thể khẳng định rằng đây là một trong 
những PPDH rất quan trọng, vừa rất mới, rất hiện đại, lại rất khả thi, đang được 
nhiều nước trên thế giới áp dụng. 
 Thứ nhất, dạy học bằng SĐTD giúp học sinh có được phương pháp học 
hiệu quả. Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS 
không chỉ đơn thuần là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là 
mục tiêu dạy học. Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách 
thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc theo thói quen học 
vẹt, các em chưa có ý thức hoặc chưa biết rèn luyện kỹ năng tư duy. Học sinh 
chỉ học bài nào biết bài ấy, nắm kiến thức một cách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích 
hợp, liên hệ kiến thức với nhau giữa các bài học, giữa các phân môn, vì vậy mà 
chưa phát triển được tư duy lô-gic và tư duy hệ thống. Do đó, dù các em học rất 
chăm chỉ nhưng kết quả vẫn không cao. Vì học phần sau đã quên phần trước, 
không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Lại có 
nhiều học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi 
chép để lưu thông tin, hay kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Bởi vậy, rèn kuyện cho các em có thói quen và kĩ năng sử dụng thành thạo SĐTD trong 
quá trình dạy học sẽ giúp học sinh có được phương pháp học tốt, phát huy tính 
độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
 - Thứ hai, SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết 
quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu 
sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo 
ngôn ngữ của mình. Vì vậy sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích 
cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Việc học sinh trực tiếp vẽ SĐTD 
vừa lôi cuốn, hấp dẫn các em, đồng thời còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội 
họa, bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa” do chính các em tự làm ra, lại vừa 
phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong học tập, không rập 
khuôn một cách máy móc như khi lập các bảng biểu, sơ đồ, vì các em dễ dàng 
vẽ thêm các nhánh để phát triển ý tưởng riêng của mình. Vì thế, tạo một không 
khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho học sinh trong học tập. Đây cũng là một trong 
những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân 
thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đang triển khai thực hiện.
 - Thứ ba, SĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên 
tưởng (các nhánh). Do đó, chúng ta có thể vận dụng SĐTD vào tất cả các khâu 
trong quá trình dạy học. Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thức 
mới, hay khâu củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kiến 
thức sau mỗi chương, mỗi học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút. 
 - Thứ tư, SĐTD là một công cụ có tính khả thi cao. Ta có thể vận dụng 
được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay nói 
chung. Bởi vì ta có thể thiết kế SĐTD trên giấy, bìa, tờ lịch cũ, bảng phụ, 
bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu, tẩy hoặc cũng có thể thiết kế trên 
phần mềm Bản đồ tư duy (Mind Map). Với những trường đủ điều kiện về cơ sở 
vật chất như Máy chiếu Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, chúng ta có thể sử 
dụng phần mềm Mind Map để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng CNTT.
 Tóm lại, việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học sẽ giúp HS:
 1. Tăng sự hứng thú trong học tập. 2. Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em.
 3. Tiết kiệm nhiều thời gian.
 4. Nhìn thấy được bức tranh tổng thể.
 5. Ghi nhớ tốt hơn.
 6. Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em.
 2: Hạn chế và nguyên nhân hạn chế:
 2.1 Hạn chế: Tuy nhiên, hiện nay, việc đưa SĐTD vào ứng dụng trong 
quá trình dạy học đối với môn học Vật lý còn là vấn đề gặp không ít khó 
khăn, trở ngại đối với giáo viên, cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế các 
hoạt động dạy học với việc sử dụng SĐTD. 
 2.2 Nguyên nhân: Phần lớn HS chưa chú ý bài giảng nên tổng hợp kiến 
thức gặp khó khan.Ngoài ra nhiều em còn lười thu thập thông tin trong sách giáo 
khoa và các kênh thông tin khác nên về căn bản không có kiến thức để tổng hợp, 
phát triển. Số lượng các thầy cô sử dụng bản đồ tư duy chưa nhiều do tâm lý ngại 
sử dụng máy vi tính và các phần mềm soạn thảo, thiết kế bản đồ tư duy Mindmap.
 II: Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy:
 1. Biện pháp 1: Giáo viên sử dụng SĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học
 - Sử dụng SĐTD để hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập. 
 - Sử dụng SĐTD để dạy bài mới.
 - Sử dụng SĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi phần học, tiết học.
 - Sử dụng SĐTD để luyện tập củng cố.
 - Sử dụng SĐTD để dạy bài ôn tập, tổng kết 
 2 Biện pháp 2: Học sinh học tập độc lập, sử dụng SĐTD để hỗ trợ học 
tập, phát triển tư duy lôgic.
