Sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học môn Vật lí
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học môn Vật lí, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ
MỤC LỤC MỤC LỤC...............................................................................................trang 1 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT....................................................trang 2 PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................trang 3 PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ........................................................trang 3 I. Thực trạng công tác dạy ...............................................................trang 3 1. Ưu điểm 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 2.1: Giáo viên 2.2: Học Sinh II: Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy ................................trang 6 1: Biện pháp 1 ...................................................................................trang 6 2: Biện pháp 2 ....................................................................................trang 6 3. Thực nghiệm sư phạm ............................................................ trang 7-14 3.1 Mô tả cách thực nghiệm ......................................................................... 3.2 Kết quả đạt được...................................................................................... 3.3 Điều chỉnh ,bổ sung sau thực nghiệm ........................................trang17 4. Kết luận .....................................................................................trang 18 5. Kiến nghị ....................................................................................trang 18 5.1 Đối với tổ,nhóm chuyên môn.....................................................trang 19 5.2 Đối với lãnh đạo nhà trường ......................................................trang 19 PHẦN C: MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP.......trang 20 PHẦN D: CAM KẾT ...........................................................................trang 24 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT SĐTD: Sơ đồ tư duy PPDH: Phương pháp dạy học CNTT: Công nghệ thông tin HS: Học sinh GV: Giáo viên THCS: Trung học cơ sở PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ Dạy học nói chung, dạy Vật lý nói riêng, điều quan trọng nhất là làm thức dậy được tình yêu, niềm say mê đối với môn học của mình . Hiện nay, tri thức trong các môn học ở hầu hết các cấp học đang trở lên quá tải với cả giáo viên và học sinh, điều này đã tạo ra hàng loạt những áp lực và nghịch lý: Thời gian có hạn mà kiến thức thì vô cùng; môn học thì quá tải mà sức học của học sinh có hạn. Những nghịch lý trên là những rào cản làm người dạy và người học đều thấy nản lòng. Vậy làm thế nào để có thể hạn chế được các rào cản trên? Trong giờ giảng Vật lý, vấn đề không chỉ là thí nghiệm,giải thích của người thầy mà còn đòi hỏi phương pháp dạy học của người thầy. Phương pháp dạy học là một trong những yêu cầu quan trọng đối với sự thành công trong giờ giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh. Sơ đồ tư duy là một trong những phương pháp dạy học tương đối hiệu quả. Phương pháp dạy học bằng Sơ đồ tư duy không chỉ giải quyết được vấn đề quá tải đối với kiến thức, đơn giản hóa kiến thức của môn học mà nó còn giúp học sinh có khả năng nhớ kiến thức lâu hơn, tránh sự nhàm chán đối với môn học, đặc biệt là bộ môn Vật lý. Vậy thế nào là phương pháp dạy học bằng Sơ đồ tư duy? Cần sử dụng Sơ đồ tư duy như thế nào để nâng cao chất lượng trong các giờ học Vật lý 7? Đó là những vấn đề tôi muốn cùng được chia sẻ với các đồng nghiệp trong báo cáo kinh nghiệm này. PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác dạy và học môn Vật lý tại trường THCS Đồng Kỳ 1.1 Ưu điểm: - Cơ sở vật chất: Nhà trường trang bị đầy đủ phương tiện dạy học ở các lớp học đều có: Tivi màn hình to có kết nối intrnet,có phòng thực hành thí nghiệm riêng biệt - Ban giám hiệu,đồng nghiệp: Tạo điều kiện, thường xuyên dự giờ, góp ý. - Học sinh: Tuy sống trong làng quê còn nhiều khó khăn các em chưa chăm nhưng lại có khá nhiều em thông minh hợp tác và hứng thú trong học tập. Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map) là PPDH chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức... bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy logic, tích cực. Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, các em có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi em có thể vẽ một kiểu khác nhau, dùng những màu sắc, hình ảnh, chữ viết và các cụm từ diễn đạt khác nhau... Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể “thể hiện” nó dưới dạng Sơ đồ tư duy theo cách riêng của mình. Do đó, việc lập Sơ đồ tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người. Trong những năm qua, hầu hết đội ngũ giáo viên THCS trong cả nước nói chung, ở các trường trong tỉnh, trong huyện đã được tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới PPDH do Sở, Phòng GD&ĐT tổ chức, nội dung triển khai một số phương pháp, kĩ thuật dạy học mới. Trong đó có việc sử dụng Sơ đồ tư duy (SĐTD). Có thể khẳng định rằng đây là một trong những PPDH rất quan trọng, vừa rất mới, rất hiện đại, lại rất khả thi, đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Thứ nhất, dạy học bằng SĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả. Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ đơn thuần là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc theo thói quen học vẹt, các em chưa có ý thức hoặc chưa biết rèn luyện kỹ năng tư duy. Học sinh chỉ học bài nào biết bài ấy, nắm kiến thức một cách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích hợp, liên hệ kiến thức với nhau giữa các bài học, giữa các phân môn, vì vậy mà chưa phát triển được tư duy lô-gic và tư duy hệ thống. Do đó, dù các em học rất chăm chỉ nhưng kết quả vẫn không cao. Vì học phần sau đã quên phần trước, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Lại có nhiều học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, hay kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Bởi vậy, rèn kuyện cho các em có thói quen và kĩ năng sử dụng thành thạo SĐTD trong quá trình dạy học sẽ giúp học sinh có được phương pháp học tốt, phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. - Thứ hai, SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Việc học sinh trực tiếp vẽ SĐTD vừa lôi cuốn, hấp dẫn các em, đồng thời còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa” do chính các em tự làm ra, lại vừa phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong học tập, không rập khuôn một cách máy móc như khi lập các bảng biểu, sơ đồ, vì các em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ý tưởng riêng của mình. Vì thế, tạo một không khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho học sinh trong học tập. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đang triển khai thực hiện. - Thứ ba, SĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh). Do đó, chúng ta có thể vận dụng SĐTD vào tất cả các khâu trong quá trình dạy học. Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thức mới, hay khâu củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút. - Thứ tư, SĐTD là một công cụ có tính khả thi cao. Ta có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay nói chung. Bởi vì ta có thể thiết kế SĐTD trên giấy, bìa, tờ lịch cũ, bảng phụ, bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu, tẩy hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm Bản đồ tư duy (Mind Map). Với những trường đủ điều kiện về cơ sở vật chất như Máy chiếu Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, chúng ta có thể sử dụng phần mềm Mind Map để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng CNTT. Tóm lại, việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học sẽ giúp HS: 1. Tăng sự hứng thú trong học tập. 2. Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em. 3. Tiết kiệm nhiều thời gian. 4. Nhìn thấy được bức tranh tổng thể. 5. Ghi nhớ tốt hơn. 6. Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em. 2: Hạn chế và nguyên nhân hạn chế: 2.1 Hạn chế: Tuy nhiên, hiện nay, việc đưa SĐTD vào ứng dụng trong quá trình dạy học đối với môn học Vật lý còn là vấn đề gặp không ít khó khăn, trở ngại đối với giáo viên, cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế các hoạt động dạy học với việc sử dụng SĐTD. 2.2 Nguyên nhân: Phần lớn HS chưa chú ý bài giảng nên tổng hợp kiến thức gặp khó khan.Ngoài ra nhiều em còn lười thu thập thông tin trong sách giáo khoa và các kênh thông tin khác nên về căn bản không có kiến thức để tổng hợp, phát triển. Số lượng các thầy cô sử dụng bản đồ tư duy chưa nhiều do tâm lý ngại sử dụng máy vi tính và các phần mềm soạn thảo, thiết kế bản đồ tư duy Mindmap. II: Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy: 1. Biện pháp 1: Giáo viên sử dụng SĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học - Sử dụng SĐTD để hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập. - Sử dụng SĐTD để dạy bài mới. - Sử dụng SĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi phần học, tiết học. - Sử dụng SĐTD để luyện tập củng cố. - Sử dụng SĐTD để dạy bài ôn tập, tổng kết 2 Biện pháp 2: Học sinh học tập độc lập, sử dụng SĐTD để hỗ trợ học tập, phát triển tư duy lôgic. 3. Thực nghiệm sư phạm 3.1 Mô tả cách thức thực hiện: * Giáo viên sử dụng SĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học: - Sử dụng SĐTD để hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập: GV tiến hành khi hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, chuẩn bị bài mới nhằm rèn luyện tính tự giác, chuyên cần và chủ động trong học tập giúp tăng tính hiệu quả, sau khi kết thúc một bài học trên lớp. GV chiếu màn hình bài tập về nhà, định hướng cho học sinh phác thảo đề cương của bài “sẽ học” bằng SĐTD về những nội dung liên quan như :Tính chất ,ứng dụng Ví dụ1: Sau khi dạy bài “Anh của vật Gương phẳng” ( Vật lý 7), tiết tiếp theo là bài “Gương cầu lồi” GV có thể hướng cho học sinh phác thảo đề cương của bài “sẽ học” bằng sơ đồ tư duy nội dung như sau: Ảnh: Sơ đồ hướng dẫn về nhà sau khi học bài Ảnh của vật tạo bởi gương phẳng - Sử dụng SĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ SĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các từ liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện SĐTD. Qua SĐTD đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng. Ví dụ: Khi học bài “Gương cầu lồi” (Vật lý 7), đầu giờ giáo viên cho từ khoá “Gương cầu lồi” rồi yêu cầu học sinh vẽ SĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ (nhánh con cấp 2, cấp 3 ), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh. Ảnh: SĐTD hình thành kiến thức bài gương cầu lồi - Sử dụng SĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi phần học, tiết học: Sau mỗi phần, mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ SĐTD. Mỗi phần học, bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng. Ví dụ 1: Sau khi học xong bài “Gương Cầu Lồi” Giáo viên sẽ hệ thống tổng kết lại kiến thức toàn bài bằng sơ đồ tư duy Ví dụ 2: Khi học xong bài ” Định luật phản xạ ánh sáng” HS có thể tự tổng hợp các nội dung của bài học và tự trang trí sản phẩm của mình, khi đó các em mới thực sự nhớ lâu và sâu. Sơ đồ củng cố kiến thức bài Định luật phản xạ ánh sáng của em Nguyễn Mai Lan lớp 7A1 Ví dụ 2 : Khi học bài Nguồn âm Sơ đồ củng cố kiến thức của em Nguyễn Phương Uyên HS lớp 7A2 - Sử dụng SĐTD để luyện tập, củng cố một chủ đề: Ví dụ khi học chủ đề : “Các tác dụng của dòng điện” Gv có thể để sơ đồ tư duy dạng mở để Hs tiếp tục phát triển theo ý tưởng của mình các tác dụng từ,tác dụng hóa học ,tác dụng sinh lý của dòng điện Sơ đồ củng cố kiến thức cho HS sau khi học chủ đề Tác dụng của dòng điện - Sử dụng sơ đồ tư duy để dạy bài ôn tập, tổng kết : Ví dụ: Khi dạy phần tổng kết phần Quang học, để củng cố những kiến thức đã học giáo viên tổ chức cho học sinh vẽ SĐTD để mỗi em có một tập SĐTD về chương I Quang học. Sau khi học sinh vẽ xong SĐTD rồi thảo luận để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ SĐTD. Sơ đồ tổng kết chương quang học của tổ 1 lớp 7A2 Sơ đồ tổng kết chương quang học của tổ 2 lớp 7A2 + Học sinh học tập độc lập, sử dụng SĐTD để hỗ trợ học tập, phát triển tư duy logic. - Học sinh có thể sử dụng SĐTD để hỗ trợ việc tự học ở nhà: Tìm hiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ SĐTD trên giấy, bìa hoặc để tư duy một vấn đề mới. Qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic, củng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép. - Việc học sinh tự vẽ SĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím, ), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong ), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi SĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và SĐTD do các em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình. - Học sinh thông qua SĐTD sẽ tăng khả năng thuyết trình và nâng cao sự tự tin của bản thân trước đám đông Các bạn lớp 7B hoạt động nhóm Phần trình bày SĐTD sau khi học bài nguồn âm của em Nguyễn Mai Lan lớp 7A1 3.2 Kết quả đạt được Sau một thời gian ứng dụng SĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lý7 tôi nhận thấy bước đầu có những kết quả rất khả quan. Học sinh tiếp thu bài, nắm kiến thức chắc chắn hơn, khoa học hơn, nhanh hơn. Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng SĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học. Những học sinh trung bình đã biết dùng SĐTD để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản. Điều quan trọng hơn là các em học tập tích cực hơn, sôi nổi hơn. Các em không còn tâm lý chán học, ngại học môn Vật lý 7 vì khô khan. Trái lại, tất cả rất hào hứng với việc học tập. Vì việc ứng dụng SĐTD không chỉ tạo tác động trực quan lôi cuốn các em, mà còn giúp các em ghi chép bài gọn gàng, khoa học hơn, nhanh hơn và nhẹ nhàng hơn nhiều so với cách ghi chép trước đây. Không những thế, nếu giáo viên biết tổ chức tốt cho học sinh sử dụng SĐTD trong dạy học nhóm thì nó sẽ giúp các em phát huy được tính sáng tạo, tối đa hoá khả năng của mỗi em, đồng thời kết hợp sức mạnh của các cá nhân thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả. SĐTD tạo cho mỗi thành viên cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính mình một cách hoàn thiện hơn. Dưới đây là kết quả đạt được khi tôi áp dụng biện pháp ở lớp thử nghiệm là 7A1 và 7A2,lớp đối chứng là 7A3 trước và sau khi áp dụng biện pháp sử dụng SĐTD. * VỀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN VẬT LÝ Kết quả điều tra hứng thú học tập với môn Vật lý đầu năm học 2020-2021 Lớp Thích Không thích Không biết 7A1 22% 48% 30% 7A2 18% 49% 33% 7A3 20% 60% 20% Kết quả điều tra hứng thú học tập với môn Vật lý cuối năm học 2020-2021 Lớp Thích Không thích Không biết 7A1 46% 37% 17% 7A2 47% 30% 23% 7A3 20% 63% 17% * VỀ KẾT QUẢ HỌC TẬP Kết quả điều tra điểm khảo sát đầu năm môn Vật lý năm học 2020-2021 Lớp Dưới 5 điểm Trên 5 điểm Điểm 9 - 10 7A1 11% 86% 3% 7A2 11% 86% 3% 7A3 17% 83% 0% Kết quả điều tra điểm khảo sát cuối năm môn Vật lý năm học 2020-2021 Lớp Dưới 5 điểm Trên 5 điểm Điểm 9 - 10 7A1 3% 88% 9% 7A2 7% 85% 8% 7A3 25% 75% 0% 3.3 Điều chỉnh, bổ sung sau thực nghiệm - Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các nhánh con. - Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu hút sự chú ý của mắt, như vậy SĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn. - Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn. - Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ đồng thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ. - Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên dùng các từ, cụm từ một cách ngắn gọn. - Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiết góp phần làm rõ các ý, chủ đề. - Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết, tô màu... - Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài. - Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình. Một số bài học kinh nghiệm + Đối với GV: - Khi giảng dạy môn Vật lí cần phải luôn luôn gắn liền kiến thức trên lớp với ứng dụng thực tiễn đời sống. - Nắm được tâm tư, nguyện vọng của học sinh nhằm tìm cách dẫn dắt các em tiến tới có hứng thú và yêu thích môn Vật lí. - Khi các em tạo ra sản phẩm khoa học thì giáo viên cần phải động viên, khen thưởng kịp thời nhằm giúp các em có động lực với môn học. Có thể tính vào điểm thường xuyên trên lớp cho học sinh để các em có hứng thú và động lực với công việc của mình. + Đối với HS: - HS sau khi học xong bất cứ bài học nào cũng nên tổng hợp lại những điều mình đã học được bằng SĐTD để nhớ kiến thức được lâu và sâu hơn. - HS nên lưu các bản vẽ SĐTD vào túi bao bì để có thể lấy ra ôn luyện khi cần. Với những kết quả tích cực đã đạt được, tôi nhận thấy biện pháp này cần