 3. Thực nghiệm sư phạm
 3.1 Mô tả cách thức thực hiện: 
 * Giáo viên sử dụng SĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học:
 - Sử dụng SĐTD để hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập: GV tiến hành khi hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, chuẩn bị bài mới nhằm 
rèn luyện tính tự giác, chuyên cần và chủ động trong học tập giúp tăng tính hiệu 
quả, sau khi kết thúc một bài học trên lớp. GV chiếu màn hình bài tập về 
nhà, định hướng cho học sinh phác thảo đề cương của bài “sẽ học” bằng SĐTD 
về những nội dung liên quan như :Tính chất ,ứng dụng 
 Ví dụ1: Sau khi dạy bài “Anh của vật Gương phẳng” ( Vật lý 7), tiết tiếp 
theo là bài “Gương cầu lồi” GV có thể hướng cho học sinh phác thảo đề cương 
của bài “sẽ học” bằng sơ đồ tư duy nội dung như sau:
 Ảnh: Sơ đồ hướng dẫn về nhà sau khi học bài 
 Ảnh của vật tạo bởi gương phẳng 
 - Sử dụng SĐTD để dạy bài mới:
 Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu 
học sinh vẽ SĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các 
từ liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện SĐTD. Qua SĐTD đó học sinh sẽ 
nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng. Ví dụ: Khi học bài “Gương cầu lồi” (Vật lý 7), đầu giờ giáo viên cho từ 
khoá “Gương cầu lồi” rồi yêu cầu học sinh vẽ SĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý 
cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ 
(nhánh con cấp 2, cấp 3 ), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên 
trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó 
giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất 
hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.
 Ảnh: SĐTD hình thành kiến thức bài gương cầu lồi
 - Sử dụng SĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi phần học, tiết học:
 Sau mỗi phần, mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ 
thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ SĐTD. 
Mỗi phần học, bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại 
thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một 
cách nhanh chóng, dễ dàng. Ví dụ 1: Sau khi học xong bài “Gương Cầu Lồi” Giáo viên sẽ hệ thống 
tổng kết lại kiến thức toàn bài bằng sơ đồ tư duy 
 Ví dụ 2: Khi học xong bài ” Định luật phản xạ ánh sáng” HS có thể tự 
tổng hợp các nội dung của bài học và tự trang trí sản phẩm của mình, khi đó các 
em mới thực sự nhớ lâu và sâu.
 Sơ đồ củng cố kiến thức bài Định luật phản xạ ánh sáng của em Nguyễn 
 Mai Lan lớp 7A1
 Ví dụ 2 : Khi học bài Nguồn âm Sơ đồ củng cố kiến thức của em Nguyễn Phương Uyên HS lớp 7A2
 - Sử dụng SĐTD để luyện tập, củng cố một chủ đề:
 Ví dụ khi học chủ đề : “Các tác dụng của dòng điện”
 Gv có thể để sơ đồ tư duy dạng mở để Hs tiếp tục phát triển theo ý tưởng 
của mình các tác dụng từ,tác dụng hóa học ,tác dụng sinh lý của dòng điện
 Sơ đồ củng cố kiến thức cho HS sau khi học chủ đề Tác dụng của dòng điện - Sử dụng sơ đồ tư duy để dạy bài ôn tập, tổng kết :
 Ví dụ: Khi dạy phần tổng kết phần Quang học, để củng cố những kiến 
thức đã học giáo viên tổ chức cho học sinh vẽ SĐTD để mỗi em có một tập 
SĐTD về chương I Quang học. Sau khi học sinh vẽ xong SĐTD rồi thảo luận để 
hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ SĐTD.
 Sơ đồ tổng kết chương quang học của tổ 1 lớp 7A2
 Sơ đồ tổng kết chương quang học của tổ 2 lớp 7A2
 + Học sinh học tập độc lập, sử dụng SĐTD để hỗ trợ học tập, phát 
triển tư duy logic. - Học sinh có thể sử dụng SĐTD để hỗ trợ việc tự học ở nhà: Tìm hiểu 
trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ SĐTD trên giấy, bìa 
hoặc để tư duy một vấn đề mới. Qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic, củng 
cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép.
 - Việc học sinh tự vẽ SĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo 
của học sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh, các em tự do 
chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím, ), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong ), 
các em tự “sáng tác” nên trên mỗi SĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày 
kiến thức của từng học sinh và SĐTD do các em tự thiết kế nên các em yêu quí, 
trân trọng “tác phẩm” của mình.
- Học sinh thông qua SĐTD sẽ tăng khả năng thuyết trình và nâng cao sự tự 
tin của bản thân trước đám đông Các bạn lớp 7B hoạt động nhóm Phần trình bày SĐTD sau khi học bài nguồn âm 
 của em Nguyễn Mai Lan lớp 7A1
 3.2 Kết quả đạt được
 Sau một thời gian ứng dụng SĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học 
môn Vật lý7 tôi nhận thấy bước đầu có những kết quả rất khả quan. Học sinh 
tiếp thu bài, nắm kiến thức chắc chắn hơn, khoa học hơn, nhanh hơn. Đa số các 
em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng SĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức 
môn học. Những học sinh trung bình đã biết dùng SĐTD để củng cố kiến thức 
bài học ở mức đơn giản. Điều quan trọng hơn là các em học tập tích cực hơn, sôi 
nổi hơn. Các em không còn tâm lý chán học, ngại học môn Vật lý 7 vì khô khan. 
Trái lại, tất cả rất hào hứng với việc học tập. Vì việc ứng dụng SĐTD không chỉ 
tạo tác động trực quan lôi cuốn các em, mà còn giúp các em ghi chép bài gọn 
gàng, khoa học hơn, nhanh hơn và nhẹ nhàng hơn nhiều so với cách ghi chép 
trước đây. 
 Không những thế, nếu giáo viên biết tổ chức tốt cho học sinh sử dụng 
SĐTD trong dạy học nhóm thì nó sẽ giúp các em phát huy được tính sáng tạo, tối đa hoá khả năng của mỗi em, đồng thời kết hợp sức mạnh của các cá nhân 
thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả. 
SĐTD tạo cho mỗi thành viên cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính 
mình một cách hoàn thiện hơn.
 Dưới đây là kết quả đạt được khi tôi áp dụng biện pháp ở lớp thử nghiệm là 
7A1 và 7A2,lớp đối chứng là 7A3 trước và sau khi áp dụng biện pháp sử dụng 
SĐTD.
 * VỀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN VẬT LÝ
Kết quả điều tra hứng thú học tập với môn Vật lý đầu năm học 2020-2021
 Lớp Thích Không thích Không biết
 7A1 22% 48% 30%
 7A2 18% 49% 33%
 7A3 20% 60% 20%
Kết quả điều tra hứng thú học tập với môn Vật lý cuối năm học 2020-2021
 Lớp Thích Không thích Không biết
 7A1 46% 37% 17%
 7A2 47% 30% 23%
 7A3 20% 63% 17%
 * VỀ KẾT QUẢ HỌC TẬP
Kết quả điều tra điểm khảo sát đầu năm môn Vật lý năm học 2020-2021
 Lớp Dưới 5 điểm Trên 5 điểm Điểm 9 - 10
 7A1 11% 86% 3%
 7A2 11% 86% 3%
 7A3 17% 83% 0%
Kết quả điều tra điểm khảo sát cuối năm môn Vật lý năm học 2020-2021
 Lớp Dưới 5 điểm Trên 5 điểm Điểm 9 - 10
 7A1 3% 88% 9%
 7A2 7% 85% 8%
 7A3 25% 75% 0%
 3.3 Điều chỉnh, bổ sung sau thực nghiệm
 - Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các 
nhánh con.
 - Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu 
hút sự chú ý của mắt, như vậy SĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn.
 - Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn. - Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ 
đồng thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ.
 - Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên 
dùng các từ, cụm từ một cách ngắn gọn.
 - Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần 
thiết góp phần làm rõ các ý, chủ đề.
 - Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, 
viết, tô màu...
 - Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài.
 - Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình. 
 Một số bài học kinh nghiệm
 + Đối với GV:
 - Khi giảng dạy môn Vật lí cần phải luôn luôn gắn liền kiến thức trên lớp 
với ứng dụng thực tiễn đời sống.
 - Nắm được tâm tư, nguyện vọng của học sinh nhằm tìm cách dẫn dắt các 
em tiến tới có hứng thú và yêu thích môn Vật lí.
 - Khi các em tạo ra sản phẩm khoa học thì giáo viên cần phải động viên, 
khen thưởng kịp thời nhằm giúp các em có động lực với môn học. Có thể tính 
vào điểm thường xuyên trên lớp cho học sinh để các em có hứng thú và động lực 
với công việc của mình.
 + Đối với HS:
 - HS sau khi học xong bất cứ bài học nào cũng nên tổng hợp lại những 
điều mình đã học được bằng SĐTD để nhớ kiến thức được lâu và sâu hơn.
 - HS nên lưu các bản vẽ SĐTD vào túi bao bì để có thể lấy ra ôn luyện khi cần. 
 Với những kết quả tích cực đã đạt được, tôi nhận thấy biện pháp này cần phải 
được nhân rộng ra toàn trường THCS Đồng Kỵ trong những năm học tiếp theo.
 4. Kết luận
 Tóm lại, với những ưu điểm của nó, SĐTD trở thành một công cụ gợi 
mở, kích thích quá trình tìm tòi kiến thức của học sinh.Việc sử dụng SĐTD 
trong quá trình dạy học giúp các em học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Cách học 
này còn phát triển được năng lực riêng của từng em không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết 
gì trên SĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó 
vào việc chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp 
hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào 
cuộc sống.
 SĐTD còn là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả trong hoạt động 
nhóm bởi nó tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể. Mỗi thành viên 
đều rèn luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học. 
Sử dụng SĐTD giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ 
ràng và hệ thống. Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn. Chỉ cần nhìn 
vào SĐTD, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội 
dung bài học.
 Việc vận dụng SĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy 
mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ 
thống, khoa học. Sử dụng SĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực 
khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình, có tính khả thi cao góp phần đổi mới 
PPDH, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS.
 5. Kiến nghị, đề xuất
 a) Đối với tổ chuyên môn:
 Về phía giáo viên, cần tích cực dạy học sử dụng SĐTD, sử dụng đồ dùng 
dạy học thường xuyên, nghiêm túc, triệt để, sáng tạo nhằm đưa chất lượng dạy 
học ngày một cao hơn. Có như vậy chất lượng giảng dạy phân môn Vật lý 7 nói 
riêng, môn Vật lý nói chung mới được nâng cao.
 Các thầy cô giáo cần tích cực hướng dẫn học sinh sử dụng SĐTD để học 
tập môn Vật lý đạt hiệu quả cao.
 Cùng nhau trao đổi chuyên môn, dự giờ học hỏi kinh nghiệm.
 b) Đối với lãnh đạo nhà trường:
 Tổ chức hội thảo chuyên đề cho giáo viên bộ môn Vật lý trong từng học 
kỳ, từng năm để giáo viên có cơ hội được học tập, trao đổi kinh nghiệm, bàn luận tìm ra phương pháp dạy học hiệu quả, góp phần tích cực vào việc nâng cao 
chất lượng giảng dạy môn Vật lý.
 Có kế hoạch tham mưu với cấp trên về chế độ đãi ngộ hợp lí đối với giáo 
viên có chất lượng cao, phương pháp dạy học tốt.
 Có kế hoạch bổ sung đồ dùng thiết bị dạy học, đặc biệt là đầu tư công nghệ 
thông tin để hỗ trợ cho giáo viên giảng dạy. PHẦN C: MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP
 1: Kết quả đạt được tại đơn vị
 Sau một thời gian ứng dụng SĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học 
Vật lý 7, tôi thấy bước đầu có những kết quả khả quan, học sinh tại trường 
THCS Đồng Kỳ đã có sự tiến bộ và yêu thíc môn học hào hứng chờ đón đến tiết 
Vật Lý hơn. Tôi đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng SĐTD trong 
hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Biết sử dụng sơ đồ tư duy để dạy bài mới, 
củng cố kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, phần. Học sinh hiểu bài 
nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng SĐTD 
để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học. Một số học sinh trung bình đã biết 
dùng SĐTD để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản. 
 Qua thực tiễn vận dụng giảng dạy, tôi thấy lớp thực nghiệm học sôi nổi 
hơn rất nhiều so với lớp đối chứng khi chưa áp dụng. Thống kê số liệu khảo sát 
chất lượng môn Vật Lý cho thấy. 
 Trước và sau khi áp dụng biện pháp:(Lớp thực nghiệm: 7A1, 7A2; Lớp 
đối chứng:7A3) 
 * VỀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN VẬT LÝ
Kết quả điều tra hứng thú học tập với môn Vật lý đầu năm học 2020-2021
 Lớp Thích Không thích Không biết
 7A1 22% 48% 30%
 7A2 18% 49% 33%
 7A3 20% 60% 20%
Kết quả điều tra hứng thú học tập với môn Vật lý cuối năm học 2020-2021
 Lớp Thích Không thích Không biết
 7A1 46% 37% 17%
 7A2 47% 30% 23%
 7A3 20% 63% 17%
 * VỀ KẾT QUẢ HỌC TẬP
Kết quả điều tra điểm khảo sát đầu năm môn Vật lý năm học 2020-2021
 Lớp Dưới 5 điểm Trên 5 điểm Điểm 9 - 10
 7A1 11% 86% 3%
 7A2 11% 86% 3%
 7A3 17% 83% 0%
Kết quả điều tra điểm khảo sát cuối năm môn Vật lý năm học 2020-2021
 Lớp Dưới 5 điểm Trên 5 điểm Điểm 9 - 10
 7A1 3% 88% 9%
 7A2 7% 85% 8%
 7A3 25% 75% 0% *Một số hình ảnh giáo viên và học sinh trong năm thử nghiệm:
 SĐTD hình thành kiến thức bài gương cầu lồi
 Phần trình bày SĐTD sau khi học bài nguồn âm 
 của em Nguyễn Mai Lan lớp 7A1

File đính kèm:

  • docxsu_dung_so_do_tu_duy_trong_qua_trinh_day_hoc_mon_vat_li.docx
Bài giảng liên quan