phải được nhân rộng ra toàn trường THCS Đồng Kỵ trong những năm học tiếp theo. 4. Kết luận Tóm lại, với những ưu điểm của nó, SĐTD trở thành một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm tòi kiến thức của học sinh.Việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học giúp các em học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng em không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên SĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó vào việc chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống. SĐTD còn là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả trong hoạt động nhóm bởi nó tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể. Mỗi thành viên đều rèn luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học. Sử dụng SĐTD giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống. Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn. Chỉ cần nhìn vào SĐTD, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học. Việc vận dụng SĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng SĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình, có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS. 5. Kiến nghị, đề xuất a) Đối với tổ chuyên môn: Về phía giáo viên, cần tích cực dạy học sử dụng SĐTD, sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên, nghiêm túc, triệt để, sáng tạo nhằm đưa chất lượng dạy học ngày một cao hơn. Có như vậy chất lượng giảng dạy phân môn Vật lý 7 nói riêng, môn Vật lý nói chung mới được nâng cao. Các thầy cô giáo cần tích cực hướng dẫn học sinh sử dụng SĐTD để học tập môn Vật lý đạt hiệu quả cao. Cùng nhau trao đổi chuyên môn, dự giờ học hỏi kinh nghiệm. b) Đối với lãnh đạo nhà trường: Tổ chức hội thảo chuyên đề cho giáo viên bộ môn Vật lý trong từng học kỳ, từng năm để giáo viên có cơ hội được học tập, trao đổi kinh nghiệm, bàn luận tìm ra phương pháp dạy học hiệu quả, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn Vật lý. Có kế hoạch tham mưu với cấp trên về chế độ đãi ngộ hợp lí đối với giáo viên có chất lượng cao, phương pháp dạy học tốt. Có kế hoạch bổ sung đồ dùng thiết bị dạy học, đặc biệt là đầu tư công nghệ thông tin để hỗ trợ cho giáo viên giảng dạy. PHẦN C: MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP 1: Kết quả đạt được tại đơn vị Sau một thời gian ứng dụng SĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học Vật lý 7, tôi thấy bước đầu có những kết quả khả quan, học sinh tại trường THCS Đồng Kỳ đã có sự tiến bộ và yêu thíc môn học hào hứng chờ đón đến tiết Vật Lý hơn. Tôi đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng SĐTD trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Biết sử dụng sơ đồ tư duy để dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, phần. Học sinh hiểu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng SĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học. Một số học sinh trung bình đã biết dùng SĐTD để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản. Qua thực tiễn vận dụng giảng dạy, tôi thấy lớp thực nghiệm học sôi nổi hơn rất nhiều so với lớp đối chứng khi chưa áp dụng. Thống kê số liệu khảo sát chất lượng môn Vật Lý cho thấy. Trước và sau khi áp dụng biện pháp:(Lớp thực nghiệm: 7A1, 7A2; Lớp đối chứng:7A3) * VỀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN VẬT LÝ Kết quả điều tra hứng thú học tập với môn Vật lý đầu năm học 2020-2021 Lớp Thích Không thích Không biết 7A1 22% 48% 30% 7A2 18% 49% 33% 7A3 20% 60% 20% Kết quả điều tra hứng thú học tập với môn Vật lý cuối năm học 2020-2021 Lớp Thích Không thích Không biết 7A1 46% 37% 17% 7A2 47% 30% 23% 7A3 20% 63% 17% * VỀ KẾT QUẢ HỌC TẬP Kết quả điều tra điểm khảo sát đầu năm môn Vật lý năm học 2020-2021 Lớp Dưới 5 điểm Trên 5 điểm Điểm 9 - 10 7A1 11% 86% 3% 7A2 11% 86% 3% 7A3 17% 83% 0% Kết quả điều tra điểm khảo sát cuối năm môn Vật lý năm học 2020-2021 Lớp Dưới 5 điểm Trên 5 điểm Điểm 9 - 10 7A1 3% 88% 9% 7A2 7% 85% 8% 7A3 25% 75% 0% *Một số hình ảnh giáo viên và học sinh trong năm thử nghiệm: SĐTD hình thành kiến thức bài gương cầu lồi Phần trình bày SĐTD sau khi học bài nguồn âm của em Nguyễn Mai Lan lớp 7A1
File đính kèm:
su_dung_so_do_tu_duy_trong_qua_trinh_day_hoc_mon_vat_li.docx



